Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Nguyễn Việt Long

Bình Luận của Nguyễn Việt Long

Chi tiết "lãnh tụ cực tả của QDĐ Lão Trung Kha" viết sai tên. Chả có ai là Lão Trung Kha cả, đó là Liêu Trọng Khải.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Tôi không rành về Lào cho lắm, nên không hiểu chế độ hiện nay như thế nào? Nhiều khi thấy thế giới phân loại các quốc gia cộng sản gồm 5 nước thì có Lào. Nhưng đọc một văn bản của Cộng đồng Châu Âu xếp loại 4 nước cộng sản trên thế giới thì không có Lào. Nghe nói, họ còn bảo VN sang mà đưa tượng ông cụ về đi.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
nguyen thi cam tu

Bình Luận của nguyen thi cam tu

cac ban oi cho minh y kien nhe. vay tom lai ho quy ly duoc xem la anh hung hay gian hung
Thơ
Bàn chút ít về bản dịch Tỳ bà hành

1.    Về bản dịch được coi là tài hoa nhất hiện đang lưu hành, nhiều tài liệu cho là của Phan Huy Vịnh, có thời cho là của Phan Huy Ích, ngày nay thì nhiều học giả lại cho là của Phan Huy Thực. Lý lẽ của các vị ấy không rõ thế nào, nhưng chỉ biết rằng Phan Huy Thực là con của Phan Huy Ích, còn Phan Huy Vịnh là con của Phan Huy Thực. Thôi thì của ông Phan Huy nào cũng là họ Phan Huy cả.

2.    Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị thì làm theo thể loại “cổ phong”, đại khái như là thể thơ tự do, sau này thời Tống lại phá cách một lần nữa, nâng lên nghệ thuật gọi là “từ”. Còn bản dịch của họ Phan Huy thì thể song thất lục bát. Thể thơ song thất lục bát, được coi là thể thơ dân tộc, như là lục bát. Cho nên, dù cho bản dịch của họ Phan Huy có tài hoa và sát với bản gốc, tôi vẫn không thấy ưng. Trước kia, (và cả bây giờ) hầu như người đi học lẫn người dạy học đều ca tụng bản dịch này, cũng như bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, nhưng tôi thấy hình như các tác giả của Việt Nam sáng tạo lại thì đúng hơn.

2     3. Có người cho rằng, bài thơ gốc đã có bản dịch ấy được cho là hay rồi, thì coi như đã “xong chuyện”. Cá nhân tôi cho rằng, vẫn cần dịch lại các tác phẩm cổ điển. Bởi vì thời nào thì có ngôn từ của thời đó. Những từ ngữ thời họ Phan Huy là ngôn từ quen thuộc, thì đến nay lại là không thể hiểu nổi, hoặc rất khó hiểu. Chả lẽ lại dịch lại bản dịch của các cụ mới hiểu nổi chăng. Đây là bài thơ dài, chỉ lấy 8 câu đầu để khảo sát, sẽ thấy vấn đề ngay.

Xét về nghĩa, 3 câu đầu của bản dịch tạm ổn:

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách

Quạnh hơi thu , lau lách đìu hiu

Người xuống ngựa, khách dừng chèo

Nói “tạm ổn” thôi, vì từ “đưa khách” ngày nay không giống như “tiễn khách”. Còn câu thứ 3, cho thấy người đi tiễn đi ngựa, còn khách thì đi thuyền, dừng chèo tức là đang hành tiến thì dừng, khác với câu nguyên tác “khách tại thuyền”, tức là chủ “há mã”, mới chỉ xuống ngựa, còn khách thì mới bước lên thuyền. Con thuyền ấy chắc hẳn là đang đậu ở bến, chả có “dừng chèo” gì cả.

Nói đến câu thứ tư “Chén quỳnh mong cạn, nhớ chiều trúc ty” thì hoàn toàn u tờ mít. Có lẽ chỉ có các bạn thông thái, học văn học sử Trung Quốc mới hiểu nổi. “Chén quỳnh” là gì? “Chiều trúc ty” là gì? Nguyên tác “Cử tửu dục ẩm vô quản huyền”, nghĩa giải ra là “Nâng chén rượu định uống trong cảnh không có tiếng đàn sáo” mà dịch thành “Chén quỳnh mong cạn nhớ chiều trúc ty” thì người xưa hiểu ngay, khoái lắm, song người ngày nay đố hiểu nổi.

Bốn câu sau nguyên tác là

“Túy bất thành hoan, thảm tương biệt

Biệt thời mang mang giang tẩm nguyệt

Hốt văn thủy thượng tỳ bà thanh

Chủ nhân vong qui, khách bất phát”

Bản dịch họ Phan Huy:

“Say những luống ngại khi chia rẽ

Nước mênh mông đượm vẻ gương trong

Đàn ai nghe vẳng bên sông

Chủ khuây khỏa lại, khách dùng dằng xuôi”

Thì lại được 3 câu sau, còn câu đầu thì hơi gượng ép.

Câu “biệt thời mang mang giang tẩm nguyệt” dịch thành “Nước mênh mông đượm vẻ gương trong” thì hay lắm. “Chủ nhân vong quy, khách bất phát” mà thành “Chủ khuây khỏa lại, khách dùng dằng xuôi” thì cũng chỉ được thôi.

Nói lại về câu thứ 5 “Túy bất thành hoan, thảm tương biệt” mà thành “Say những luống ngại khi chia rẽ” thì gò gẫm, bây giờ khó mà hiểu ngay được, nếu không phải … dịch lại một lần nữa. Say không thành cuộc vui, mà buồn ly biệt lại đến rồi. Như thế cơ. Chữ “ngại” trong bản dịch nhẹ quá, và nghĩa hơi khác quá. Dĩ nhiên là với người bây giờ nhé, chứ không kể thời các ông Phan Huy…

2        4. Liều dịch lại 8 câu đầu như sau:

Nguyên tác:

“Tầm dương giang đầu dạ tống khách

Phong diệp dịch hoa thu sắt sắt

Chủ nhân há mã khách tại thuyền

Cử tửu dục ẩm vô quản huyền

Túy bất thành hoan, thảm tương biệt

Biệt thời mang mang giang tẩm nguyệt

Hốt văn thủy thượng tỳ bà thanh

Chủ nhân vong qui, khách bất phát…”

Thực ra, cái âm hưởng Hán Việt khi đọc lên, cứ trúc trắc như là bước chân ngập ngừng của những kẻ tiễn nhau. Có những chỗ ngang phè. Dịch ra trơn tru quá, e rằng chẳng phải tinh thần nguyên tác chăng.

Tôi thử dịch lại theo quan niệm của tôi:

“Tầm Dương bến đêm khuya tiễn khách

Hoa lá lạnh hơi thu se sắt

Chủ nhân xuống ngựa khách lên thuyền

Muốn uống từ giã, uống chẳng đành

Vui đâu say, giờ buồn ly biệt

Sông mênh mông trăng lồng nước biếc

Tiếng tỳ bà xa bỗng vang lên

Chủ không về nổi, khách dùng dắng…”

5.    Theo tôi, trong bản dịch Tỳ bà hành, họ Phan Huy dịch rất tài những chỗ tả cảnh, ngoại cảnh, còn những đoạn nội tâm thì rất dở. Hãy thử lấy ví dụ 8 câu đầu cũng thấy điều đó.

6.6. Việc dịch thơ cổ Trung Hoa ra thể song thất lục bát có thể liên quan đến tập quán hát nói, ngâm thơ trước đây. Ca trù là sinh hoạt văn hóa của tầng lớp trung lưu, thường dùng ca từ do các nhà Nho đặt ra. Và, thơ cổ Trung Hoa là một trong những “nguồn” mà các nhà thơ khai thác, đặt lời. Có lẽ, các nhà Nho Việt Nam dịch thơ cổ Trung Quốc không phải là dịch để xuất bản, nhằm vào độc giả đọc thơ, mà thực ra nhằm vào “thị trường” hát nói, cho các nghệ nhân ca trù hát. Cho nên, họ đã dịch ra thể song thất lục bát, một thể thơ dân tộc, tiện cho hát ca trù… Do vậy, các nhà thơ thời đại ngày nay không việc gì phải sợ khi dịch lại thơ cổ Trung Hoa…

 

Cao Xuyên Gửi lúc : (04/05/2014 | 11:54:00)
Xin góp thêm một bản dịch mới của Cao Xuyên

Tỳ Bà Hành
Nguyên tác: Bạch cư Dị
Bản dịch : Cao Xuyên


Đêm đưa tiễn khách bến Tầm dương
Se sắt hơi thu lau lách buồn
Kẻ đứng mạn thuyền, người xuống ngựa
Sáo đàn không! Chén rót đưa suông…

Phút sắp chia ly rượu ngấm sầu
Rời tay, sông lạnh tắm trăng thâu.
Tỳ bà đâu vẳng trên sông nước?
Khách bỗng buông chèo, chủ buộc câu.

Thầm hỏi ai đàn theo đến nơi
Đàn ai ngưng bặt, chẳng trao lời!
Men thuyền ghé cạnh xin ra mắt
Rượu rót đèn chong – tiệc sẵn mời.


Muôn thỉnh ngàn cầu mới bước ra
Đàn che nửa mặt ấp e hoa.
Tơ so, trục vặn buông dăm tiếng
Khúc dở dang, tình đã thiết tha.


Dây dây, tiếng tiếng đẫm ai hoài
Tả hết oan hờn trãi bấy nay.
Mặt cúi, tay đàn xao sóng nhạc
Trút niềm tâm sự, nỗi riêng tây.

Nắn nót tơ cung điệu bổng trầm
Khúc Nghê thường dứt,Lục yêu ngân
Sợi to- ào ạt cơn mưa xối
Sợi nhỏ- lơi êm giọng thỉ thầm.

Ào ạt, lơi êm kết nối nhau
Rộn ràng mâm ngọc tiếng rơi châu
Trong hoa ríu rít oanh ăn nói
Róc rách lưng đèo suối đổ mau.

Bỗng dứt đường tơ, suối tắt ngang
Đường tơ bỗng dứt – lặng cung đàn.
Thoáng giây òa vỡ trời u hận
Đàn lặng…cho lòng lên tiếng vang…

Lại bình bạc vỡ nước trào tuôn
Lại vó câu bay loạn giáo gươm.
Bài hết, mặt đàn lia một ngón
Bốn dây xé lụa tiếng kêu thương!

Lặng lẻ tây đông mấy bóng thuyền
Dòng thu sáng rỡ một dòng trăng.
Trầm ngâm cài móng, thu đàn lại
Khép nép lần tay sửa áo khăn.

Thỏ thẻ:-“ Tôi xưa gái Đế kinh
Hà mô quê cũ mái gia đình,
Năm mười ba tuổi làu cung bậc
Bộ nhất giáo phường góp chút danh.


Trổ ngón- tài hoa lắm kẻ nhường,
Điểm trang- ăn đứt ả Thu nương.
Ngũ lăng trai trẻ tranh nhau thưởng
Lụa gấm nào cân mỗi khúc chương!

Lược rơi, trâm gãy gõ theo đàn
Áo lụa quần là rượu ố chan.
Năm lại năm qua chơi thỏa thích
Xuân tàn thu tạ gió theo trăng.

Rồi em ra lính, dì qua đời
Sớm nở khuya tàn, hương sắc ơi!
Cổng trước im lìm xe ngựa vắng
Tuổi chiều nương kẻ khách thương thôi!

Khách thương theo lợi mãi xa nhà,
Tháng trước Phù lương buôn chuyến trà.
Bóng lẻ, thuyền côi neo bến quạnh
Quanh mình nước thẳm với trăng xa!


Có đêm chạnh tưởng thưở thanh xuân
Lệ chảy tràn mơ hoen má hồng!...”
Lắng tiếng tì bà đau buốt ruột,
Càng đau nghe kể bước gian truân.

-“ Góc bể chân trời kiếp gió đưa
Tri âm nào kể phải quen xưa.
Ta từ năm ngoái xa Kinh khuyết
Đất trích Tầm dương bệnh mới vừa…

Tầm dương đất trích nẻo đường cùng
Buồn tẻ quanh năm, đàn địch không!
Trọ mé sông Bồn nơi ẩm thấp
Lau vàng, tre cỗi bủa chung quanh.

Sớm lại, chiều qua nghe thấy chi?
Quyên kêu rỏ máu, vượn lâm li
Có xuân hoa thắm, thu trăng tỏ
Mình chuốt mình say cũng lắm khi!...


Đành rằng có sáo nội, ca rừng
Trúc trắc khó nghe lòng dửng dưng.
Thưởng khúc tì bà đêm hạnh ngộ
Nàng ơi! Ta ngỡ nhạc tiên cung.

Nán lại, xin thêm một bản đàn
Phổ Tì bà khúc ta trao nàng…”
Cảm lời (Có vẻ như do dự)
Tơ lại rung, tình ý hoang mang.

Khác trước. Ô hay!Điệu não nùng
Bỗng không nhòe lệ tối tao phùng.
Ai dài cơn lệ hơn ai nhỉ?
Tư mã đầm đìa vạt áo xanh!
Trần Hải Yến Gửi lúc : (18/09/2013 | 09:48:00)
Những câu thơ dịch thử của anh, đọc lên có một cảm giác rất mới lạ. Lúc nào có thời gian, anh "dịch thử" toàn bộ TỲ BÀ HÀNH có được không ạ?
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : eu33ed
Bài viết khác