Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
PHAM CHAU ANH

Bình Luận của PHAM CHAU ANH

Cảm ơn Tác giả về bài viết tuy không dài nhưng quá đầy đủ thông tin. Tôi sắp đi Mông Cổ, tìm được bài viết này của Tác giả giống như một cẩm nang hướng dẫn đầy đủ.

Một lần nữa, xin được cảm ơn nhiều!
Phạm Thị Mộng Linh

Bình Luận của Phạm Thị Mộng Linh

Đến hôm nay tôi mới có duyên đọc được hết loạt bài này. Cảm ơn tác giả vô cùng.Tôi cũng đang tìm đọc các sách của anh
Ngoài ra tôi rất tâm đắc phần nói về cuốn Tây Du Ký, có lẽ là cơ duyên bây giờ mới đến để xác định với tôi 1 điều. Mà điều này thì chăc tôi khó có thể kể cho ai nghe vì thật là khó tin vì nó tâm linh , nó dính đến câu chuyện Thầy trò Đường tăng,và cơ bản tôi là người "chứng " qua điều đó. Chỉ sau khi đi Tây an ( tháng 4/ 2017), tôi có thể khẳng định chăc chắn 100% rằng, đó là sách của người Việt và đúng là Phật giáo đời nhà Trần, còn tại sao tôi khẳng định như vậy thì tôi chỉ có thể nói là do tâm linh dẫn dắt. Xin nói rằng tôi chỉ là người kinh doanh đơn thuần, không phải nhà nghiên cứu, có " ngộ" đạo cách đây 5 năm.
Một lần nữa xin cảm ơn Anh
Duy Minh

Bình Luận của Duy Minh

Nhiều lần đọc những bài viết của nhà văn, biết bác người xứ Đông cháu cũng cảm thấy đồng cảm như người đồng hương. Liệu có một ngày nào đó, Hải Dương và Hải Phòng có thể nhập lại làm một, cái tên Hải Đông có lẽ thích hợp hơn cả. Thật buồn là đến giờ nhiều người ở VN (bao gồm không ít người có uy tín trong các ngành văn hóa, giáo dục, sử học) và cả những người Việt sống ở hải ngoại vẫn cho rằng nhà Mạc ra đời là một sai lầm của lịch sử VN và Mạc Đăng Dung cắt đất cho ngoại bang! Hành động hạ mình có vẻ thái quá của Thái thượng hoàng nhà Mạc (lúc này ông không còn làm vua nhưng nhiều người không quan tâm chi tiết lịch sử này) sau này vua nhà Lê trung hưng lặp lại thì lại được sử quan triều Lê-Trịnh cho qua! Giờ đang sống trên mảnh đất Nam bộ vốn là đất cũ của Chân Lạp, cháu tự hỏi không có thế kỷ 16 với những biến động lớn thì liệu dân Bắc Hà chúng ta chỉ có mỗi cái chốn Hà Thành để tranh giành quyền cai trị lẫn nhau hết đời này qua đời khác thôi sao?
Nguyễn Việt Long

Bình Luận của Nguyễn Việt Long

Chi tiết "lãnh tụ cực tả của QDĐ Lão Trung Kha" viết sai tên. Chả có ai là Lão Trung Kha cả, đó là Liêu Trọng Khải.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Tôi không rành về Lào cho lắm, nên không hiểu chế độ hiện nay như thế nào? Nhiều khi thấy thế giới phân loại các quốc gia cộng sản gồm 5 nước thì có Lào. Nhưng đọc một văn bản của Cộng đồng Châu Âu xếp loại 4 nước cộng sản trên thế giới thì không có Lào. Nghe nói, họ còn bảo VN sang mà đưa tượng ông cụ về đi.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Thơ
Đồng dao

 1.       Thả đỉa ba ba

. Tôi nhớ như thế này: Thả đỉa ba ba/ chớ bắt đàn bà/ phải tội đàn ông/ cơm trắng như bông/ gạo tiền như nước/ đổ mắm đổ muối/ đổ cối hạt tiêu/ đổ niêu cứt gà/ đổ phải nhà nào/ nhà nấy phải chịu.

Trò chơi này trẻ con đứng thành vòng, nhà cái vỗ/chỉ đầu từng người đọc, đến câu cuối trúng ai thì người đó làm đỉa. Đỉa chạy đuổi, kịp ai sờ được vào đầu (hoặc quy ước chỉ cần chạm người bất cứ chỗ nào) thì người đó lại thay làm đỉa.

Đó là trò chơi đuổi bắt, vui chơi rất bình thường. Nhưng các cụ chân Nho ngày xưa đã lồng đồng dao, nói chuyện thường, mà ẩn ý giáo dục, hay truyền đạt một kinh nghiệm sống, đó là một loại mật mã cho đời sau giải.

Bố tôi sinh năm 1911, tức là đã sống rất lâu so với thời đại của chúng ta. Ông nội tôi là một cụ Đồ, nghĩa là có chữ, thang bậc thấp nhất so với các ông có chữ thời xưa. Theo bố tôi, bài đồng dao này kể về thời rất xa xưa, khi quân phương Bắc sang nước Nam giết phu hiếp phụ, nghĩa là giết đàn ông, hiếp đàn bà. Các cụ nói vẻn vẹn chỉ có vậy, thời xưa tôi hỏi các cụ cũng chẳng cắt nghĩa nổi. Chỉ nói: Thì bắt đàn bà đi nên nước mất nhà tan.

Lớn tý nữa, tôi hiểu rằng, nếu theo ý tứ các cụ truyền lại, thì đây là một lời ai oán, khi mà quân xâm lược bắt đàn bà, làm tội đàn ông, cơm trắng như bông hay gạo tiền như nước thì cũng chả để làm gì, mắm muối hạt tiêu là những đồ ăn thức uống lẫn với cứt gà, một thứ "nhà tan" rất kinh khủng.

Nhưng cách đây nhiều năm, tôi có gặp một người rất thông thái, hiểu cổ văn, dạy Đại học Bách khoa Hà Nội, ông ấy lý giải có vẻ hợp lý hơn những điều truyền khẩu tôi đã nghe. Cái con đỉa gì mà như đầu con ba ba? Nếu ai nhìn thấy con ba ba bơi, cái đầu vươn ra ngoe nguẩy, thì mới thấy cái đầu ba ba vừa giống con đỉa, vừa giống... cái gì đó của đàn ông. Cái con đỉa ba ba ấy bắt đàn bà, là một người đàn ông khác tội nghiệp. Khi đó cuộc sống hạnh phúc với cơm trắng như bông, gạo tiền như nước sẽ bị tiêu tan, những mắm muối, hạt tiêu, đồ bếp núc sẽ lộn tùng phèo lên, đó là khi người đàn bà trong gia đình đã ra đi, hoặc tâm can của người đó đã rời bỏ, khiến cho bếp núc nháo nhào. Bài đồng dao nói về một hiện tượng, đó là người đàn ông cướp mất người đàn bà của gia đình. Khi người đàn ông thả con đỉa ba ba ra, người đàn bà bị con ấy bắt thì nó tan tành cả gia đình, phải nhà nào nhà ấy phải chịu.

Kiến giải này có lý hơn điều cao cả mà tôi nghe được từ gia đình, từ giải thích vắn tắt của bố tôi. Nhưng biết đâu, từ sâu xa trong lịch sử, điều này cũng đúng. Không thể biết được. Chép hầu bạn đọc cả hướng giải mã bài đồng dao này.

2. Ù à ù ập

Trước khi vào chủ đề chính, xin nói lại về quan niệm "đồng dao". Có bạn nói rằng đồng dao có loại cho người lớn, cho trẻ con, nay xin nói ngay rằng, đã nói "đồng dao" là nói về các bài vè, thơ hoặc có vần của trẻ con. "Đồng" ở đây là chữ đồng gốc Hán, nghĩ là trẻ con. Như "nhi đồng", "thần đồng"... Còn "dao" là các bài dân dã, chữ dao trong ca dao, phong dao... Như thế, đã "đồng dao" thì là bài hát, bài vè của trẻ con.

Có bạn đặt vấn đề, tìm ra thời gian, không gian xuất xứ của bài đồng dao. Câu hỏi này rất thú vị. Cho đến nay, các bài đồng dao có thể phân loại theo thời gian ra đời. Đại đa số đồng dao mà tôi nói đến, có ý định đề cập đến, là loại đồng dao cổ, không thể tìm thấy nguồn gốc. Phần lớn đồng dao có tính chất dân dã sống được do truyền khẩu, không thể biết nó ra đời khi nào, chỉ khi giải mã thì mới đoán định được.

Cũng có loại đồng dao mới, nhưng những đồng dao đó không đáng để nghiên cứu, vì chỉ có ý nghĩa giáo dục thô thiển, phần nhiều dùng từ hiện đại, nhận ra ngay. Ví dụ bài "nu na nu nống, đánh trống phất cờ, mở cuộc thi đua..." rõ ràng là ra đời sau những năm Dân chủ cộng hòa. Những đồng dao mới câu cú tề chỉnh, đơn nghĩa, có gì mà phải lăn tăn về chúng đâu.

Đồng dao cổ có ý nghĩa lịch sử, mà phần thú vị nhất của chúng là một loại sấm ngữ, một loại mô tả kinh nghiệm sống. Cấu trúc câu cú có vẻ lộn xộn, bạ đâu nói đấy, vần vè, loại như "thả đỉa ba ba, chớ bắt đàn bà..." Loại đồng dao này do có tính sấm ngữ, nên mỗi thời một kiểu giải mã, mỗi lúc một cách giải nghĩa khác nhau. Đồng dao cổ thường gắn với các trò chơi của trẻ con từ xa xưa.

Hồi những năm 198x, tôi có đi công tác phía đường 10, Hải Phòng, Thái Bình. Một trưa mùa hè nghỉ ngơi ở quán, gặp một ông lão nông tri điền cũng nghỉ, chợt mưa xuống, có bọn trẻ con chạy mưa, chơi đuổi nhau, chúng chơi trò "ù à ù ập" để lấy đứa đuổi, một bọn chạy. Trường hợp này không dùng "thả đỉa ba ba" mà là "chi chi chành chành, cái đanh thổi lửa, con ngựa chết trương, ba vương ngũ đế, đội rế đi tìm, ù à ù ập". Tôi biết từ lâu, trò chơi này là nói về việc ba vương nhà Đường tranh nhau ghế hoàng đế của Đường Thái tổ vừa qua đời, sau này, cũng có nói rằng đó là chuyện ba vương nhà Lý đánh nhau, nhân khi Lý Thái tổ vừa băng, cuối cùng một vương bị đánh chết, 2 vương thoát chết. Nhưng nhà Đường thì xử tội vị vương sống, còn Lý Thái tông thì tha tội cho em. Đó là câu chuyện tương tự, giống nhau đến kỳ lạ của hai nhà Đường (TQ) và Lý (VN). Song, chiếu vào câu chữ, có lẽ đồng dao này nói về nhà Đường, vì Lý Uyên tuổi Ngọ, nên mới có câu "Con ngựa chết trương", câu tiếp theo là "Tam vương tranh đế", thì đúng hơn chứ không phải "tam vương ngũ đế". Nhưng "Đội rế đi tìm" thì là phong tục Việt Nam, khi chịu tang, người ta đội trên đầu một vòng rơm, như cái rế. Đó là kiến giải kinh điển của bài đồng dao này.

Tuy nhiên, hôm ở Thái Bình tôi đã nói trên đây, ông già lão nông tri điền lại bảo: Cái đanh thổi lửa là quả tên lửa, còn con ngựa chết trương là năm Ngọ, vừa qua Mỹ vừa đánh Irak, tam vương là 3 nước Irak, Ả rập xê út, Cô Oet liên quan đến cuộc chiến, còn ngũ đế là 5 nước thường trực hội đồng liên hợp quốc đang dàn xếp cuộc chiến này. Ông già nói: Đồng dao là trời sinh ra, rồi từ gán vào mồm bọn trẻ con từ xưa đến nay... Tối hôm đó, tôi viết truyện ngắn "Một chiều đồng dao" khoảng 2000 chữ, gửi báo Văn Nghệ. Đó là truyện ngắn đầu tay của tôi, truyện đầu tiên được đăng báo, khi đó tôi đang là kỹ sư lêu lổng.

Nhân nói về đồng dao, tôi lại nhớ đến cái truyện ngắn kể về một chiều có thật, với bọn trẻ con chơi trốn tìm, chơi trò "Ù à ù ập". Ai có tuổi thơ thôn dã chắc nhớ trò này. Một đứa xòe tay, bọn xung quanh dùng ngón chỏ chấm vào lòng bàn tay đứa cầm cái, nói lảm nhảm mấy câu đồng dao, đến chữ "ập", đứa làm cái nắm tay lại, đứa nào rút nhanh tay ra là được, đứa nào bị nắm giữ ngón tay thì chơi lại đến khi còn một đứa phải đuổi bắt cả bọn. Đó là trò đúng là liên tưởng đến cuộc chiến mà ai không nhanh chân rút ra sẽ thất bại. Trong lịch sử, 2 lần có một vương đã bị "ập" chết... Và mỗi thời người ta lại giải thích theo một cách riêng. Cho rằng "đồng dao do trời sinh ra" cũng có thể đúng.

3. Rồng rắn lên mây

Trò chơi rồng rắn lên mây bây giờ trẻ em không chơi nữa, nhưng thế hệ 5x, 6x, 7x ở nông thôn vẫn chơi. Nhiều đứa xếp hàng túm áo nhau, chọn đứa khỏe đứng đầu hàng, gọi là đầu rồng. Một đứa làm "thầy đuổi". Bọn làm rồng đi vòng quanh, nói câu đồng dao: Rồng rắn lên mây, có cây núc nác, có nhà điểm binh. Đứa làm "thầy đuổi" hỏi: Thày thuốc có nhà hay không? Đứa đầu rồng trả lời: Thày thuốc đi cắt thuốc cho trâu. Thày đuổi: Xin khúc đầu. Tất cả đồng thanh trả lời: Cùng xương cùng xẩu. Thày đuổi: Xin khúc giữa. Tất cả: Cùng máu cùng mê. Thày đuổi: Xin khúc đuôi. Tất cả: Ba vòng thày đuổi.

Bọn làm rồng rắn lại đi vòng quanh, đồng thanh đọc đồng dao 3 lần: Rồng rắn lên mây, có cây núc nác, có nhà điểm binh. 3 vòng là thày đuổi. Mục tiêu của thày là đuổi bắt hoặc sờ vào được đứa làm đuôi (cuối cùng). Thày chạy đến đâu, đầu rồng chạy đến đấy giang tay để chắn. Nếu thày xông vào vô ý sẽ bị cả đoàn rồng rắn cuộn vào là thày thua. Nếu thày bắt được đuôi thì đứa đuôi lại làm thày.

Trò chơi này giáo dục ý thức tập thể, cũng là trò rèn thể lực, tập thể dục, chạy nhảy, phối hợp nhóm. Trò chơi rất bổ ích, chỉ lạ là bài đồng dao chả đâu vào đâu, nói câu nọ câu kia rất buồn cười.

Mấy bài trước, tôi có nói đồng dao xưa có tính sấm vĩ, cũng có bạn không đồng ý. Tôi thì tin rằng, những bài đồng dao do các nhà nho có chữ đặt ra, rồi bằng cách nào đó dạy cho trẻ con. Thời xưa, trẻ con và các trò chơi chính là cách lan truyền thông tin trong cộng đồng, nó là mạng xã hội thời nguyên sơ. Đại Việt sử ký toàn thư chép rõ ràng những bài đồng dao trong dân gian do trẻ con hát, như bài nói về nhà Lê mất, nhà Lý lên thay. Hoặc như vua Lê Tương Dực được các quan bẩm báo, trẻ con hát đồng dao có thiên tử xuất hiện ở phương Đông, bèn tổ chức cả đoàn trấn yểm ở Đồ Sơn, trong đó trớ trêu thay có cả Mạc Đăng Dung, mà không biết câu đồng dao ứng vào chính nhà Mạc. Có thể đoán rằng, với nhiều cấm đoán trong xã hội, đồng dao là cách các trí thức "lách bút" viết về kinh nghiệm sống có tính phạm húy, dự báo tương lai không thể nói ra. Cho nên các câu đồng dao cổ như là lộn xộn, không rõ nghĩa. Ví dụ bài "rồng rắn lên mây", thì tại sao lại có cây núc nác, rồi có nhà điểm binh, thoắt cái xuất hiện thày thuốc. Thày thuốc đi đâu, đi chữa bệnh cho trâu. Toàn câu bạ đâu nói đó. Nhưng mà tại sao nó cứ sống qua thời gian, sống bền bỉ. Chỉ có thời đại CH XHCN ngày nay nó mới có nguy cơ mai một, chết dần, ít ai nhớ nữa.

Bài Rồng rắn lên mây, xưa tôi nghe nói về vua Quang Trung. Một người thường dân lên ngôi, là rồng rắn lên mây, năm Tỵ bắt đầu chiến dịch chiếm Phú Xuân, đó là khởi đầu ngai vàng của vua Quang Trung. Khi vua ra Bắc, phải lần thứ hai đánh Thanh mới xong, khúc đầu cùng xương cùng xẩu. Khúc giữa miền Trung anh em nồi da nấu thịt, máu mủ đánh nhau cùng máu cùng mê. Khúc đuôi đuổi Nguyễn Ánh 3 lần là kiệt sức. Trò diễn này chính là thời cuộc một giai đoạn lịch sử. Khi đi tìm thày thuốc, chính là khi vua ra Bắc xin khúc đầu, thày thuốc đi cắt thuốc cho trâu, một việc làm vô nghĩa với quan niệm dân gian xưa, không ai chữa bệnh cho trâu, đó là khi vua Lê cầu viện quân Thanh, một loại thày thuốc chữa bệnh cho trâu thôi.

Gần đây, tôi lại thấy một ông mê cổ văn, bảo bài rồng rắn lên mây ứng với chuyện nhà Nguyễn mất sáu tỉnh miền Trung, ba kỳ có 3 chế độ, rồi lại bảo đó là chuyện sau năm 54 đến 1975... Cũng là hiếu sự nói chơi vậy thôi. Nhưng mà đồng dao có tính sấm vĩ và sống trường tồn cho đến 1975 thì đã được thời gian kiểm chứng.

4. Bắc kim thang

Một bài đồng dao của trẻ em vùng Nam bộ khá nổi tiếng là bài "Bắc kim thang". Cho đến nay, khá nhiều thắc mắc về việc giải nghĩa bài này. Đây có thể là bài đồng dao cổ điển hình, giống như bài Thả đỉa ba ba, Chi chi chành chành ở miền Bắc, ngôn ngữ đa nghĩa, lộn xộn, gặp đâu nói đấy, khó hiểu.

Toàn bài: Bắc kim thang cà lang, bí dợ/ cột qua kèo là kèo qua cột/ chú bán dầu qua cầu mà té/ chú bán ếch ở lại làm chi/ con le le đánh trống thổi kèn/ con bìm bịp thổi tò tí te.

Nghe nói có cả những cuộc hội thảo có bàn về bài đồng dao này. Một ông cho rằng, đây là bài hát trẻ em hát khi lò cò chơi khèo chân. Ông ấy cho rằng phải là "bắt kim than" tức là bắt con ngựa màu xám. "Bắt Kim Than, cà lang bí rợ/ Cột quai chèo, chèo qua chèo lại/ Bắt ngựa ô, chạy vô vườn mít/ Hái lá mít, chùi đít ngựa ô". Nhưng đang bắt con ngựa thì cà lang bí rợ làm gì? Chịu. Nó là đồng dao trẻ con hát thế thì biết thế.

Gần đây, có ông bảo là bài đồng dao này nguồn gốc kể câu chuyện tình bạn của ông bán dầu và ông bán ếch. Một ông bán ếch cứu được con le le và bìm bịp bị sập bẫy, nên đôi chim ấy báo cho ông bán ếch là trong 7 ngày không được ra ngoài đi bắt ếch khi trời chưa sáng kẻo ma bắt. Ông bán ếch chưa kịp báo cho bạn thì ông bán dầu đã đi bán dầu sớm, đi qua cầu bị té ngã chết. Nên ông bán ếch chán ở lại làm chi, le le đánh trống bìm bịp thổi kèn đám ma ông bán dầu.

Câu chuyện trên đây chắc chắn là một ông hiếu sự đã nghĩ ra, cho các tình tiết hợp với bài đồng dao mà thôi. Vì các nhân vật trong câu chuyện không có tên tuổi, không có ghi chép lịch sử để chứng minh. Phiếm chỉ kiểu đó không phải là giải mã đồng dao. Nó chỉ là dựa vào ý tứ câu chữ để bịa ra một câu chuyện có ý nghĩa giáo dục con trẻ (một cách khiên cưỡng). Lạ lùng là bài giải nghĩa này chia sẻ nhiều trên mạng coi như một truyền thuyết chuẩn về bài đồng dao, trong đó cắt nghĩa cà, lang, bí rợ là 3 loại quả có dây leo trên giàn bắc kim thang có lẽ là sai sót lớn. Bí rợ là tiếng Nam chỉ bí ngô, thì cà lang hẳn là tiếng địa phương Nam chỉ loại quả bầu hoặc bí gì đó, chung giàn với bí rợ.

Trở lại ý nghĩa sấm vĩ của thể loại đồng dao, nhiều năm trước tôi đã nghe một ông giải mã bài Bắc kim thang như sau: Bắc kim thang là bắc cái thang hình chữ kim, trên đó loài cà lang và bí rợ đều leo lên. Leo cao. Một trong 2 anh đó là anh bán dầu, khi qua một cái cầu ở Nam bộ thì bị té. Còn anh kia cùng leo kim thang là anh ếch, người Nam đọc chữ X là "ếch". Anh bán dầu té rồi, đi tù rồi thì anh X ở lại làm chi? Bọn đánh trống thổi kèn là những con le le. Con le le, một loại vịt trời vui thì sà vào, động thì bay đi. Nhưng thổi kèn đám ma tò tí te là con bìm bịp. Loài bìm bịp ăn rắn độc, gương chiêu bài diệt rắn, nhưng nó là bìm văn bịp. Anh bán dầu đang bán dầu vào Nam bộ làm chi để qua cầu mà té? Anh X và anh bán dầu (dầu khí, dầu thô...) anh nào là cà lang, anh nào là bí rợ? Các anh leo đến gần đỉnh kim thang rồi mà xảy ra chuyện. Le le đâu, bìm bịp đâu?

Đồng dao có một ý nghĩa sấm vĩ, kể chuyện đời sống thâm thúy. Có lẽ mỗi thời lại tìm thấy một ký mã mới. Chả ai chứng minh được chỉ có thể nghiền ngẫm mà thôi.

5. Lộn cầu vồng

Chuyện đồng dao còn nhiều cái hay, nhưng cũng như truyền thống, hầu như giải mã ra động đến thiên tào. Cái ý nghĩa sấm vĩ của nó thú vị hơn nhiều ý nghĩa giáo dục trẻ con sau này người ta cố tìm hiểu. Mà xét cho cùng, nói với trẻ con những điều có tính quy luật, ứng nghiệm đời sống, sau này chúng lớn lên chúng sẽ biết, cũng là giáo dục "bất lập văn tự".

Hôm nay thôi nói chủ đề nghiêm ngắn, đồng dao có những bài dí dỏm, buồn cười. Ví dụ bài "Lộn cầu vồng".

Trẻ con đứng chạm lưng vào nhau, tay cầm tay, vòng ra sau gáy, rồi cùng lắc lư, múa điệu ngoặc tay chạm lưng, rồi hát: Lộn cầu vồng nước sông nước chảy, có cô mười bảy có cậu mười ba, hai chị em ta ra lộn cầu vồng". Đơn giản, dễ hiểu thôi.

Nhưng mật mã của bài này ở 3 chữ "lộn cầu vồng". Nói ngược lại là "Vộng cầu... lồn". Câu chuyện về 2 chị em chị 17 em 13 mà lại lộn cầu vồng. Ha ha...

Tôi nghe các cụ già những năm 196x bảo: Thực ra là "lộn cầu rồng", chuyện về triều đình nhà vua (nào đó) có ông vua 13 lại đi bắt chị 17 làm vợ. Có thể đó là bài vè đám văn sĩ đặt ra cho trẻ con hát chế diễu những cảnh ngang trái, dâm loạn trong cung vua, nơi "cầu rồng". Mà hiểu chốn cung cấm là nơi cao siêu, nơi có cái "cầu vồng" cũng được. Tra sử sách, thấy có đời Trần Dụ tông, vua bị đuối nước, nên bị hỏng chim, nhờ có thầy thuốc Trung Quốc họ Trâu chữa, nên phục hồi, với điều kiện phải thông dâm với chị ruột mình. Vua cũng ok. Mà lạ nước mình thằng thầy thuốc TQ nào bảo gì cũng nghe. Thế là cô 17 cậu 13 lộn cầu vồng. Tất nhiên không rõ ông Dụ tông này có 13 hay chị ông ấy 17 không? Hoặc là chế diễu ông nào khác lằng nhằng các bà chị khác, triều Trần thì vô số. Bài này chắc có từ thời xa xưa.

Nếu không có chứng tích lịch sử, bài đồng dao này cũng vui vui, gây cười. Đám trẻ con chơi trò này rõ là rèn luyện sức khỏe, khó mà chịu được cảnh giằng nhau tréo nghoe kiểu chạm lưng, rồi cũng phải cười rũ ra.

Đồng dao Nam bộ có bài rất buồn cười, thanh mà tục, ví dụ: "Mù u ba trái mù u. Vợ chồng cãi lộn, con cu giải hòa". Ở đây câu chuyện cũng rất rõ ràng, vợ chồng cãi nhau thì có con chim cu, tiếng Nam chỉ con bồ câu cục cu giải hòa. Nhưng đồng dao nói thế mà giải thế thì tầm thường. Kiểu như anh bán ếch là anh bán con ếch, anh bán dầu là anh đi bán dầu đèn hàng ngày đi qua cầu mà té. Tầm thường, còn gì là đồng dao nữa.

Cứ đặt chữ "cãi lộn" bên cạnh chữ "con cu" thì thấy bài đồng dao chơi chữ thần tình, cãi lộn, chỉ đánh dấu "vô ý" thành "cái lồn", mà đặt cạnh "con cu" thì vợ chồng cãi lộn kiểu gì cũng giải hòa đươc hết. Cái này thì ở triều đình, ở Trung ương hay ở nhà bố cu mẹ đĩ đều đúng hết.

6. Kéo cưa lừa xẻ

Đồng dao có khối chuyện, nhưng tôi muốn kết thúc câu chuyện đồng dao ở bài Kéo cưa lừa xẻ. Bài đồng dao đơn giản nhất, tối giản nhất. Ai thời trẻ con cũng được bố mẹ, anh chị chơi trò này. Nắm hai tay nhau trong tư thế ngồi, đưa đi đẩy lại. Nói: "Kéo cưa lừa xẻ, ông thợ nào khỏe, thì về ăn cơm vua, ông thợ nào thua, thì về bú tí mẹ"

Không có câu chuyện đời sống nào được kể cho trẻ con hay hơn cách truyền đạt bài Kéo cưa lừa xẻ. Cuộc sống dù là chiến tranh hay hòa bình, đều có quy luật của kéo cưa lừa xẻ. Thần nhãn của bài đồng dao ở chữ "lừa", nó sẽ đi vào tiềm thức của trẻ một cách tự nhiên, như thể chỉ là một từ để lấy vần vô thưởng vô phạt. Mật mã của bài đồng dao là câu "bú tí mẹ". Kiểu như sau này các văn sĩ triển khai ra, con đi góc biển chân trời, thất tình hay thất bại thì lại về với mẹ. Nhưng dân gian nói rõ rằng, thua thì về bú tí mẹ. Vừa hợp với tuổi thơ, vừa hợp với tuổi... già.

Hồi bé tôi được bố tôi và các ông già thế hệ ấy nói rằng, bài này nói về hai người chung một bà mẹ, một người làm vua,một người chống lại, ai thắng thì làm vua, ai thua đáng lẽ làm giặc, bị xử trảm, nhưng người thua lại được tha, vì cùng bú tí mẹ. Đây là cách giảng giải đặc sắc, nói lên được lòng vị tha của ông vua, giáo dục tính thân ái của tình anh em ruột thịt.

Truyền khẩu có đặc điểm diễn giải, lý luận đơn giản, không cụ thể, cứ nói "có một người" và kể hành trạng chung chung. Sau này, tôi tra sách, thấy câu chuyện đời Trần của Trần Liễu, Trần Cảnh đúng là như thế. Trần Liễu vì hiềm khích hôn nhân, bị Thủ Độ ép bỏ vợ cho em Trần Cảnh, hứa con đẻ ra thì cho làm vua, nhưng Thủ Độ thất hứa, Trần Liễu bèn cất quân đánh lại triều đình, nhưng tất nhiên bị thua. Liễu lấy thuyền nhẹ lẻn trốn lên thuyền rồng của em để xin hàng. Thủ Độ tuốt gươm xông vào định chém chết, tội khi quân không tha. Nhưng Trần Cảnh che cho anh. Thủ Độ tức quá vứt gươm, nói: Hóa ra ta chỉ là chó săn cho anh em nhà mày. Trần Liễu thua, đành bú tý mẹ. Trần Cảnh cứ việc ăn cơm vua.

Tuy nhiên, có lẽ câu chuyện đời cuối Lý, đầu Trần có vẻ là câu chuyện ứng nghiệm có lý hơn. Đoàn Thượng có mẹ là vú nuôi của Lý Huệ tông. Hai người cùng bú một cái tý. Sau Đoàn Thượng nổi quân chống lại Huệ tông, là do vua Lý bị nhà họ Trần điều khiển. Khi đó, còn có thế lực Nguyễn Nộn nữa, hình thành thế tam quốc chống Trần. Trần Thủ Độ dùng kế "cùng bú tí mẹ" để lấy danh Huệ tông dụ dỗ Đoàn Thượng, dùng dằng qua nhiều năm, kéo cưa lừa xẻ, cho đến khi nhà Lý mất, Thủ Độ mới thuyết phục được Đoàn Thượng hàng. Cuối cùng, Thượng thua, về bú tý mẹ, còn nhà Trần thắng về ăn cơm vua...

Thực sự bài Kéo cưa lừa xẻ đơn giản thế thôi, nhưng là quy luật có thể ứng nghiệm tương lai như bài sấm. Chắc là lịch sử có thời, hai phe cứ kéo cưa, lừa lọc nhau, rồi anh thua cũng như anh thắng, khi chết đến đít, ra tòa rồi vẫn nói trung thành với... mẹ già dân tộc. Bạc Hy Lai bị xử chung thân, vấn bảo tôi trung thành với bầu vú Đảng vĩ đại. Hi hi ha ha.

Kéo cưa lừa xẻ... bài đồng dao đơn sơ mà vĩ đại.

 

 

Chưa có bình luận nào !
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : rkpqeg
Bài viết khác