Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Duy Minh

Bình Luận của Duy Minh

Nhiều lần đọc những bài viết của nhà văn, biết bác người xứ Đông cháu cũng cảm thấy đồng cảm như người đồng hương. Liệu có một ngày nào đó, Hải Dương và Hải Phòng có thể nhập lại làm một, cái tên Hải Đông có lẽ thích hợp hơn cả. Thật buồn là đến giờ nhiều người ở VN (bao gồm không ít người có uy tín trong các ngành văn hóa, giáo dục, sử học) và cả những người Việt sống ở hải ngoại vẫn cho rằng nhà Mạc ra đời là một sai lầm của lịch sử VN và Mạc Đăng Dung cắt đất cho ngoại bang! Hành động hạ mình có vẻ thái quá của Thái thượng hoàng nhà Mạc (lúc này ông không còn làm vua nhưng nhiều người không quan tâm chi tiết lịch sử này) sau này vua nhà Lê trung hưng lặp lại thì lại được sử quan triều Lê-Trịnh cho qua! Giờ đang sống trên mảnh đất Nam bộ vốn là đất cũ của Chân Lạp, cháu tự hỏi không có thế kỷ 16 với những biến động lớn thì liệu dân Bắc Hà chúng ta chỉ có mỗi cái chốn Hà Thành để tranh giành quyền cai trị lẫn nhau hết đời này qua đời khác thôi sao?
Nguyễn Việt Long

Bình Luận của Nguyễn Việt Long

Chi tiết "lãnh tụ cực tả của QDĐ Lão Trung Kha" viết sai tên. Chả có ai là Lão Trung Kha cả, đó là Liêu Trọng Khải.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Tôi không rành về Lào cho lắm, nên không hiểu chế độ hiện nay như thế nào? Nhiều khi thấy thế giới phân loại các quốc gia cộng sản gồm 5 nước thì có Lào. Nhưng đọc một văn bản của Cộng đồng Châu Âu xếp loại 4 nước cộng sản trên thế giới thì không có Lào. Nghe nói, họ còn bảo VN sang mà đưa tượng ông cụ về đi.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Bút Ký Tôn Giáo
Xã Hữu Triều Môn ở đâu?
 Theo Đại Việt sử ký toàn thư, khi cuộc kháng chiến chống quân Nguyên năm 1284 mới bắt đầu, quân dân Đại Việt dù đã được chuẩn bị chống giặc, nhưng liên tục những trận đánh đầu tiên, đã bị quân Nguyên đã chọc thủng phòng tuyến phòng ngự. Đại Việt sử ký toàn thư chép vắn tắt thế này: “giặc đánh vào các ải Vĩnh Châu, Nội Bàng, Thiết Lược, Chi Lăng, Quan quân đánh bất lợi lui về đóng ở bến Vạn Kiếp. Lúc đó, vua ngự thuyền nhẹ ra Hải Đông, chiều rồi mà vẫn chưa ăn cơm sáng. Có người lính là Trần Lai dâng cơm gạo xấu, vua khen là trung, ban cho chức thượng phẩm, kiêm chức tiểu tư xã xã Hữu Triều Môn ở Bạch Đằng”.

Sau trận Nội Bàng, thế giặc đang đắc thắng, một cánh quân trực chỉ Thăng Long, một cánh quân tiến theo đường thuỷ trực tiếp nhằm vào bản doanh Vạn Kiếp của Trần Quốc Tuấn.

Theo Lê Mạnh Thát phân tích trong tác phẩm nghiên cứu về Trần Nhân tông, “Có thể nói, nó cho ta thấy chủ trương tác chiến ban đầu của vua Trần Nhân Tông và Trần Hưng Đạo hình như là đưa quân lên chặn giặc ngay tại những vùng địa đầu biên giới của tổ quốc theo chiến lược Lý Thường Kiệt đã làm hơn 200 năm trước. Việc mặt trận Nội Bàng tan vỡ, do thế, đòi hỏi phải có những quyết định chiến lược mới, thay đổi chiến lược cũ trong việc đối phó với kẻ thù, phải có một phương án tác chiến mới mà có thể vua Trần Nhân Tông và Trần Hưng Đạo đã dự phòng. Vì vậy, vua Trần Nhân Tông phải trực tiếp đi gặp Trần Hưng Đạo”. 

Việc đi gặp Quốc công tiết chế Trần Quốc Tuấn hẳn là việc làm rất gấp gáp, đến nỗi vua phải đi thuyền nhẹ, và đi suốt “đến chiều rồi mà vẫn chưa ăn sáng”, tức là rất gấp gáp. Vua đã rời kinh đô, không đi “chính thức” bằng thuyền rồng, không có đội quân hậu cần theo nghi lễ cung đình.

Sử sách không ghi rõ cuộc hội kiến ở Hải Đông giữa vua và Quốc công tiết chế bàn bạc những gì, chỉ ghi liền sau đó rằng “Hưng Đạo Vương vâng mệnh điều quân dân các lộ Hải Đông, Vân Trà, Ba Điểm , chọn những người dũng cảm làm tiền phong, vượt biển vào Nam, thế quân lên dần. Các quân thấy vậy, không đạo quân nào mà không tới tập hợp. Vua làm thơ đề ở đuôi thuyền...”

 Vua đề thơ ở phía đuôi thuyền của Quốc công, nhắc lại chuyện Cối Kê, và chỉ ra “Hoan Diễn do tồn thập vạn binh”.

Ông Lê Mạnh Thát cũng phân tích, hẳn là cuộc họp Hải Đông, vua quan nhà Trần đã phải điều chỉnh chiến lược chống giặc, chuyển từ chống giữ từ xa kinh thành đến việc kháng chiến có thể bỏ kinh đô. Và, tại cuộc họp Hải Đông ấy, một nhiệm vụ quan trọng là khích lệ tinh thần quân sĩ, “thế quân lên dần”, chuẩn bị lực lượng, động viên toàn dân chống giặc lâu dài, có thể tính đến “chiến khu” Hoan, Diễn.

Các học giả bàn bạc nhiều về cuộc gặp gỡ Hải Đông, song chưa thấy tài liệu nào chỉ ra là vua Trần gặp Quốc Tuấn ở đâu. Có tài liệu nói vua đến Vạn Kiếp để bàn việc với Trần Quốc Tuấn. Có lẽ, cái lý duy nhất là khi đó Vạn Kiếp là bản doanh của Trần Quốc Tuấn.

Song, cái lý vua đến Vạn Kiếp có thể lung lay, vì khi đó Vạn Kiếp là tiền duyên, cánh quân của quân Nguyên đang ở rất gần. Những sự kiện vua đi gặp Quốc công tiết chế xảy ra vào ngày 26 tháng Chạp, mà 10 ngày sau, ngày 6 tháng Giêng, quân Thoát Hoan đã đánh đến Vạn Kiếp. Như vậy, ngay từ ngày 26 tháng Chạp, tình hình Vạn Kiếp đã rất nguy ngập, để sau đó chúng đánh tới, thì Trần Quốc Tuấn phải nhờ có Yết Kiêu, Dã Tượng trung thành mới thoát được.

Bằng tài liệu và kết quả khảo sát điền dã gần đây, tôi cho rằng, nơi vua Trần Nhân Tông gặp Trần Quốc Tuấn là khu vực Bến Triều, gần động Kính Chủ, ngày nay thuộc huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương.

Ngày nay, đĩa danh Bến Triều được chỉ một khúc sông có bến phà trtên sông Kinh Thày, một đầu hữu ngạn là Kinh Môn, bờ tả ngạn là Đông Triều. Triều Môn chính là khúc sông này. Đây là khúc sông tiếp giáp ngã ba sông, một nhánh là sông Kinh Thày, một nhánh là sông Đá Vách, địa phương vẫn gọi chệch là Đá Bạch. Do khúc sông cổ họng của ngã ba nên có quan niệm đó là cửa sông, tên chữ là dùng chữ Môn ghép với chữ địa danh Triều. Một lưu ý rằng, đoạn sông Đá Vách chảy về phía hạ nguồn, qua huyện Thuỷ Nguyên có tên là Đá Bạc, qua cầu Đá Bạc bây giờ thì phìng to, từ đó gọi là sông Bạch Đằng chảy ra đến biển.

Khu vực Kính Chủ, thời Trần là nơi thuộc trang ấp An Sinh vương Trần Liễu. Đất trang ấp An Sinh thời Trần, ngày nay kéo dài từ khu vực An Sinh thuộc Đông Triều (Quảng Ninh) đến khu vực núi An Phụ huyện Kinh Môn (Hải Dương). Sau khi Trần Liễu, thân phụ Trần Quốc Tuấn qua đời, ông được thờ tại đỉnh núi An Phụ. Theo truyền thuyết dân gian trong vùng, hậu cung đền thờ chính là mộ đặt thi hài của Trần Liễu. Xét về thế thứ, hoàng hậu thời vua Trần Nhân Tông chính là con gái Trần Quốc Tuấn, cũng gắn bó với vùng trang ấp này. Trang ấp An Sinh của Trần Liễu thuộc huyện An Hưng, An Bang (Yên Hưng và Đông Triều ngày nay) và Giáp Sơn (Kinh Môn ngày nay) thời Trần, thuộc lộ Hải Đông.

Kính Chủ cách núi An Phụ khoảng 2km đường chim bay, là khu vực núi đá vôi, có nhiều động đá vôi, vốn là khu vực chùa chiền từ thời Lý, thờ Lý Thần Tông, sau này chùa Kính Chủ còn thờ Huyền Quang, đệ tam tổ Trúc Lâm. (những sự kiện này đều có ghi trong Đại Nam nhất thống chí)

Song, từ lâu, nhân dân ở vùng núi Kính Chủ đã lập đền thờ tách rời chùa trong động núi. Đền thờ là thờ riêng vua Trần Nhân Tông, vì theo truyền thuyết, vua Trần Nhân Tông đã đóng quân ở đây, điểm binh và chỉ đạo kháng chiến chống quân Nguyên. Song, năm 1967, do nơi này là nơi sơ tán của một số đơn vị xăng dầu, nền đã 8 lần bom Mỹ đánh vào khu vực động Kính Chủ, làm cho đền vua Trần bị đánh tan. Sau năm 1975, nhân dân trong vùng đã dựng lại ngôi đền nhỏ để thờ vua Trần Nhân Tông ở vị trí đền thờ cũ.

Động núi Kính Chủ có một bảo vật rất nổi tiếng, đó là bài thơ của Phạm Sư Mạnh, vị đại thần trải qua 3 đời vua Trần từ Anh tông, Minh Tông đến Hiến Tông. Làng Kính Chủ thời Trần đã là một làng nghề khắc đá nổi tiếng, nhiều bia Văn Miếu đều do thợ Kính Chủ khắc. Song, tấm bia Phạm Sư Mạnh lại không khắc kiểu chữ chân nghiêm ngắn, mà là kiểu chữ thảo chân phương. Tương truyền, thợ đá Kính Chủ đã khắc đá theo đúng nét bút của Phạm Sư Mạnh đề thơ vào đá. Phạm Sư Mạnh quê ở Hiệp Sơn, cũng thuộc huyện Kinh Môn bây giờ, cách Kính Chủ chừng 4km, nên thơ ông ngay từ câu đầu “hành dịch đăng gia sơn”, cho ta biết ông “nhân việc quan lên núi quê nhà”.

Toàn văn bài thơ như sau:

Hành dịch đăng gia sơn,
Kiều thủ vạn lý thiên.
Ðổ bằng nam minh ngoại,
Tân nhật đông nhạc tiền.
Yên Phụ thiên nhất ác,
Tượng Ðầu nhẫn cửu thiên.
Tằng tằng Tử Tiêu vân,
Hội phỏng An Kỳ tiên.
Húng húng Bạch Ðằng đào,

Tưởng tượng Ngô Vương thuyền.
ức tích Trùng Hưng Ðế,
Khắc chuyển khôn oát kiền.
Hải phố thiên mông đồng,
Hiệp môn vạn tinh chiên.
Phản chưởng điện ngao cực,
Vãn Hà tẩy tinh chiên.
Chí kim tứ hải dân,
Trường thuyết cầm Hồ niên.

Dòng lạc khoản: Trần triều nhất bách tứ thập tứ tự cửu nguyệt ngũ nhật. Nhập nội hữu nạp ngôn Hiệp Thạch Phạm Sư Mạnh phụng chiếu giản duyệt ngũ lộ chi binh, đăng Thạch Môn Sơn tác. Dương Nham Phạm Sư Mạnh thư.

Tạm dịch: Nhân đi việc quan, lên chơi núi quê nhà,
Ngẩng đầu nhìn trời cao muôn dặm.
Thấy chim bằng ngoài biển nam,
Ðón mặt trời mọc trước dãy núi phía đông.
Núi Yên Phụ chỉ cách trời một nắm tay,
Núi Tượng Ðầu cao chín nghìn mẫu.
Mây lớp lớp trên đỉnh Tử Tiêu,
Nhân dịp hỏi thăm tiên An Kỳ).
Sóng Bạch Ðằng cuồn cuộn,
Tưởng tượng tới thuyền của Ngô Vương.
Nhớ vua Trùng Hưng xưa,
Khoảng khắc làm chuyển đất xoay trời.
Hàng nghìn chiến thuyền ngoài cửa biển,
Muôn lá cờ lệnh trên cửa ải Hiệp môn.
Trở bàn tay đặt cõi bờ vào thế yên ổn,
Kéo nước sông Ngân rửa sạch vết tanh hôi.
Ðến nay nhân dân cả nước,
Nhắc mãi năm bắt giặc Hồ...

Lạc khoản: Triều nhà Trần năm thứ 144, tháng 9, ngày 5, Nhập nội Hữu nạp ngôn là Hiệp Thạch Phạm Sư Mạnh vâng lệnh nhà vua đi tuyển duyệt binh lính năm lộ, lên núi Thạch Môn, làm bài thơ này. Dương Nham Phạm Sư Mạnh viết.

Bài thơ là một bản hùng ca, niềm tự hào về núi non vùng quê hương Kính Chủ, nhưng đáng chú ý là chuyện Phạm Sư Mạnh nhớ lại sự tích vua Trùng Hưng “Hàng nghìn chiến thuyền ngoài cửa biển, Muôn lá cờ lệnh trên cửa ải Hiệp Môn. Trở bàn tay đặt cõi bờ vào thế yên ổn...”

Theo sách Đại Nam Nhất thống chí, sông Kinh Thày, tên cũ là Sài Giang, chính là một nhánh hợp với sông Đá Vách, đoạn thượng nguồn của Bạch Đằng Giang, gần ngay cửa Lục Đầu. Con sông này uốn khúc ngay bên cạnh núi Kính Chủ. Xét về phong thuỷ, nơi này sơn thuỷ hữu tình, nhưng cũng là đất dụng binh, là cửa ải quan trọng trên đường thuỷ từ biến vào Vạn Kiếp. Hình ảnh “muôn lá cờ lệnh trên cửa ải” nơi đây, cho thấy vùng này quả là vùng phục binh của quan quân nhà Trần. Việc này phù hợp với truyền thuyết dân gian rằng, vua Trần đã đến điểm binh tại đây.

Khu vực Kính Chủ lại cách bến Triều hiện nay khoảng 1 cây số, địa danh bến Triều ngày nay có thể lệch, không đúng hẳn với bến Triều Môn thời Trần, nhưng có sai lệch cũng không xa là bao. Như vậy, khu vực Trần Lai dâng vua cơm hẩm khi vua đến đây bàn việc với Trần Hưng Đạo được xác định rất chắc chắn. Nếu như vua đi Vạn Kiếp, thì không thể qua vùng này, vì từ Thăng Long đến Vạn Kiếp, phải rẽ ngay từ bến Bình Than.
Cần nói rõ mấy địa danh trong bài thơ của Phạm Sư Mạnh, núi Tượng Sơn và đỉnh Tử Tiêu đều thuộc dãy Yên Tử. Từ Kính Chủ, có thể nhìn thấy đỉnh Yên Tử trấn ngay trước mắt. “Hiệp Môn” là cửa ải núi Kính Chủ, vì nơi đây còn có tên Hiệp Thạch mà địa danh này chính Phạm Sư Mạnh lấy làm tên hiệu như ghi ở lạc khoản.

Cần nói rõ thêm rằng, đáng tiếc từ sau năm 1975, không rõ vì sao mà tấm bia Phạm Sư Mạnh lại bị vỡ một góc, trúng vào góc có lạc khoản. Song, do nổi tiếng, may thay, nội dung của tấm bia đã được các học giả ghi chép rất rõ trong các tài liệu nghiên cứu Hán –Nôm.

Khu vực núi Kính Chủ có lẽ vì thế, sau thời Trùng Hưng, trở thành khu vực núi thiêng, được nhân dân thờ phụng. Đó là khu vực thích hợp với vai trò tu tập của các Thiền sư, không phải vô cớ mà nhân dân lại thờ Huyền Quang, vị tổ thứ ba Thiền phái Trúc Lâm trong chùa chính và lập đền thờ vua Trần Nhân Tông tại chân núi. Sau thời kỳ Trùng Hưng, Thiền sư Huyền Quang đã có một thời kỳ tu ở chùa Côn Sơn thuộc Chí Linh, cách Kính Chủ khoảng 30 km, việc ông qua lại Kính Chủ và kết tập Kính Chủ vào tầm ảnh hưởng của Thiền phái Trúc Lâm là hoàn toàn xác đáng.

 Như vậy, từ một chi tiết trong chính sử, lại có di vật để lại một bài thơ, một di dản văn hoá, hoàn toàn phù hợp với truyền thuyết và địa danh của một vùng đất, khiến cho chúng ta nhận thức rõ ràng hơn về lịch sử dân tộc, ý thức thấy sợi dây liên tục từ thuở cha ông gian khổ lập nên chiến công giữ nước cho đến ngày nay.

 

Chưa có bình luận nào !
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : 15pvep