Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Nguyễn Việt Long

Bình Luận của Nguyễn Việt Long

Chi tiết "lãnh tụ cực tả của QDĐ Lão Trung Kha" viết sai tên. Chả có ai là Lão Trung Kha cả, đó là Liêu Trọng Khải.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Tôi không rành về Lào cho lắm, nên không hiểu chế độ hiện nay như thế nào? Nhiều khi thấy thế giới phân loại các quốc gia cộng sản gồm 5 nước thì có Lào. Nhưng đọc một văn bản của Cộng đồng Châu Âu xếp loại 4 nước cộng sản trên thế giới thì không có Lào. Nghe nói, họ còn bảo VN sang mà đưa tượng ông cụ về đi.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
nguyen thi cam tu

Bình Luận của nguyen thi cam tu

cac ban oi cho minh y kien nhe. vay tom lai ho quy ly duoc xem la anh hung hay gian hung
Bút Ký Tôn Giáo
Nhân chuyện "cây đào Tô Hiệu", bàn về hư cấu trong truyện lịch sử.

 

Gần đây, tôi có theo dõi một số bài viết về "cây đào Tô Hiệu", truyện ngắn của ông Nguyễn Anh Tuấn và ý kiến của ông Lại Nguyên Ân.

Trong lời bạt của trang lethieunhon.com, cho biết tác giả Nguyễn Anh Tuấn đã đi điền dã, thu thập tư liệu và cho rằng cây đào ở nhà tù Sơn La do Tô Hiệu trồng là sự thật. Từ đó ông viết nên thiên truyện về Tô Hiệu. Tôi đã tìm trên mạng, thì truyện ngắn này đăng trên trang trieuxuan.info lại có nhan đề "Tô Hiệu- một số phận kỳ lạ" và cuối truyện đề là 1990.

Vấn đề đáng bàn ở đây là, nếu như việc trồng đào của ông Tô Hiệu là huyền thoại khuyết danh, thì truyện của ông Nguyễn Anh Tuấn là vẽ rắn thêm chân thành rồng thôi thì cũng được, nhưng nếu nó là sản phẩm hư cấu trong tác phẩm của một người khác, thì việc sáng tác văn học, hay viết truyện lịch sử như vậy khó chấp nhận được.

Tôi có lý do để quan tâm đến số phận ông Tô Hiệu (và cũng định viết về ông ấy). Về giai thoại cây đào Tô Hiệu, tôi rất chú ý tìm hiểu xem trong văn bản, chứng thư nào nói về chuyện này sớm nhất, hay nhân chứng nào chứng thực chuyện này.

Trong việc viết truyện lịch sử, để làm nổi bật phong cách nhân vật, phục vụ chủ để, hướng trọng tâm "sức nặng" nội dung vào thông điệp sau câu chữ, nhà văn có quyền hư cấu chi tiết. Đôi khi chi tiết sau khi được bịa ra, khiến người đọc tin rằng nó là thật, thật hơn sự thật. Ví dụ, trong Tam Quốc diễn nghĩa, có hàng trăm chi tiết kiểu như vậy, như Đốc Bưu trong Hán sử chép là do Lưu Bị đánh, trong tiểu thuyết thì lại bị Trương Phi đánh. Rõ ràng, Trương Phi đánh Đốc Bưu có vẻ thật hơn. Hồi những năm sáu mươi, tôi đọc một truyện ngắn trên báo Thiếu niên tiền phong thấy có chi tiết tết năm đó, Nguyễn Huệ ở Bắc Hà, sai kị sĩ mang cành đào vào Huế tặng Ngọc Hân. Có vẻ rất thật. Đến nỗi sau này con tôi kể, trong tiết dạy lịch sử, cô giáo lịch sử cũng nói chuyện đó (như một sự thật lịch sử?).

Cho đến nay, thời gian so với năm xảy ra sự thật lịch sử đã quá xa, khó mà tìm thấy lời giải đáp chắc chắn về vấn đề cây đào Tô Hiệu. Nếu vậy, thì đây tạm coi như một giai thoại, một huyền thoại đẹp. Bất luận cách ra đời của nó như thế nào, do một ông tuyên huấn kể lại, do ý đồ tuyên truyền cộng sản… thì cho đến nay cũng là di sản văn hóa phi vật thể rồi. Câu chuyện ca ngợi sức sống mãnh liệt của con người bất chấp lao tù. Nhà văn cần hư cấu trên nền huyền thoại như thế nào mà thôi.

Tình tiết Tô Hiệu trồng đào hoàn toàn có thể là hư cấu, mà chấp nhận được, mà có thể tin được. Vấn đề là, nếu nó là hư cấu, thì phải phân biệt rất rõ. Người viết văn càng cần phải phân biệt. Mặt khác, cũng cần phải phân biệt chi tiết lịch sử nào có thể là chi tiết phải tôn trọng, nó như cái đinh neo câu chuyện lại với thời đại đó. Trong câu chuyện của Nguyễn Anh Tuấn, có mấy chi tiết không nên hư cấu, nó làm cho chân dung tinh thần của nhân vật bị vẽ sai lệch đi. Đó là chi tiết về cha mẹ, về gia đình.

Có thể tác giả Nguyễn Anh Tuấn viết câu chuyện về Tô Hiệu vào năm 1990, cho nên trong câu chuyện ca ngợi phẩm chất của người tù cộng sản Tô Hiệu, không khỏi chịu ảnh hưởng của quan niệm về "con người mới" thời đó.

Đến đây, phải mở ngoặc khi nói thế này. Ông Tô Hiệu là người trong họ nhà tôi. Bà nội tôi và cụ thân sinh ông Tô Hiệu là hai anh em ruột. Sự nghiệp của ông Tô Hiệu thì mọi người trong nhà tôi chỉ biết qua sách báo, nhưng thân thế của ông thì bố tôi, các anh tôi biết rất rõ. Tôi cũng trực tiếp tiếp xúc với nhiều người cùng thế hệ ông Tô Hiệu, họ đều phản ứng cái điều sách báo thời xưa nói rằng ông Tô Hiệu sinh ra trong một gia đình "nông dân nghèo". Không đúng. Bây giờ, tôi có thấy trong wikipedia, mục về Tô Hiệu ghi ông sinh ra trong gia đình "nhà nho nghèo" là chính xác. Nhà nho và nông dân khác nhau chứ. Có lẽ chính vì cái lý lịch lưu hành trước đây của ông Tô Hiệu, mà tác giả Nguyễn Anh Tuấn, trong đoạn về mẹ Tô Hiệu, viết thế này: "Những trưa hè nắng như rang như thiêu, một người mẹ già lọm khọm với cái giỏ bên hông bắt cua cáy ở những thửa ruộng chiêm ngập nước. Mắt anh hoa lên những vòng quáng nắng. Cái chõng tre đã lung lay. Cái phiên nhà đã mọt. Cái chổi cùn trong xó bếp lạnh tạnh… Đất nước nghèo trong bùn lầy, vách nát, buồn trong từng câu ca, trong mỗi cái nhìn và mỗi đường gân trên bàn tay răn deo của người mẹ già. Tô Hiệu thấy sống mũi cay cay…"

Tưởng tượng về gia cảnh và bà mẹ Tô Hiệu quả là hoàn toàn không đúng. Mà không đúng thì diễn biến tâm lý của người con thương mẹ cũng sụp đổ. Tôi được nghe kể lại là, bà cụ là một người tháo vát, nội trị trong gia đình rất giỏi. Khi anh em Tô Hiệu, Tô Chấn bị truy nã, bà cụ vẫn tiếp tục thuê xe tay đi Hải Dương, Hà Nội để "bắt đền". Cái lý của cụ là chúng tôi gửi con cho Nhà nước bảo hộ ăn học, giờ không thấy chúng nó đâu, các ông phải tìm về cho tôi. Bà cụ chắc chắn không bao giờ mò cua bắt ốc ở ngoài đồng. Gia cảnh nhà Tô Hiệu lúc đầu khá, còn tiền cho các con đi ăn học, nhưng sau có sa sút, một phần cũng là do gia đình tội phạm.

Trong các sách về Tô Hiệu, chỉ nhắc đến mẹ, chứ không nhắc đến bố. Có lẽ vì do ông cụ thân sinh ông Tô Hiệu là nhà nho (hình như có làm quan lại nhỏ), và tự tử. Theo các cụ nhà tôi kể lại, đó là do ông cụ chán cảnh bị quan lại, hào lý hạch sách, nhà lại nghèo dần, phải bán dần của cải đi. Có lẽ hồi xưa, viết về người cách mạng thì phải hội tụ những yếu tố được cho là tốt đẹp: gia đình công nông, nghèo, ý chí cách mạng… Chuyện tự tử của người cha không phải giai cấp cần lao là khó chấp nhận trong lý lịch của đồng chí Tô Hiệu?. Chủ nghĩa lý lịch thấm vào các nhà báo, nhà văn chăng? Tôi thì tôi cam đoan rằng, ông Tô Hiệu trong gian lao nhất định phải nhớ cả cha lẫn mẹ. Ông Tô Hiệu nhớ một bà mẹ đi xe tay, nhà khá giả thì chắc nhớ khác với nhớ bà mẹ chân lấm tay bùn mò cua bắt ốc.

Chính vì chi tiết sai sự thật lịch sử này, mà tôi cho rằng, truyện về ông Tô Hiệu đã đăng lại của Nguyễn Anh Tuấn kém giá trị. Thiên truyện ca ngợi sức sống của con người trong lao tù, ca tụng nhân cách một người hy sinh vì tự do, độc lập, đáng tiếc lại bị những giới hạn về nhãn quan một thời vô tình "can thiệp" vào, khiến cho việc dựng lại chân dung Tô Hiệu có phần khiên cưỡng.

Nói thêm về một tư liệu lịch sử: Chúng ta chỉ biết làng Xuân Cầu là làng sinh ra nhiều hào kiệt như Nguyễn Công Hoan, Tô Hiệu, Lê Văn Lương, Tô Chấn, Lê Giản… nhưng ít biết làng Xuân Cầu là một làng quê có truyền thống buôn bán, làm nghề. Nghề cổ xưa là nhuộm thâm. Làng có tục săn chuột, thịt chuột mang ra chợ huyện bán. Trong làng có nhiều nhà làm nghề: bánh mỡ, bánh tro, bánh tráng… Người Xuân Cầu đi làm ăn buôn bán khắp nơi, thường có truyền thống sinh sống tụ hội thành một phố, hay quần cư thành một khu vực cạnh nhau, có tinh thần tương trợ nhau làm ăn. Việc này chắc có nguồn gốc gần một nghìn năm hình thành nên làng, trước thời Nguyễn làng có tên là Huê Cầu.

Tại Hải Phòng, phố Hạ Lý thời trước năm sáu mươi thế kỷ trước là phố của người Xuân Cầu. Huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương có đến một nửa thị trấn là dân Xuân Cầu (Ông Nguyễn Công Hoan đã dạy học và viết nhiều truyện ngắn châm biếm ở phố huyện này, lấy nguyên mẫu nhân vật và sự kiện ở đây). Còn nhiều chi tiết về ông Tô Hiệu ở hai địa danh này mà tôi được biết qua bố mẹ, anh chị. Ông Tô Hiệu bị bắt ở Hạ Lý, chính là tại xóm của người Xuân Cầu.

(Tôi đã cắt đoạn nói về ông Tô Hiệu là út- xin tự đính chính)
Tôi thường nghe kể nhà ông Tô Hiệu có ba anh em trai đều đi học trường tỉnh, rồi ra Hà Nội học (ông anh cả ở làng). Người em họ là ông Tô Điển, tức Tô Quang Đẩu, sau này là Thứ trưởng Bộ Nội vụ. Khi ông Đẩu còn sống, tôi có nhìn thấy ông ấy nhiều lần đến nhà tôi. Ông Tô Điển chưa bao giờ chứng thực việc bà mẹ đi hỏi vợ cho ông Tô Hiệu. Chuyện gán ghép, "nhìn ngó" đám này đám khác thì trong làng bao giờ cũng có, nhưng đến mức ăn hỏi thì coi như người trong nhà rồi. Chi tiết này cũng không có đâu. Bà Đen sau này là người trông nhà lưu niệm Tô Hiệu, tôi nghe kể bà không phủ nhận, cũng không kể gì về chuyện đó. Tình tiết này có lẽ hư cấu cũng không sao, an ủi cả người đã hy sinh lẫn người còn sống, nhưng tôi biết nhiều người Xuân Cầu thế hệ trước nói dứt khoát không có chuyện đó.

Tái bút: Phần cuối bài viết này lần đăng đầu tiên có phần sau:
"Xuân Cầu ngoài họ Nguyễn, họ Cao, còn có mấy chi họ Tô, xa xôi chắc cũng có chung ông tổ. Ông Lê Giản là Tô Dĩ, theo tôi biết về trực hệ gần thì không phải chi họ Tô Hiệu, không biết điều này có đúng không?

 Bài này viết nhân kỷ niệm ngày mất của ông Tô Hiệu (7/4/1944), tôi coi như một nén tâm nhang thành kính tưởng nhớ ông"
Sau đó, có đại diện dòng họ Tô Xuân Cầu gửi thông tin cho tôi: 1/ ông Tô Điển và ông Tô Dĩ là anh em họ với ông Tô Hiệu. 2/ Ông Tô Hiệu mất ngày 7/3/1944. Xin ghi nhận để mọi người cùng biết.

 

Chưa có bình luận nào !
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : 3mgte2