Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Duy Minh

Bình Luận của Duy Minh

Nhiều lần đọc những bài viết của nhà văn, biết bác người xứ Đông cháu cũng cảm thấy đồng cảm như người đồng hương. Liệu có một ngày nào đó, Hải Dương và Hải Phòng có thể nhập lại làm một, cái tên Hải Đông có lẽ thích hợp hơn cả. Thật buồn là đến giờ nhiều người ở VN (bao gồm không ít người có uy tín trong các ngành văn hóa, giáo dục, sử học) và cả những người Việt sống ở hải ngoại vẫn cho rằng nhà Mạc ra đời là một sai lầm của lịch sử VN và Mạc Đăng Dung cắt đất cho ngoại bang! Hành động hạ mình có vẻ thái quá của Thái thượng hoàng nhà Mạc (lúc này ông không còn làm vua nhưng nhiều người không quan tâm chi tiết lịch sử này) sau này vua nhà Lê trung hưng lặp lại thì lại được sử quan triều Lê-Trịnh cho qua! Giờ đang sống trên mảnh đất Nam bộ vốn là đất cũ của Chân Lạp, cháu tự hỏi không có thế kỷ 16 với những biến động lớn thì liệu dân Bắc Hà chúng ta chỉ có mỗi cái chốn Hà Thành để tranh giành quyền cai trị lẫn nhau hết đời này qua đời khác thôi sao?
Nguyễn Việt Long

Bình Luận của Nguyễn Việt Long

Chi tiết "lãnh tụ cực tả của QDĐ Lão Trung Kha" viết sai tên. Chả có ai là Lão Trung Kha cả, đó là Liêu Trọng Khải.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Tôi không rành về Lào cho lắm, nên không hiểu chế độ hiện nay như thế nào? Nhiều khi thấy thế giới phân loại các quốc gia cộng sản gồm 5 nước thì có Lào. Nhưng đọc một văn bản của Cộng đồng Châu Âu xếp loại 4 nước cộng sản trên thế giới thì không có Lào. Nghe nói, họ còn bảo VN sang mà đưa tượng ông cụ về đi.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Bút Ký Tôn Giáo
Phật giáo và nhân sinh quan của vua Trần Thái tông
*Dẫn nhập
Chắc rằng khá nhiều người Việt Nam biết đến vua Trần Thái tông, vị vua mở đầu triều đại nhà Trần với võ công hiển hách 1 lần chiến thắng quân Mông cổ, 2 lần chiến thắng quân Nguyên. Ông còn là vị vua có tài trị nước, thống nhất các thế lực cát cứ, chinh phục phương Nam, xây dựng triều đại văn trị, đưa Phật giáo thành địa vị thống soái về tư tưởng trị nước, yên dân. Và, điều đáng kể là Trần Thái tông cũng là một cư sĩ vĩ đại, am hiểu Phật pháp, một thi nhân với tác phẩm được coi là của chính Trần Thái tông: Khoá hư lục.
Tuy nhiên, qua sách báo và tuyên truyền, dân cư chỉ biết đến Thái tông là một vị vua đã chiến thắng quân Mông cổ, vua sáng khởi triều Trần; còn qua thư tịch và trao đổi, phần lớn cuộc đời nhà vua được phác hoạ trong bộ sử Đại Việt sử ký toàn thư và một vài tác phẩm Phật học còn lại đến nay như Khoá hư lục, Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục và một vài bài thơ được coi là của nhà vua. Qua đó, Thái tông Trần Cảnh được coi như con người chất chứa một khối mâu thuẫn lớn. Là con người của xã hội phong kiến nhưng chịu phần tai tiếng về đổi vợ, anh em bất hoà; là nhà vua nhưng trị vì phần lớn thời gian dưới cái bóng rợp của Trần Thủ Độ; tham chính sống đời nhưng tâm trí lại hướng về cửa Phật... Và có lẽ, chính giáo lý nhà Phật đã làm cân bằng những khối mâu thuẫn lớn trong cuộc đời thi nhân Trần Cảnh, nhà vua Thiên Ứng Chính Bình, Nguyên Phong. Chắc rằng, tư tưởng cư sĩ Phật tử đã có vai trò rất lớn trong việc hình thành tư tưởng và nhân sinh quan của Thái tông Trần Cảnh. Với ông, đã chắc gì Phật giáo chỉ là một bộ giáo lý tín ngưỡng, có thể nó còn là một công cụ trị nước, hành đạo mà không xuất thế lánh đời.

1. Cuộc đời Trần Cảnh- một khối mâu thuẫn lớn được điều hoà bằng chính tư tưởng Phật giáo. Trần Cảnh sinh năm 1218, giữa lúc nhà Lý suy vi, nhà Trần đang củng cố thế lực đang lên nhờ một đôi trai tài gái sắc của dòng họ là Thủ Độ và Thị Dung. Một người làm Điện tiền chỉ huy sứ cai quản ngự lâm quân, một người là hoàng hậu nhà Lý mẫu nghi thiên hạ.
Trần Cảnh được đưa lên làm vua năm 1226, tức khi đó ông mới 9 tuổi. Năm đó, anh trai Trần Cảnh là Trần Liễu (1211-1251) đã 16 tuổi, câu hỏi thông thường khi đọc sử liệu là tại sao Trần Thủ Độ lại không chọn Trần Liễu để nhằm vào ngôi vua? Kể cả khi Trần Liễu đã lấy công chúa Chiêu Thánh, thì Thủ Độ vẫn có lý để vua Lý nhường ngôi cho Chiêu Thánh? Câu trả lời thường là: Nhường ngôi cho con nhỏ thì Thủ Độ dễ điều khiển triều chính hơn.
Tuy nhiên, khi xem xét cuộc đời Thái tông và An sinh vương sau này, mới thấy quyết định của Trần Thủ Độ có phần sáng suốt. Câu trả lời là ở chính tư chất của hai người và có lẽ Thủ Độ đã nhìn thấy rất rõ phần thiên tư ở mỗi người cháu mình. So với Trần Liễu, Trần Cảnh hiền hoà hơn, nhân hậu hơn. So với Trần Cảnh, Trần Liễu nhuốm màu đời phàm tục nhiều hơn. Điều này dễ lý giải, khi Trần Liễu nắm quyền bính sớm, có điều kiện hưởng lạc sớm, cả đến sau khi triều đại nhà Trần lập ra rồi, anh chàng tay chơi Trần Liễu vẫn không giấu được khi ông Hiển hoàng vào chầu qua cung Lê Thiên năm 1236, cưỡng hiếp cả cung nữ cũ của triều Lý, không còn coi quốc thể vào đâu cả.
Một khi đã có tư chất thiên bẩm hiền hoà, thông tuệ thì con đường đến với giáo lý Phật pháp, đi đến từ bị giác ngộ, hướng đến trí tuệ Bát Nhã chắc chắn là một nghiệp. Trần Cảnh được chọn ở ngôi cao chắc hẳn là vì vậy, và đây cũng là một thiên nhãn của Trần Thủ Độ, một đức tính cần thiết của người làm “công tác tổ chức- cán bộ” như cách nói của ngôn ngữ ngày nay.
Cuộc đời Trần Cảnh chắc hẳn năm 1236-1237 là năm có nhiều cú sốc lớn. Khi đó, do xếp đặt của Trần Thủ Độ và Trần Thị Dung mà Trần Liễu bị ép nhường vợ là công chúa Chiêu Thánh cho Trần Cảnh để lập hoàng hậu; còn người vợ 10 năm của Trần Cảnh, hoàng hậu Chiêu Hoàng nhà Trần, thì bị giáng làm công chúa. Lợi ích của dòng họ đã được đặt lên trên hết, trong đó những cá nhân như anh em Trần Liễu, Trần Cảnh phải hứng chịu những oan nghiệt và hy sinh cái cá nhân nhỏ bé của họ. Trong bối cảnh ấy, cách ứng xử của Trần Cảnh đã cứu cho nhà Trần khỏi một cuộc đổ máu, nói không ngoa, cứu cả quốc gia xã tắc khỏi một phen binh đao mà hậu hoạ nếu có sẽ khôn lường.
Lịch sử cũng có nhiều hoàn cảnh tương tự, khi anh và em tranh nhau ngôi vua, và tất yếu phải có một bên thắng và một bên phải chết. Các hoàng tử nhà Đường đã tranh nhau ngôi vua, Lý Thế Dân đã giết các em để chiếm ngôi. Lý tự nhiên phải vậy. Trần Thủ Độ một người quyền biến càng hiểu phải như vậy. Nhưng khi đó, vua Thiên Ứng Chính Bình lại ứng xử không theo nguyên tắc ngôi thứ, mà cách tha cho Trần Liễu làm loạn lại là cách ứng xử của con người Trần Cảnh, đến nỗi Trần Thủ Độ đã phải ném gươm mà than: “Ta chỉ là con chó săn thôi, biết đâu anh em nhà ngươi thuận nghịch thế nào”. Câu than ấy chứa đựng cả thái độ vừa giận vừa phục của Thủ Độ. Với cách ứng xử đậm tình người của Trần Cảnh, thì những gươm đao của nhà chính trị Trần Thủ Độ “chỉ là con chó săn thôi”.
Sau này, Trần Dụ tông có thơ ca ngợi Trần Thái tông, so ông với vua Đường Lý Thế Dân, nhưng thực ra, đó là hai loại ứng xử không thể so sánh được. Khi giết em, Lý Thế Dân giống như Trần Thủ Độ, đứng trên vị thế một ông hoàng, nhà chính khách. Còn khi tha cho Trần Liễu, Trần Cảnh là một người em đối với anh, người em có cái lỗi cũng... tày trời chứ. Nhưng nếu không phải là một cư sĩ, thì Trần Cảnh có hành động như vậy được không?
Lòng nhân ấy do đâu mà có? Nếu không có giáo lý Nhà Phật soi đường, Trần Cảnh cũng không thể làm thế được. Con người mang tiếng cướp chị dâu làm vợ ấy, lạ thay, lại có bài văn “răn giới sắc”. Do sắc đẹp nữ nhi mà “kẻ mê say đoạn nghĩa thày bạn; người tham đắm đức mất đạo tan. Trên mà phong giáo chẳng còn, dướt tất khuê môn rối loạn”. Nếu đó chính là bài văn của vua Trần Thái tông, thì hẳn không chỉ là “răn dạy” mà còn là chiêm nghiệm. Nhưng dù có là chiêm nghiệm cuộc đời thì nếu không “chỉ giương mắt nhìn ngoại cảnh, chẳng quay đầu chiếu nội tâm” thì nhà vua cư sĩ cũng không thể nhận thức được. Với Trần Cảnh, có lẽ quan niệm về giới sắc của ông đủ thực tế, nhưng không đến nỗi ham hố như các đáng quân vương khác. Ông viết: “Cởi bỏ lụa là quanh mình, vẫn lộ da bì bọc thịt”. Coi khinh sắc đến thế, mà vẫn phải phạm vào luân thường để giữ ngôi vua, nỗi cô đơn và thống khổ của cá nhân con người Trần Cảnh thật không gì tải nổi. Và ông chỉ có thể dốc nỗi lòng trong một văn phẩm Phật học. Tư tưởng Phật tử hẳn đã làm thăng bằng lại những mâu thuẫn cá nhân trong ông. Ông lý giải ở thiên “bàn về Giới, Định, Tuệ” trong Khoá hư lục: “Tuệ làm thiện cuối. Bởi biết thấy như thật, nên sinh lo chán. Bởi lo chán nên lìa dục. Bởi lìa dục nên giải-thoát”
Năm 1237 cũng là năm Trần Thái tông có một quyết định lạ lùng: Bỏ ngôi vua trốn lên Yên Tử để xuất gia tu Phật. Trong mối mâu thuẫn giằng xé (đổi vợ, lấy chị dâu), giữa lúc nguy cơ loạn ly (Trần Liễu nổi loạn), vương triều Trần sụp đổ trong gang tấc, thì nhà vua lại trốn đời vào núi đi tu? Thoạt tiên, có thể hiểu đơn giản là Thái tông chán ngôi vua nên bỏ vào núi muốn làm sư. Ngôi vua mà sinh ra những chuyện tranh đoạt, sinh ra phá bỏ cả luân thường đạo lý, ngôi vua mà sinh ra nhiều chuyện đau khổ thì đi tu chứ còn làm gì nữa? Nếu hiểu như vậy, thì lẽ nào đạo Phật lại có thể có vai trò quan trọng đến thế trong sự hưng phát của vương triều Trần?

2. Cuộc đời nhà chính trị- Nhà vua dùng đạo Phật giáo hoá dân chúng, xây dựng chế độ. Gần bảy trăm năm nay, hành động bỏ triều chính vào núi định đi tu của vua Trấn Thái tông được người đời ca tụng. Đó tương tự như việc vua Trần Nhân tông sau này vào núi tu Phật, là “bỏ ngôi cao như trút đôi dép rách vậy”.
Nhưng có thực Trần Thái tông bỏ ngôi vua là không muốn làm vua, chỉ muốn đi tu hay không? Vua Nhân tông sau một khoảng thời gian trị vì đất nước rất huy hoàng, văn trị lừng lẫy, võ công hiển hách, thái tử đã lớn khôn và khi đó nhà vua ung dung ra đi học đạo, “lập thuyết”, không còn phải quá vướng bận việc đời nữa. Trong khi đó, hoàn cảnh của vua Trần Thái tông khi bỏ kinh đô ra đi lại khác hẳn. Triều chính đang rất lục đục, quyền hành do một tay Trần Thủ Độ phân xử cả, làm vua như vua Thái tông 10 năm đầu chắc chỉ tập trung vào học hành là chính, suy ngẫm là chính, chứ ông chưa thể thi thố được gì nhiều. Thủ Độ thi hành nhiều chính sách đúng đắn củng cố triều chính, cải tổ chế độ để an dân, nhưng cũng có những việc chắc chắn vua phải “lực bất tòng tâm”.
Xem lại hành động ép hai đứa cháu đổi vợ, mới thấy Trần Thủ Độ là một nhà chính trị lão luyện, cáo già. Hẳn Trần Thủ Độ biết, nếu chỉ vì có con trai, thì trong dân, thừa sức kén chọn một cung phi để sinh cho vua hoàng tử, vì khi đó nhà vua mới có 16 tuổi, còn thời gian dài sinh trưởng ở phía trước, cớ gì phải khăng khăng ép vua lấy chị dâu? Thủ Độ cũng thừa biết nếu ép buộc như vậy, hẳn Trần Liễu không thể để yên mà bằng lòng ngay, tất là mối nguy sinh loạn. Do đó, hẳn bước đi này là một nước cờ chính trị, đi một nước mà được hai mục tiêu, vừa được hoàng hậu cho vua, hoàng hậu Chiêu Thánh vốn đã sinh nhiều con trai, sẽ có thể có nhiều con trai nữa. Mục tiêu này quả nhiên đạt được, vì sau đó hoàng hậu Chiêu Thánh đã sinh các con trai, trong đó có Quốc Khang, Thái tử và Quang Khải. Mục tiêu thứ hai chính là đi một nước “tạo cái cớ” để cho Trần Liễu nổi loạn, nhân đó mà trừ hậu hoạ. Trần Liễu quả đã nổi dậy, nhưng nhanh chóng bị dẹp tan, vì đó giống như một hành động tự sát, Trần Liễu quá non kém về nhãn quan chính trị, lọt vào ổ phục kích giăng sẵn của Trần Thủ Độ. Song, mục tiêu thứ hai này lại không đạt được, vì một hành động có tính “nổi loạn” của Trần Cảnh, mà chắc chắn rằng hành động tha cho anh của Trần Cảnh không được Trần Thủ Độ tính đến. Sau 10 năm trị vì dưới bóng Trần Thủ Độ, hẳn Trần Thái tông cũng học được vài thủ pháp chính trị mà việc nhà vua gặp Trần Liễu để Liễu quy hàng không diễn ra ở cung cấm, lại diễn ra ở nơi sông nước có ba quân giăng bủa, cũng là một kế không bình thường. Giết một kẻ phản bội không phải là giết nơi trận tiền, không phải nơi pháp đình thì không thoả đáng mà “lúc đó vua trong thuyền, anh em nhìn nhau khóc”. Việc bố trí gặp Trần Liễu có thể là một hành động “nổi loạn từ bi” của nhà vua đối với cách trị vì “bàn tay sắt” của Trần Thủ Độ.
Phan Phu Tiên, một sử gia thấm giáo lý Nho học, đã bình luận trong Đại Việt sử ký toàn thư về Trần Thái tông một cách khá nghiêm khắc, cho rằng vua “khai sáng cơ nghiệp, đáng lẽ phải dựng phép tắc... lại nghe mưu gian của Thủ Độ, cướp vợ của anh làm hoàng hậu, chẳng phải là bỏ cả luân thường, mở mối dâm loạn đó ư..”, còn Trần Cảnh không giết anh là do “lẽ trời chưa mất mát mà thôi”.
Nói như Phan Phu Tiên, đó thực là chấp cái “luân thường” mà bỏ qua “lòng nhân”, chỉ chấp việc giết kẻ phản loạn, mà không thấy tha cho tội phạm cũng là một hành vi chính trị của vua Trần. Ý nghĩa chính trị qua hành động ấy là gì? Là “lẽ trời chưa mất mát” được vua Trần Thái tông “hành đạo” theo cách của nhà vua, chứ không phải cách “hành đạo” của Trần Thủ Độ.
Nếu như việc bài binh bố trận khiến Trần Liễu mắc tội là một phép thử chính trị của Trần Thủ Độ, thì việc tha Trần Liễu cũng là một phép thử của vua Trần Thái tông. Phép thử của vua tỏ ra cao minh hơn, nhờ lấy lòng từ bi để khuất phục võ công. Rồi sau đó, nhà vua đẩy tới một hành động “nổi loạn” thứ hai quyết liệt hơn nữa, cũng là một phép thử chính trị, đó là bỏ ngôi để vào núi. Nếu như chuyện tha anh chỉ là hành động có tính cá nhân, lấy lòng nhân từ để thuyết, thì việc vào núi lần này chính là lấy Phật thuyết làm cơ sở lý luận, lấy Phật tính làm nền tảng hành vi.
Vì sao lại như vậy?
Cần phải hình dung các thế lực chính trị lúc ấy ở triều đình. Trần Thủ Độ có ảnh hưởng lớn nhất, quyền sinh quyền sát trong triều. Sau 10 năm đầu tiên, Thủ Độ quả đã dùng binh quyền biến dẹp tan các thế lục cát cứ, trong đó có các tướng cũ nhà Lý như Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng, vỗ yên các bộ tộc sơn cước, dần dần củng cố vị thế dòng họ Trần. Vua là Trần Cảnh, nhưng thực quyền lại là Trần Thủ Độ, sau cuộc binh biến của Trần Liễu, coi như không còn thế lực chính trị nào đối trọng được với Trần Thủ Độ nữa. Cho nên, Trần Cảnh tuy làm vua, nhưng có sự “bất đắc chí” ngấm ngầm chứ. Sau khi lên ngôi là đứa bé 9 tuổi, qua 10 năm làm vua thực chất là “học lễ” trong cung vua, và chắc chắc được học tập tử tế, đến nơi đến chốn, thì khi đã là một nam nhi 19 tuổi, không thể yên tâm mà làm một vị vua chỉ trên danh nghĩa. Bỏ triều đình, nói rằng bỏ ngôi vua để xuất gia, thực chất cũng chỉ là lấy bóng Phật để “rung” Trần Thủ Độ mà thôi.
Nếu Trần Cảnh không làm vua, với tình thế lúc đó, thì ai là người có thể thay thế Trần Cảnh? Thái tử chưa có, Trần Liễu thì như chim trong lồng, nếu không phải là Trần Thủ Độ chính thức hoá ngôi vua thì là ai? Khi Lưu Bị sắp lâm chung, nói với Gia Cát Lượng rằng con côi bất tài, nước Thục chỉ có Thừa tướng là xứng đáng kế vị trẫm, thì thực chất Lưu Bị cũng không bao giờ muốn vậy. Đó là một phép thử chính trị để Gia Cát Lượng phải hứa lòng trung thành, nhắc nhở vị thế trung quân của Gia Cát với họ Lưu. Trong chuyện bỏ kinh thành, Trần Cảnh không nói với Trần Thủ Độ là Thái sư hãy lên ngôi vua, chỉ nói muốn học Phật pháp mà không làm vua nữa, buộc Trần Thủ Độ phải khẳng định lại một lần nữa vị thế của vua. Trần Thái tông kể trong “Khoá hư lục”, rằng “Trẫm thấy Thái-sư và các cố-lão quần thần, không có ý định bỏ Trẫm. Trẫm bèn đem lời nói đó thưa với Quốc-sư…” Như thế, việc Thái tông đi vào núi, cũng có ý là sợ “Thái sư và các cố lão quần thần” biết đâu “có ý định bỏ Trẫm”. Không những thế, khi trở về kinh đô, nhà vua còn đạt được một “thoả thuận” xa hơn là Trần Thủ Độ phải thừa nhận “việc tham cứu nội điển, xin Bệ-hạ luôn luôn để tâm, chớ quên”. Cho nên, vua Trần Thái tông sau đó trong khoảng hơn mười năm trị vì đã “phàm gặp cơ hội việc nước nhàn rỗi, Trẫm thường tụ tập các bậc kỳ đức để tham thiền hỏi đạo và nghiên cứu các kinh điển đại-giáo”
Như vậy, Phật pháp với vua Trần Thái tông, không chỉ là mục tiêu giáo lý khô cứng, Phật Pháp vừa là học thuyết hoàn thiện con người, xây dựng nhân sinh quan, vừa là bộ giáo lý nhập thế. Trong thiên Tựa Kinh Kim Cương Tam Muội trong Khoá hư lục, vua viết: “Trẫm lo việc chăn dân, mỗi lúc gian nan thường lăn lóc trong công việc, quên cả sớm chiều; công việc thì có hàng vạn thứ mà thì giờ nhàn rỗi không có được ban lăm. Siêng công việc, tiếc ngày giờ, trẫm cố học hành thêm chữ nghĩa thì chưa biết được bao lăm cho nên ban đêm đến giờ khuya vẫn còn phải thức để đọc sách; học sách Nho rồi học kinh Phật”. Theo Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận, Trần Thái tông là vị vua đầu tiên thực hiện nhuần nhuyễn kết hợp 2 hệ tư tưởng Phật và Nho. Với Trần Thái tông, đến với Phật giáo từ chỗ chỉ là nhu cầu tâm linh, tìm nơi “trở về” của một tâm hồn nặng tình đời, nơi bến đậu của một triết gia có tư tưởng lớn khám phá quy luật cõi người; thì trong cuộc đời trị vì, nhà vua đã biến những giáo lý có tính “nhu” của Phật học bổ xung cho nguyên tắc ứng xử khá cứng nhắc về ngôi vị, tôn ty trật tự xã hội của Nho giáo. Trong câu với Quốc sư Trúc Lâm nới với nhà vua ở Yên Tử, “Trong núi vốn không có Phật, chỉ có trong lòng. Lòng lặng mà biết, đó chính là Phật. Nay nếu bệ hạ tâm giác ngộ, thì lập tức thành Phật, không phải nhọc cầu ở ngoài”, Thái tông dẫn dắt đến một khái niệm “Tâm Phật”, liên hệ với khái niệm “lòng” của người Việt. Như vậy, tất yếu dẫn đến một tinh thần nhập thế, mà câu nói của Quốc sư như một sự khai ngộ, “Phàm đã là bậc nhân quân tất phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình...” Như vậy, cái tâm bản thể cũng là tâm Phật. Vua Trần Thái tông đã đưa việc hành đạo trở thành một sự quan hệ hữu cơ với việc nhập thế. Đề cao chữ Tâm, coi trọng “Phật tại tâm” kết hợp với những lễ nghi, lề lối triều chính trong việc trị nước, an dân một cách thực dụng, khởi đầu chính là từ vua Trần Thái tông vậy.
Chưa có bình luận nào !
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : 823tg9