Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Nguyễn Việt Long

Bình Luận của Nguyễn Việt Long

Chi tiết "lãnh tụ cực tả của QDĐ Lão Trung Kha" viết sai tên. Chả có ai là Lão Trung Kha cả, đó là Liêu Trọng Khải.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Tôi không rành về Lào cho lắm, nên không hiểu chế độ hiện nay như thế nào? Nhiều khi thấy thế giới phân loại các quốc gia cộng sản gồm 5 nước thì có Lào. Nhưng đọc một văn bản của Cộng đồng Châu Âu xếp loại 4 nước cộng sản trên thế giới thì không có Lào. Nghe nói, họ còn bảo VN sang mà đưa tượng ông cụ về đi.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
nguyen thi cam tu

Bình Luận của nguyen thi cam tu

cac ban oi cho minh y kien nhe. vay tom lai ho quy ly duoc xem la anh hung hay gian hung
Thơ
“Phù dung” trong Chinh phụ ngâm

1.     Toàn bộ tác phẩm “Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn, với bản dịch của Đoàn Thị Điểm đã rất nổi tiếng. Cho đến nay, đã có rất nhiều tác giả biên khảo, chú thích, bình luận và dịch lại nữa. Điều khó khăn với người Việt nói chung, là khó tiếp cận văn bản gốc, do vậy phần lớn đọc và cảm cái hay của bản dịch Đoàn Thị Điểm. Tuy nhiên, tôi cho rằng, bản dịch của Đoàn Thị Điểm, xét về tính chất lao động nghệ thuật, cũng như tác phẩm “Kiều” của Nguyễn Du, phải là một tác phẩm sáng tạo lại, và nên được tồn tại độc lập với bản gốc chữ Hán. Nhưng vấn đề này chỉ nêu qua, sẽ bàn vào một dịp khác. Ở bài này, tôi muốn nêu ra, như một giả thuyết về cách hiểu, cách dịch của một câu trong “Chinh phụ ngâm”.

Từ câu 144 đến 147:

Vấn quân hà nhật quy 
Quân chỉ đào hoa hồng 
Đào hoa dĩ bạn Ðông phong khứ 
Lão mai giang thượng hựu phù dung 

Đoàn Thị Điểm dịch:

Thuở đăng đồ mai chưa dạn gió

Hỏi ngày về chỉ độ đào bông. 
Nay đào đã quyến gió đông, 
Phù dung lại đã bên sông bơ xờ. 

Theo cách chia khúc của Hoàng Xuân Hãn (Chinh phụ ngâm bị khảo), đây là đoạn thơ trong khúc Hoài tưởng. Nguyên tác từ câu 122 đến 171, tương ứng bản dịch Đoàn Thị Điểm từ câu 111 đến 148.

Với người đọc ngày nay, câu “Thuở đăng đồ mai chưa dạn gió” rất khó hiểu. “Đăng đồ” muốn nói lên đường đi xa. Bản dịch lấy ý sau bản gốc để lập ý này, khi mà đối đáp của chồng và vợ xảy ra vào thời điểm trước mùa đông. Ba câu thơ đầu tiên này, nếu dịch nghĩa từ bản chữ Hán thì rất dễ hiều, đại ý: Hỏi chàng bao giờ về, chàng bảo khi hoa đào nở (đông- xuân), nay đào hoa cùng gió đông đã qua rồi…

2.     Đến đây, tôi muốn trao đổi về câu thơ “Lão mai giang thượng hựu phù dung”

Đoàn Thị Điểm dịch: “Phù dung lại đã bên sông bơ sờ”

Đó là hình ảnh hoa phù dung bên sông bơ vơ, xác xơ. Nghĩa chữ bơ sờ liên tưởng đến điều đó. Tất nhiên, có thể thấy đây là một trong những câu thơ dịch không đạt của Đoàn Thị Điểm. “Lão mai” đâu? Bản dịch làm mất “mai già”. Trên nguyên tác “giang thượng”, lại thành “bên sông”. Không ổn. Đoạn 4 câu này càng không ổn khi có đến 2 câu dịch dở.

Trong quá trình tìm kiếm tra cứu về bản dịch, tôi tìm thấy một đoạn trao đổi liên quan đến nội dung trên đây.

Theo Tập san Văn sử địa số 32, tháng 9/1957 của Ban Nghiên cứu Văn Sử Địa Việt Nam, do ông Trần Huy Liệu làm Tổng biên tập, có bài “Góp thêm ý kiến về việc hiệu đính và chú thích Chinh phụ ngâm (Bộ Giáo dục xuất bản 1957)”, phần bài mang tít nhỏ: “Tôi không đồng ý với cụ Hoàng Ngọc Phách”, của tác giả Lê Văn Hòe. Bài của ông Lê Văn Hòe không đồng ý với cụ Hoàng Ngọc Phách, bởi vì trong bản Chinh phụ ngâm xuất bản 1957 trên đây, cụ đã để phần dịch câu “Lão mai giang thượng hựu phù dung” là “Tuyết mai trắng bãi, phù dung đỏ bờ”. Ông Hòe cũng dẫn ra để tranh luận với một tác giả khác là ông Nguyễn Văn Lai trong số tạp chí trước, cũng có ý kiến phản đối câu dịch đó, vì lý do “hành văn lạc điệu”

Ông Lê Văn Hòe cũng phản bác luôn cả bản dịch nghĩa của Hoàng Xuân Hãn: “Mơ già bên sông, lại có phù dung nở”, với lý do chữ “giang thượng” không phải là “bên sông”

Vậy ông Lê Văn Hòe lý giải thế nào? Theo ông Hòe, trong ngữ vựng Trung Quốc, phù dung chỉ hoa sen (?), “cũng như phù cừ, hay liên, hay hà, là thứ hoa nở vào mùa hạ”. Phù dung ở Việt Nam chỉ thứ hoa trên cạn, thì thứ hoa phù dung đó, Trung Quốc gọi là “mộc phù dung”, còn phù dung nở trên mặt nước, phải là “hoa sen”. Vậy câu “Lão mai, giang thượng hựu phù dung” phải hiểu là: “Mai già, trên sông còn có hoa sen cũng lại già”

Ông Lê Văn Hòe phản bác cụ Hoàng Ngọc Phách như vậy, nhưng cũng không đề xuất dịch “phù dung” là “hoa sen”, mà chỉ nêu ý kiến nên lấy lại câu của Đoàn Thị Điểm, có hiệu đính là: “Phù dung lại RÃ TRÊN sông bơ sờ”, thay “đã bên” bằng “rã trên” mới đúng với tinh thần “giang thượng” là “trên sông”, và chữ “hựu”, hàm nghĩa “phù dung hựu lão”, phải là “rã”.

Tóm lại, các vị học giả băn khoăn cấn cá vì chữ “phù dung” đi liền với chữ “giang thượng”, nên từ Đoàn Thị Điểm đến Hoàng Xuân Hãn, đều bỏ chữ “giang thượng” mà dùng chữ “bên sông”. Năm 1957, ông Lê Văn Hòe thì lý giải, phù dung phải là hoa sen mới đúng với câu thơ vì nói đến thứ hoa phù dung nở “trên sông”, và đề nghị sửa câu dịch của Đoàn Thị Điểm.

3.     Tuy nhiên, sau cuộc trao đổi năm 1957 mà Tập san Văn Sử Địa dẫn ra trên đây, không thấy ý kiến trao đổi nào về việc hoa phù dung thật sự là hoa gì, và hầu như các văn bản đều trích dẫn bản dịch của bà Đoàn Thị Điểm: “Phù dung lại ĐÃ BÊN sông bơ sờ”. Có thể nguyên nhân là, mặc dù ông Hòe có vẻ đúng về việc “bên sông” không phải là “giang thượng”, nhưng cái ý phù dung trên sông chính là hoa sen thì chắc ít ai tin, và chính ông Hòe cũng không đề nghị dịch là hoa sen.

Tôi có một chứng nghiệm thực tế rất tình cờ, một lần đi Triết Giang về việc làm phim, đi cùng với một đoàn khách, trong đó có người Trung Quốc biết tiếng Việt, có người Việt biết tiếng Trung Quốc, đặc biệt có người Trung Quốc ở vùng Triết Giang. Anh này chỉ cây hoa phù dung như ở Việt Nam, nói rằng đó là “mộc phù dung”, nhưng lại chỉ xuống bờ kênh đầy nước, chỉ vào đám rong rêu mà nói: “Còn kia là phù dung. Phát âm tiếng địa phương giống với cây hoa phù dung”. Người Trung Quốc biết tiếng Việt giải thích: Phù dung, tiếng Mân- Việt đều là cây rong, cây rêu nước (Việt ngữ ở đây là tiếng Quảng Đông)

Ngay lập tức, tôi tra từ điển Hán- Nôm- Việt Thiều Chửu trên mạng, thì mặt chữ “dung” trong ch “phù dung” cũng chú giải nghĩa Nôm là “rong rêu”.

Như vậy, phải chăng là Đặng Trần Côn đã dùng từ “phù dung” đơn giản nghĩa chính là “rong rêu”. “Lão mai, giang thượng hựu phù dung”, cây mai (thì) già, trên sông lại nổi rong rêu, một cảnh thê lương hợp với lòng người thiếu phụ đợi chờ. Nếu mùa hạ, cữ sang thu, là mùa nước nổi, kéo theo rong rêu ở thượng nguồn trôi về, thì đúng với văn cảnh câu bài thơ. Ai biết về vấn đề này xin chỉ rõ, tôi hết sức lắng nghe.

 4.     “Vấn quân hà nhật quy 
Quân chỉ đào hoa hồng 
Đào hoa dĩ bạn Ðông phong khứ 
Lão mai giang thượng hựu phù dung” 

Trước kia, quan niệm dịch thơ chữ Hán, kể cả thơ Đường, nhiều học giả dịch ra lục bát. Đoàn Thị Điểm thì dịch ra song thất lục bát. Chuyển nghĩa đến độ sáng tạo lại hoàn toàn. Ngoài việc chẻ nghĩa cho sát, một khiếm khuyết chính là làm mất hoàn toàn nhịp thơ, hơi thơ trong nguyên tác. Bài “Chinh phụ ngâm khúc” của Đặng Trần Côn hoàn toàn có thể dịch ra thể thơ tương tự với nguyên tác, giữ lại nhịp điệu, hình thức thơ, phù hợp với độc giả ngày nay quen với thơ tự do (Tôi cũng có một bản dịch riêng, giữ riêng cho mình). Với những ý kiến coi như giả thuyết về “phù dung” trong câu thơ 147 ở nguyên tác, có thể dịch như sau:

“Hỏi chàng ngày nào về

Chàng hẹn mùa hoa đào

Hoa đã cùng gió Đông đi mất

Mai già, sông lại nổi rêu rong…”

 01/7/2015

 

 

 

 

 

Chưa có bình luận nào !
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : luj53u
Bài viết khác