Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
nguyen thi cam tu

Bình Luận của nguyen thi cam tu

cac ban oi cho minh y kien nhe. vay tom lai ho quy ly duoc xem la anh hung hay gian hung
ngo panbin

Bình Luận của ngo panbin

Khong nen binh luan danh gia cac nhan vat LSU mot cach thieu cong bang. Troi sinh ra kg ai hoan hao. trong cuoc song ban muon lam viec that hoan hao, nhung co bao gio dc kg ??? vi vay lanh dao mot dat nuoc khi hanh dong trong cong viec, cung nhu trong cuoc song doi thuong,co gi do kg hoan toan tot dep,co gi do khiem khuyet, ta cung nen luong thu ma bo qua cho ho, mien sao cai sai kg qua tram trong,cai lam duoc cho dantoc datnuoc de den hom nay chung ta va lich su thay dung dan co ich la qua tot va can ton vinh cong lao do, Cac ban co khi nao lam lanhdao va dung truoc ap luc that su lon chua ??? khi do kho tam lam ban oi !!!
Vay nen toi khuyen cac ban can co tam long bao dung hon voi nhung ai da lam tot, co loi cho datnuoc va dantoc vietnam, Du ho khac ching kien khac quan diem chinh tri voi ban, nhung chung ta la mot me auco sinh tram trung, va bo coi viet nam neu co mat vao tay ke nuoc ngoai ban chac se that su dau long. Con ben CSan hay QGia thi suy cho cung chua phai qua toi te, truoc het la cham dut chien tranh som di doi voi dong nghia su giet choc nhau giua nguoi vnam voi nhau kg con,dat nuoc ven toan mot moi, dan bot lam than kho cuc,Phia ban va phia toi, tat ca la conrongchautien,
Toi kg quan trong cai ten, CN CSan, CN MACLENIN hay chu nghia nao nao di nua, nhung dem lai dieu tot cho dongbao datnuoc vnam la dc, CN nao cung vay neu kg dclongdan, ban kg can thucday kg can dautranh ma tu no cung sup do va dongbao trong nuoc se lam viec do,
Phan Văn Hoàng

Bình Luận của Phan Văn Hoàng

Xin góp hai ý :
1- Tên tờ báo là NÔNG CỔ MÍN ĐÀM (nghĩa : uống trà nói chuyên làm nông và buôn bán). Không phải MÍM ĐÀM.
MÍNH là trà non. Cụ Huỳnh Thúc Kháng có bút hiệu MÍNH VIÊN (vườn trà non)
Người Nam Bộ phát âm -IN thành -INH, nên viết MÍNH thành MÍN.
2- Người ĐỒNG BANG là người cùng chung một nước.
Do người Nam Bộ phát âm lẫn lộn -AN và -ANG nén viết sai đồng BANG thành đồng BAN.
PVH
Bút Ký Tôn Giáo
Về bài thơ Xuân nhật tức sự của Huyền Quang: Thiền hay lãng mạn

 Bài này là bài thơ chữ Hán, có tên "Xuân nhật tức sự", tức "Tức cảnh ngày xuân". Trong nhiều tài liệu được cho là tác phẩm của Huyền Quang. Nhưng cũng có tài liệu cho rằng, đây là bài thơ Thiền đời Tống.

Huyền Quang, tên thật là Lý Đạo Tái (1254-1334) đỗ tiến sĩ đời Trần, làm quan, sau đó đi tu. Quãng đời đi tu của ông để lại tiếng thơm, vì ông là Tổ thứ 3 của Thiền phái Trúc Lâm (Sau vua Nhân tông và Pháp Loa).
 Nguyên văn bài thơ này như sau:
二八佳人刺繡持,
 紫荊花下轉黃鸝。
可憐無限傷春意,
盡在停針不語時。
 
Phiên âm: Xuân nhật tức sự
Nhị bát giai nhân thích tú trì,
Tử kinh hoa hạ chuyển hoàng ly.
Khả liên vô hạn thương xuân ý,
Tận tại đình châm bất ngữ thì.
 
Dịch nghĩa: Tức cảnh ngày xuân
Người đẹp tuổi vừa đôi tám, ngồi thêu gấm chậm rãi,
Dưới lùm hoa tử kính đang nở, líu lo tiếng chim oanh vàng.
Thương biết bao nhiêu cái ý xuân,
Cùng dồn lại ở một giây phút, đứng kim và im phắc.
 
Bản dịch thơ của Nguyễn Xuân Hưng: Ngày xuân
Người đẹp ngồi thêu gấm mê say
Dưới hoa chim hót động vòm cây
Cảm nỗi ý xuân thương biết mấy
Dồn vào phút lặng chợt ngừng tay
 
Tham khảo bài dịch của Nguyễn Huệ Chi: Ngày xuân tức cảnh
Lỏng tay thêu gấm, gái yêu kiều,
Hoa rợp, oanh vàng lảnh lót kêu.
Bao nỗi thương xuân, thương biết mấy,
Là khi không nói, chợt dừng thêu.
 
Mở đầu, 2 câu thơ của Huyền Quang, diễn giải ra là: Một cô gái 16 tuổi ngồi thêu gấm, hoa tử kinh nở, chim hoàng ly bay nhảy ca hát. Đó chắc là một khung cảnh lãng mạn. Hai câu đầu bài thơ là bức tranh đẹp, thanh bình và thơ mộng.
Hai câu đầu này, có thể nhiều nhà thơ “không Thiền” cũng làm như vậy. Nhìn sơ qua, nó là phép tả thực. Thi sĩ thấy thế nào, tả thế đó. Tất nhiên, hình ảnh thực tại phải qua nhận thức của bản thân thi sĩ.
Song, nếu không phải một nhà Thiền học, thì có lẽ không làm như 2 câu thơ tiếp theo.
Bằng phép diễn dịch thô sơ, hai câu ấy có nghĩa là: Có nỗi niềm thương vô hạn ý xuân; chính là dồn lại ở phút dừng kim thêu, im lặng.
Bắt đầu có sự khó hiểu.
Đến đây, bắt buộc phải nói qua về Thiền và Thiền Trúc Lâm. Không thể không nói.
Thiền Trúc Lâm mà Huyền Quang là đại diện, tổ thứ ba của Thiền phái, là Thiền kế tục Thiền tông. Lịch sử Thiền trôi chảy từ Thiền Phật giáo Nguyên thủy đến Thiền Đại thừa, rồi đến Thiền của Thiền tông, là một quá trình biến đổi quan niệm Thiền, biến đổi cách hành Thiền. Phép tu Thiền có hành động tu, và có chứng. Tu là nhận thức thế giới khách quan thông qua tâm (trực chỉ nhân tâm), có ảnh hưởng ở truyền thống Định và Quán từ thời Phật tổ. Chứng là biến cố ngoài thời gian, nhận thức sự thật mà cuộc đời vô thường đang diễn ra, và chứng đến tận cùng thì thấy được Tính, tức là đạt đến Giác Ngộ. Như vậy, tu thì có thể dần dần, mà chứng thì có thể bất thình lình, trong phép tu Thiền, gọi là Đốn Ngộ. Trong các pháp môn, thì Thiền còn được gọi là Đốn Giáo, tức khi đã tu đến mức nào đó đạt đến Kiến Tính, tức có Đốn Ngộ, tức thình lình thành Phật (kiến tính thành Phật). Thiền Trúc Lâm kế thừa Thiền tông, cho rằng, về lý luận, có thể thành Phật ngay cõi đời này. Trần Nhân Tông đã phát biểu tóm tắt chân lý “Cư trần lạc đạo” cũng là chuyên chở tinh thần này.
Trong bài thơ Xuân nhật tức sự, có hai quá trình Thiền lồng vào nhau.
Khi nói về cô gái 16 tuổi (đôi tám = 16, cách nói thời xưa) đang ngồi thêu, có thể hiểu cô ta thêu dưới dàn hoa có hoa nở, chim hót. Song, thực ra cũng có thể hiểu, cô ta đang thêu hoa, thêu chim. Dưới bàn tay cô, hoa và chim đang dần dần hiện ra. Cô gái đang nhận thức cuộc sống vô thường này, đó là một dòng chảy biến đổi không ngừng, hoa nở, chim chuyền. Bàn tay thêu chính là phép tu trong Thiền học, mà hoa và chim là chứng quả. Cô gái cứ thêu thong thả, say mê, đến một lúc nào đó bàn tay ngừng, vạn vật im lặng, đó là giây phút của Đốn ngộ, của kiến tính. Đấy chính là khi nhận thức được Xuân ý. Xuân ý ở đây chính là Phật tính của quá trình sự việc đã diễn ra.
Song, cũng có một quá trình Thiền khác, một vòng tròn bao quát cả quá trình trên. Tức là xuất phát từ tâm tác giả. Tác giả ở đây đã ẩn mình, nhưng vẫn hiện rõ cái bản ngã khi ông ta miêu tả cảnh xuân: một cô gái, dưới hoa và chim đang chuyền cảnh ca hát. Nếu chỉ thế thôi, thì mọi thi sĩ cũng đã thấy. Đó là quá trình tu chứng của người đang Thiền. Nhưng với Thiền sư, ông đã phát hiện ra Xuân ý trong cái khung cảnh khi mà cô gái ngừng tay thêu, vạn vật im phắc. Đó là khung cảnh tưởng tượng, trong một giây phút chưa chắc có thật trong thực tế, nhưng mà về mặt lý thuyết thì giây phút ấy chắc chắn tồn tại. Đối với tác giả, cả cô gái và hoa và chim đều là chứng trong phép tu Thiền, để đạt đến kiến tính là Xuân Ý. Đó là phút Đốn Ngộ, mà Phật tính mang nội dung của Ý xuân. Đó là phút giây tâm không vướng bận, cõi Niết Bàn ở ngay cuộc sống này. Từ khi đạt đến "ngừng tay, ngừng tiếng" tức là đạt đến nơi Kiến tính, qua phép Đốn Ngộ, thì hiện rõ cái Không. Phút Không huyền diệu ấy không còn phụ thuộc tác giả nữa, nó là tự do tuyệt đối, không vướng bận...
Có thể liên hệ tư tưởng Thiền trong các bài thơ Thiền khác. Một bài nổi tiếng là bài “Cáo tật thị chúng” của Mãn Giác Thiền sư, hay “Ông chài” của Thiền sư Không Lộ… vân vân.
Có tác giả là Giáo sư Tiến sĩ ở Trường Đại học Khoa học và Nhân văn (NPH) đã phân chia thơ Lý Trần thành 2 loại: Thơ Thiền triết học và Thơ Thiền lãng mạn. Hồi còn biên tập Tạp chí Nghiên cứu Phật học, tôi chém hầu hết bài luận lê thê này, chỉ để lại phần tóm tắt. Thơ Thiền mà phân loại thành 2 loại như vậy, thực sự có làm luận án tiến sĩ nọ kia, thì cũng không hiểu quái gì về Thiền cả. (Dĩ nhiên sau đó ông ấy phản ứng rất dữ dội)
Cái gọi là “Thơ Thiền” tức là phải nhìn thấy thông điệp về tư tưởng Thiền trong bài thơ ấy. Mà Thiền thì có phải là một phép thực hành viễn tưởng nào đâu, có phải phép tu tập của người ngoài trái đất đâu. Cho nên, trước hết, thơ ca dù có mang tư tưởng Thiền, cũng là một tác phẩm văn học tức nó phản ảnh cuộc sống, trước hết, nó phải là “thơ”. Mà đã là thơ chuyên chở tinh thần Thiền thì phân loại thành “Triết học” hay “Lãng mạn” đều là việc làm kỳ khu không cần thiết, nếu không nói thẳng là hiểu rất lệch lạc.
Tất nhiên, khi đọc bài thơ không phải với con mắt Thiền học, thì bài thơ vẫn là một tác phẩm văn học hoàn thiện. Đây là một thể tuyệt cú. Loại thơ 4 câu này có truyền thống từ Đường thi. Đường thi cũng chịu ảnh hưởng của không khí xã hội Trung Quốc khi đó nặng tinh thần Thiền tông Trung Hoa, chuyên chở cả Lão giáo trong đó. Tinh thần này truyền vào Nhật, được người Nhật rất thích, tích hợp với tinh thần Võ sĩ đạo, thành triết lý Tĩnh nổi tiếng của Nhật.
Với cái nhìn thông thường, bài thơ Xuân nhật tức sự cũng là một bài thơ hay, có thể bình rằng, đó là khung cảnh xuân lãng mạn, mà phút lắng đọng đã được tác giả nhin thấy giữa dòng chảy đầy tính động của mùa xuân. Đó là xuân ý trong tâm hồn con người giữa mùa xuân... vân vân...
Long Châu Gửi lúc : (25/10/2013 | 07:38:00)
thích đọc chậm bài này ạ!
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : uuleu8