Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
nguyen thi cam tu

Bình Luận của nguyen thi cam tu

cac ban oi cho minh y kien nhe. vay tom lai ho quy ly duoc xem la anh hung hay gian hung
ngo panbin

Bình Luận của ngo panbin

Khong nen binh luan danh gia cac nhan vat LSU mot cach thieu cong bang. Troi sinh ra kg ai hoan hao. trong cuoc song ban muon lam viec that hoan hao, nhung co bao gio dc kg ??? vi vay lanh dao mot dat nuoc khi hanh dong trong cong viec, cung nhu trong cuoc song doi thuong,co gi do kg hoan toan tot dep,co gi do khiem khuyet, ta cung nen luong thu ma bo qua cho ho, mien sao cai sai kg qua tram trong,cai lam duoc cho dantoc datnuoc de den hom nay chung ta va lich su thay dung dan co ich la qua tot va can ton vinh cong lao do, Cac ban co khi nao lam lanhdao va dung truoc ap luc that su lon chua ??? khi do kho tam lam ban oi !!!
Vay nen toi khuyen cac ban can co tam long bao dung hon voi nhung ai da lam tot, co loi cho datnuoc va dantoc vietnam, Du ho khac ching kien khac quan diem chinh tri voi ban, nhung chung ta la mot me auco sinh tram trung, va bo coi viet nam neu co mat vao tay ke nuoc ngoai ban chac se that su dau long. Con ben CSan hay QGia thi suy cho cung chua phai qua toi te, truoc het la cham dut chien tranh som di doi voi dong nghia su giet choc nhau giua nguoi vnam voi nhau kg con,dat nuoc ven toan mot moi, dan bot lam than kho cuc,Phia ban va phia toi, tat ca la conrongchautien,
Toi kg quan trong cai ten, CN CSan, CN MACLENIN hay chu nghia nao nao di nua, nhung dem lai dieu tot cho dongbao datnuoc vnam la dc, CN nao cung vay neu kg dclongdan, ban kg can thucday kg can dautranh ma tu no cung sup do va dongbao trong nuoc se lam viec do,
Phan Văn Hoàng

Bình Luận của Phan Văn Hoàng

Xin góp hai ý :
1- Tên tờ báo là NÔNG CỔ MÍN ĐÀM (nghĩa : uống trà nói chuyên làm nông và buôn bán). Không phải MÍM ĐÀM.
MÍNH là trà non. Cụ Huỳnh Thúc Kháng có bút hiệu MÍNH VIÊN (vườn trà non)
Người Nam Bộ phát âm -IN thành -INH, nên viết MÍNH thành MÍN.
2- Người ĐỒNG BANG là người cùng chung một nước.
Do người Nam Bộ phát âm lẫn lộn -AN và -ANG nén viết sai đồng BANG thành đồng BAN.
PVH
Bút Ký Tôn Giáo
Từ Bát Nhã Tâm Kinh đến bản Quốc ca Việt Nam (Thi hứng hiện đại từ Bát Nhã Tâm Kinh)

 

 1. Dẫn nhập

 

Bát nhã tâm kinh là bộ kinh căn bản và quan trọng nhất của Phật giáo Đại thừa. Đây cũng là bài kinh ngắn nhất (bản Hán Việt có 260 chữ) và có xuất xứ thú vị nhất. Hiện nay lưu hành phổ biến ở Trung Quốc và Việt Nam là bản dịch theo Hán tự, phiên âm theo bản kinh Thiền sư Huyền Quang mang từ Ấn Độ về, chuyển ngữ từ thế kỷ thứ 7

Theo một số thiền sư, trong số bản dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Hán, tại Việt Nam còn lưu hành bản tiếng Hán (dài hơn) do Ngài Cưu-ma-la-thập dịch vào đầu thế kỷ thứ 5. Đã có rất nhiều thiền sư, hoặc nhà nghiên cứu Phật học dịch ra Việt ngữ bản kinh này, và đồng thời cũng có nhiều chú giải, giảng luận, giới thiệu.

Cốt tử ý nghĩa của bài kinh là cách hiểu, thực hành về chữ Không của Phật giáo. Tất cả những công án, bài thơ, câu kệ của các vị thiền sư từ xưa tới nay vẫn phảng phất tinh thần Không huyền diệu của Phật giáo Đại thừa.

(Nếu chưa đọc qua nội dung Bát nhã tâm kinh, xin xem phần văn bản ở Ghi chú tham khảo phía dưới bài)

 

2. Dẫn giải:

 Có lẽ, đoạn mở đầu Bát nhã tâm kinh là phần quan trọng nhất trong toàn bộ bài kinh, nó gồm 3 câu, vừa dẫn dụ, vừa giới thiệu cho người ta tinh thần cốt lõi của chữ Không. Diễn nôm bài kinh này như sau: Lời của Ngài Quán Tự Tại nào đó, sau khi đã hiểu được công năng tuyệt vời để có Trí tuệ Bát Nhã, thì ngài khuyên ông Xá Lợi Tử rằng, chữ Không chính là Sắc, nếu thực hành được Trí tuệ Bát Nhã thì đạt đến cứu cánh Niết Bàn, và động viên bằng một câu thần chú.

Một bản chú giải của Nhà Thiền học Nhật Daisetz Teitaro Suzuki do Tuệ Sĩ giới thiệu, thì cách dịch các danh từ "Bồ Tát Quán Tự Tại" và "Xá Lợi Tử" nên có sự chú ý. Bồ Tát Quán Tự Tại (phiên âm Hán của Bodhisattva  valokites'vara chuyển từ Phạn ngữ), bản dịch Việt chuyển từ bản Hán của

Cưu-ma-la-thập dịch là Bồ Tát Quán Thế Âm. Một bản giải nghĩa khác cho rằng có thể hiểu cụm từ này từ tiếng gốc chính là Đấng Tối cao Trí tuệ, người đại biểu cho trí tuệ từ bi, bác ái.

Xá Lợi Tử, bản dịch từ bản của Cưu-ma-la-thập là Xá Lợi Phất (phiên âm Hán của Sariputra), một đệ tử của Phật, người có vị trí quan trọng trong thứ bậc đệ tử Phật theo dòng Tiểu thừa, là một người thông minh, lý lẽ sắc bén.

Sau khi kiến giải lý lẽ "Sắc- Không", cách thực hành chứng nghiệm "Sắc-Không" đoạn cuối nói về một câu thần chú. Chính câu chú này lại là ngọn nguồn khơi nên những nhận định khác nhau, là cảm hứng cho những cảm nhận lý thú nhất về giáo lý nhà Phật.

Chuyển nghĩa Việt: "Cho nên phải biết rằng Bát nhã Ba la mật đa là đại thần chú, là đại minh chú, là chú vô thượng, là chú cao cấp nhất, luôn trừ các khổ não, chân thật không hư dối. Cho nên khi nói đến Bát nhã Ba la mật đa, tức là phải nói câu chú: Gate gate pàragate pàrasamgate bodhi svàhà"

Cần chú ý trong đoạn dịch trên đây, câu chú được ghi nguyên chuyển ngữ La tinh từ gốc Phạn ngữ (gate pàragate pàrasamgate bodhi svàhà), mà không theo phiên âm Hán -Việt (Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, Bồ Đề Tát Bà Ha). Chính từ cách dịch câu này, mà khiến cho cách chuyển dịch toàn bài kinh trở nên có tầm ý nghĩa hơn rất nhiều. Bởi vì, dù cho cách dịch là Bồ Tát Quán Tự Tại, hay Bồ Tát Quán Thế Âm, hoặc có bản dịch chuyển Việt hoá hoàn toàn là Ngài Tỉnh Thức Bình Yên, thì cũng chỉ là tranh luận trong cách hiểu nội hàm một từ gốc, chỉ một Đấng Bồ Tát trí tuệ và từ bi. Hoặc có bản dịch Xá Lợi Tử là "Đứa con dòng Sa-ri" cũng vậy thôi. Vấn đề cốt lõi là cách hiều câu thần chú. Vậy thì phải dịch câu thần chú ấy (Gate gate pàragate pàrasamgate bodhi svàhà) thế nào?

Bản dịch Việt ngữ thấy có khá nhiều, ví dụ, bản dịch theo Trịnh Nguyên Phước là "Vượt qua, vượt qua, vượt qua bên kia, hoàn toàn giác ngộ".

Có bản dịch là: "Qua rồi qua rồi, qua bên kia rồi, tất cả qua bên kia rồi, giác ngộ rồi đó!". Có bản dịch theo Tuệ Sĩ giới thiệu: "Này Bodhi, đi qua, đi qua, qua bờ bên kia, qua đến bờ bên kia, Svaha!".

Còn một bản dịch Việt hoá, bản dịch Bồ Tát Quán Tự Tại là Ngài Tỉnh Thức Bình Yên thì dịch câu chú là "Đi qua, đi qua. Đi qua bờ bên kia. Đã đi qua đến bờ bên kia, reo vui!"

Bạn đọc có thể đối chiếu thú vị một bản dịch tiếng Anh trên trang web Wikimepia.com câu thần chú này là "gone, gone, gone beyond, gone altogether beyond, Bodhi, rejoice", còn bản tiếng Pháp, câu thần chú là: "Allez, allez, allez au-delà, allez complètement au-delà, sur la rive du Satori".

Câu thần chú này chắc có lý do quan hệ đến tên bài kinh (Maha Prajnaparamita Hridaya Sutra) tức là “Bài kinh về cái tâm đạt được trí tuệ vô thượng đưa tới bờ bên kia"; Phiên âm Hán Việt: Maha Bát nhã Ba la mật đa Tâm Kinh, gọi tắt là Bát Nhã Tâm Kinh hay Tâm Kinh.

 

3. Một vài cảm nhận thi hứng từ Bát Nhã Tâm Kinh

 3.1 Thơ, diễn ca Bát Nhã Tâm Kinh

Nhiều bản kinh truyền ở Việt Nam đều có dạng diễn ca, Bát Nhã Tâm Kinh không ngoài quy luật đó. Nếu nói đó là kết quả của thi hứng từ bản kinh thì cũng không phải, bởi vì những bản kinh diễn ca này gánh vác nhiệm vụ hoằng pháp, truyền dẫn đạo pháp hơn là vai trò của một tác phẩm thi ca.

Có nhiều dạng bản diễn ca như lục bát, bản thơ 4 chữ, thơ 5 chữ. Nói chung các bản lục bát đều không hay, ghép vần rất khiên cưỡng. Ví dụ:

"Nầy Xá Lợi Tử xét ra

Không là sắc đó, sắc là không đây

Sắc cùng không chẳng khác sai

Không cùng sắc vẫn sánh tài như nhau..."

Ta thấy kiểu diễn ca "sắc cùng không chẳng khác sai" không thể truyền được tinh thần cơ bản "Sắc chính là không, không chính là sắc", có khi còn khiến cho Phật tử hiểu không đúng, không đầy đủ tính Không huyền diệu của bản kinh. Kiểu diễn ca này có lẽ nhằm vào đông đảo Phật tử để cho dễ nhớ, dễ thuộc.

Trong số những bản diễn ca thơ này, đáng chú ý nhất là bản thơ 5 chữ được truyền là của Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Bản thơ này lời lẽ nghiêm ngắn, tự nhiên, không có sự gò ép về vần điệu, dễ thuộc và điều quan trọng là đúng tinh thần bản kinh gốc. Ví dụ một đoạn:

Bồ Tát Quán Tự Tại

Khi quán chiếu thâm sâu

Bát Nhã Ba La Mật

(tức Diệu Pháp Trí Độ)

Bỗng soi thấy năm uẩn

Đều không có tự tánh

Thực chứng điều ấy xong

Ngài vượt thoát tất cả

Mọi khổ đau ách nạn.

Nghe đây Xá Lợi Tử:

Sắc chẳng khác gì không

Không chẳng khác gì sắc

Sắc chính thực là không

Không chính thực là sắc

Còn lại bốn uẩn kia

Cũng đều như vậy cả.

Xá Lợi Tử nghe đây:

Thể mọi pháp đều không

Không sanh cũng không diệt

Không nhơ cũng không sạch

Không thêm cũng không bớt..."

 

3.2 Cảm nhận thi hứng Bát Nhã qua một vài tác phẩm cổ

 Có lẽ, trong kho tàng thi ca Thiền, tác phẩm nổi tiếng nhất mang hương vị Thiền Đại thừa, đậm màu sắc ảnh hưởng của kinh Bát Nhã, là bài kệ của Thiền sự Vạn Hạnh:

"Thân như điện ảnh hữu hoàn vô

Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô

Nhâm vận thịnh suy vô bố úy

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô"

Bản dịch của Nguyễn Lang trong sách "Việt Nam Phật Giáo sử luận":

"Thân như sấm chớp có rồi không

Cây cối xuân tươi thu héo hon

Nhìn cuộc thịnh suy, đừng sợ hãi

Thịnh suy ngọn cỏ giọt sương hồng".

Bài kệ của Thiền sư Vạn Hạnh trước tiên là một thể loại ngữ lục Thiền, nói kệ mà truyền giáo lý, nên ngay từ lý do ra đời của nó cũng phải là hàm chứa triết lý sâu sắc của Phật giáo.

Tinh thần Bát nhã Tâm kinh có thể nhìn thấy hiển hiện ở ngay câu đầu tiên: Thân người ta như ánh chớp có đấy nhưng thực ra hoàn toàn là Không. Chẳng khác gì Bồ tát Quán Tự Tại "soi ra năm uẩn đều là Không".

Tuy nhiên, điều khác là bài kệ lại sống bền với thời gian như một thi phẩm. Đời sau đều liệt bài kệ này là một áng thơ đẹp. Thiền sư Vạn Hạnh, một người tu đạo, nhập thế tích cực, góp phần tạo dựng một triều đại hiển hách, lại là một thi sĩ lớn.

Đằng sau sứ mệnh truyền giảng nhân sinh quan, vũ trụ quan của nhà Phật, bài kệ là một bài thơ tứ tuyệt về thiên nhiên, cảm nhận của con người trước thiên nhiên. Con người trong thơ ung dung, tự tại, làm chủ vũ trụ. Điều huyền diệu của giáo lý Phật chính là cái nhìn duy vật về vũ trụ.

So với giáo lý các tôn giáo khác, con người Phật tử không do một lực lượng siêu nhiên nào tạo ra, mà tồn tại bình đẳng trong vũ trụ. Con người biết sự tồn tại của mình là Không, cũng như thiên nhiên vậy. Đây có thể là một bài thơ hoàn chỉnh mà thi hứng có lẽ được nâng đỡ bởi chính bản kinh Bát Nhã chăng?

Trong sách "Tuệ Trung thượng sĩ ngữ lục" có một bài thơ cũng khiến người ta liên tưởng ngay đến Bát Nhã Tâm Kinh, bài "Chợt tỉnh". Theo sách chú giải của Thiền sư Thích Thanh Từ, bài dịch như sau:

"Đoán rằng Không -Hữu chẳng khác nhau

Sinh tử vốn từ mạch sóng xao

Trăng sáng tối qua, nay trăng sáng

Hoa cười năm mới, năm cũ hoa

Ba đời nhanh chóng, gió đùa đuốc

Chín cõi xoay vần, kiến bò quanh

Hoặc hỏi thế nào là cứu kính

Maha Bát Nhã Tát Bà Ha"

Cảm hứng Bát Nhã Tâm Kinh rất rõ ràng ở bài thơ này. Có thể đây là một diễn tả kinh Bát Nhã bằng thơ vậy. Ngay từ đầu cũng là quan niệm "sắc là không, không là sắc" của Bồ tát Quán Tự Tại. Cuối cùng cũng kết bằng một câu có vai trò như một câu thần chú: Maha Bát Nhã Tát Bà Ha".

Ba đời ở đây là chiều thời gian từ quá khứ đến hiện tại rồi đến tương lai (nhanh như gió đùa ngọn đuốc). Cuộc luân hồi trong chín cõi theo quan điểm Phật giáo (như kiến bò quanh miệng chén mà thôi) mà muốn thoát ra, chỉ có tu tập theo Bát Nhã, đó là chứng đại trí tuệ theo phép tu Thiền, đó là hết tư duy, không suy diễn, là chứng thực tính Không.

Một bài thơ nữa có thể nhắc đến, đó là một bài kệ rất lạ của vua Trần Nhân tông. Lạ là tuy là bài kệ, nhưng lại như một bài thơ đượm màu trần tục. Đó có thể là một bài thơ "tả thực", một tác phẩm mà một nhà vua, nhà tu hành đã thâm nhập vào đời sống nhân quần rất sâu sắc, hiểu người, hiểu đời cặn kẽ. Bài dẫn này lấy theo Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận. Nguyên bản chữ Hán (trình bày văn bản viết liền cho tiện, in báo có thể trình bày theo thể thơ): "Hữu cú vô cú. Đằng khô thụ đảo. Kỷ cá nạp tăng. Chàng đầu ký não. Hữu cú vô cú. Thể lộ kim phong. Canh già sa số. Phạm nhẫn tương phong. Hữu cú vô cú . Lập tông lập chỉ. Đả ngõa toàn quy. Đăng sơn thiệp thủy. Hữu cú vô cú. Phi hữu phi vô. Khắc châu cầu kiếm. Sách ký án đồ. Hữu cú vô cú. Hộ bất hồi lộ. Lạp tuyết hài hoa. Thủ châu đãi thố. Hữu cú vô cú. Tự cổ tự kim. Chấp chỉ vọng nguyệt. Bình địa lục trầm. Hữu cú vô cú. Như thị như thị. Bát tự đả khai. Toàn vô ba tỵ. Hữu cú vô cú. Cố tả cố hữu. A thích thích địa. Náo quát quát địa. Hữu cú vô cú. Điêuđiêu đát đát. Tài đoạn cát đằng. Bỉ thử khoái hoạt".

Bản dịch: "Có có không không/ Giây khô cây ngã/ Thầy tu áo vá/ Đau não điên đầu/ Có có không không/ Thể lộ gió thu/ Hằng hà sa số/ Gươm nhọn va nhằm/ Đao bén chạm phải/ Có có không không/ Lập tông lập chi/ Đập ngói, xoi rùa/ Leo núi, lội sông/ Có có không không/ Chẳng có chẳng không /Ghi dấu mạn thuyền/ Sau này tìm kiếm/ Xách theo họa đồ/ Đi lùng ngựa đẹp/ Có có không không/ Hoặc có giữ gìn/ Hoặc không giữ gìn/ Tuyết trên nón lá/ Hoa trên hài nhung/ Ôm cây đợi thỏ/ Có có không không/ Từ xưa tới nay/ Chấp vào ngón tay/ Quên mất mặt trăng/ Đất bằng chìm xuống/ Có có không không/ Như thế như thế/ Tám chữ tháo tung/ Không nơi bám víu/ Có có không không/ Nhìn trái nhìn phải/ Tra tra xét xét/ Phố chợ ồn ào/ Có có không không/ Lo lắng xót thương/ Cắt đứt sắn bìm/ Bên đó bên đây/ Thảy đều khoái hoạt"

Có thể thấy bức tranh toàn cảnh đời sống nhân gian ở đây. Tất cả đều không ngoài tríêt lý "Có tức là không, không tức là có" của kinh Bát Nhã. Dưới con mắt của người tu đạo, biết đạo Bát Nhã "soi ra năm uẩn đều là Không", thì nhiều hoạt động náo nhiệt của đời sống, dù nghiêm ngắn cao quý hay cho là cao siêu đến đâu, nếu không hiểu tính Không, đều là "khoái hoạt", là hài hước, mua vui trong vũ trụ. Thoát vòng tục luỵ ấy nhờ đâu? Chính là cái Tâm Trí tuệ đạt đến bờ bên kia của tinh thần Bát Nhã. Bài kệ như là một loại đồng dao vẫn tồn tại trong dân gian.

Điều lạ lùng tuyệt vời là một ông vua, một vị giáo chủ lại chọn phương thức dân dã đến thế để truyền giảng giáo lý. Phải hiểu người, hiểu đời như thế nào mới làm được như vậy.

Đọc bài thơ này, từ phía chân trời bác học, người ta liên tưởng đến Bát Nhã Tâm Kinh, ở phía đời trần tục, người ta thấy như sống với tâm hồn trẻ mục đồng, hát đồng dao "tập tầm vông tay không tay có, tập tầm vó tay có tay không".

 

 3.3. Cảm nhận thời hiện đại từ bản kinh Bát Nhã

 Như đã nói về cách hiểu câu thần chú "Gate gate pàragate pàrasamgate bodhi svàhà" khi kết bài kinh này. Các bản dịch nương theo Phạn văn hay Hán văn có những chỗ khác nhau. Theo một nhà nghiên cứu Phật học, nên đọc câu chú này khi đọc Kinh Bát Nhã là nên dùng phiên âm từ gốc Phạn ngữ, chứ nếu  đọc âm Hán Việt "Yết đế, yết đế..." thì không có nghĩa gì cả.

Tuy nhiên, một cách quan niệm khác về câu thần chú này theo tinh thần Thiền, câu thần chú này không phải để "hiểu" mà dùng để "trực chỉ nhân tâm", phù hợp với phương châm chân truyền "bất lập văn tự", cái tâm không ý niệm, tính không huyền diệu, không phải không có gì theo nghĩa hư vô mà là hàm chứa tất cả theo tinh thần bài kinh.

Thiền sư Thích Thanh Từ chú giải: "Khác với phần đầu dùng ngôn từ, ý niệm để giảng giải, câu chú kết thúc này đánh thẳng một chùy vào trực giác, vào cái tâm đã mở rộng để sẵn sàng đón nhận trí tuệ vượt khỏi ngôn từ".

Điều này, theo Thiền sư, tương tự như những bài kệ mà Thiền sư Trì Bát đời Lý và bài kệ của Thiền sư Tông Cảnh tán Tuệ Trung thượng sĩ, đều kết có câu "án tô rô tô rô tất rị".

Bản dịch của Tuệ Sĩ về kiến giải của Thiền  sư Suzuki, sau khi cho rằng Bồ Tát Quán Tự Tại dẫn dụ chữ Không bằng những phủ định trong bài kinh, thì "Đạt đến lúc ngài Quán Tự Tại xướng tụng Gate gate pàragate pàrasamgate bodhi svàhà đó là sự phóng xuất vọt ra từ nội tâm của Ngài khi Ngài sang ngang dòng phủ định. Ngài là hành giả của Bát-nhã ba-la-mật-đa, không thể vĩnh viễn quanh quẩn trong một vòng tròn phủ định. Một khi Ngài đi đến đích, kiệt sức và vô vọng, chẳng còn ước mong nào trước mặt, và Ngài biết những gì đã bị bỏ lại đằng sau. Nhưng vẫn có cái thúc đẩy bước tới. Trí năng và xúc cảm hoàn toàn cùng tận, Ngài thực hiện bước nhảy tối hậu. Bứt lìa đoạn dây cuối cùng trói buộc Ngài vào thế giới của đối đãi và “tự lực.” Ngài thấy mình đứng trên bờ bên kia. Bị áp đảo bởi các tình cảm của mình, Ngài chỉ có thể đọc lên “Gate!”. Rồi thì, Gate trở thành câu thần chú của Ngài, Gate trở thành thần chú của Bát-nhã ba-la-mật-đa. Với sự phóng xuất đó, mọi vật bừng sáng, và Quán Tự Tại đã tu tập Bát-nhã đến chỗ cuối cùng..."

Vào thời khai sinh ra bài kinh này cách đây gần hai nghìn năm, sinh hoạt cộng đồng còn rất sơ khai, kết cấu bài kinh với câu thần chú cuối cùng có thể là mẫu mực của một thể loại diễn văn hiện đại. Các nhà hoạt động chính trị xã hội ngày nay đọc diễn văn trước quần chúng đông đảo, thường kết bằng một khẩu hiệu hùng hồn, thúc giục lòng người, đó là cách "đánh một chuỳ vào trực giác, trực chỉ nhân tâm", sau khi giao giảng vận động, như kiến giải của các Thiền sư. Không khác tinh thần khuyến khích "Vượt qua, vượt qua, vượt qua bên kia..." của bài kinh Bát Nhã.

Bản tiếng Anh câu thần chú "Gone, gone..." và bản tiếng Pháp "Allez, Allez..." đối chiếu, càng làm cho người ta có thể tin chắc tinh thần của câu chú là một sự khuyến khích. Chuyển ngữ tiếng Việt phải là "Đi đi, đi lên đi, đi sang bờ bên kia đi, đạt đến Trí tuệ vô thường". Đó cũng là một dạng khẩu hiệu đối với cộng đồng.

 

3.4. Bản lời Quốc ca Việt  Nam có thi hứng tử Bát Nhã Tâm Kinh

Không hiểu sao, khi nghiền ngẫm câu chú này, tôi cứ thấy vang lên câu hát của bài Quốc ca Việt Nam, câu hát kết: "Tiến lên, cùng tiến lên, nước non Việt Nam vững bền". Kết cấu bài Quốc ca của Văn Cao giống kỳ lạ với bản Bát Nhã Tâm Kinh. Xét cho cùng, toàn bài Quốc ca của Văn Cao xây dựng trên tư duy phủ định xã hội cũ, dẫn dụ nguyên nhân và cách thức "Đoàn quân Việt Nam chung lòng cứu quốc".

Tác giả kêu gọi từ tâm can mình với mọi người "đứng đều lên gông xích ta đập tan", và "Quyết hy sinh đời ta tươi thắm hơn", cuối cùng kết lại bằng một câu hát hùng tráng, như một khẩu hiệu thúc giục: "Tiến mau ra sa trường. Tiến lên, cùng tiến lên, nước non Việt Nam vững bền" mà tác dụng của nó, giống như các Thiền sư giải thích về câu thần chú trong Bát Nhã Tâm Kinh.

Rõ ràng, kết cấu câu hát cuối không khác mấy với câu thần chú: "Vượt qua, vượt qua, vượt qua bờ bên kia, đạt tới Trí tuệ Bát Nhã". Có bản Việt hoá triệt để: "Qua bờ bên kia, qua rồi, reo vui" cũng là tinh thần ấy.

Không hiểu Văn Cao khi viết bài Tiến quân ca có đọc kinh Bát Nhã hay không, hoặc giả ông có ảnh hưởng của Bát Nhã Tâm Kinh hay không thì không bao giờ mọi người biết. Cũng chưa nghe thấy điều này ở bất kỳ người nào được tiếp xúc với Văn Cao. Nhưng có một điều là bản Tiến quân ca của Văn Cao có sức ảnh hưởng kỳ lạ đến đông đảo quần chúng. Sự ảnh hưởng, hay nói đúng hơn là ám ảnh khó lý giải, về một tâm sự hùng tráng, một sự thôi thúc hướng đến cái đẹp Chân -Thiện Mỹ. Không thể lý giải nổi, nhưng rất khó dứt ra được, có thể khiến con người bừng tỉnh vì lý tưởng cao đẹp. Lịch sử chứng nghiệm sự tồn tại của bản Quốc ca Việt Nam đã minh định điều đó. Mẫu số chung về tư duy của các tác phẩm lớn là như vậy chăng, không nói thành lời kiểu "bất lập văn tự", nó chỉ "trực chỉ nhân tâm" mà thôi.

Ghi chú tham khảo:

*. Phiên âm Hán Việt

 Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. Xá Lợi Tử, sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thọ tưởng hành thức diệc phục như thị. Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất

cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức. Vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp,

vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới. Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận. Vô khổ, tập, diệt, đạo. Vô trí diệc vô đắc, dĩ vô sở đắc cố. Bồ đề tát đõa y Bát nhã Ba la mật đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn.

Tam thế chư Phật, y Bát nhã Ba la mật đa cố, đắc A nậu đa la Tam miệu Tam bồ đề.

Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư.

Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết Yết đế yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.

 

* Bản dịch tiếng Việt

 Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành thâm sâu về trí tuệ Bát Nhã Ba la mật, thì soi thấy năm uẩn đều là không, do đó vượt qua mọi khổ đau ách nạn. Nầy Xá Lợi Tử, sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắc, sắc chính là không, không chính là sắc, thọ tưởng hành thức cũng đều như thế.

Nầy Xá Lợi Tử, tướng không của các pháp ấy chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt. Cho nên trong cái không đó, nó không có sắc, không thọ tưởng hành thức. Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý. Không có sắc, thanh, hương vị, xúc pháp. Không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới.

Không có vô minh, mà cũng không có hết vô minh. Không có già chết, mà cũng không có hết già chết. Không có khổ, tập, diệt, đạo. Không có trí cũng không có đắc, vì không có sở đắc. Khi vị Bồ Tát nương tựa vào trí tuệ Bát Nhã nầy thì tâm không còn chướng ngại, vì tâm không chướng ngại nên không còn sợ hãi, xa lìa được cái điên đảo mộng tưởng, đạt cứu cánh Niết Bàn. Các vị Phật ba đời vì nương theo trí tuệ Bát Nhã nầy mà đắc quả vô thượng, chánh đẳng chánh giác. Cho nên phải biết rằng Bát nhã Ba la mật đa là đại thần chú, là đại minh chú, là chú vô thượng, là chú cao cấp nhất, luôn trừ các khổ não, chân thật không hư dối. Cho nên khi nói đến Bát nhã Ba la mật đa, tức là phải nói câu chú: Gate gate pàragate pàrasamgate bodhi svàhà.

  28/11/2008 (Bài đã đăng Tạp chí Nghiên cứu Phật học -Tạp chí của Giáo hội Phật giáo Việt Nam)

Chưa có bình luận nào !
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : uzg7u2