Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Duy Minh

Bình Luận của Duy Minh

Nhiều lần đọc những bài viết của nhà văn, biết bác người xứ Đông cháu cũng cảm thấy đồng cảm như người đồng hương. Liệu có một ngày nào đó, Hải Dương và Hải Phòng có thể nhập lại làm một, cái tên Hải Đông có lẽ thích hợp hơn cả. Thật buồn là đến giờ nhiều người ở VN (bao gồm không ít người có uy tín trong các ngành văn hóa, giáo dục, sử học) và cả những người Việt sống ở hải ngoại vẫn cho rằng nhà Mạc ra đời là một sai lầm của lịch sử VN và Mạc Đăng Dung cắt đất cho ngoại bang! Hành động hạ mình có vẻ thái quá của Thái thượng hoàng nhà Mạc (lúc này ông không còn làm vua nhưng nhiều người không quan tâm chi tiết lịch sử này) sau này vua nhà Lê trung hưng lặp lại thì lại được sử quan triều Lê-Trịnh cho qua! Giờ đang sống trên mảnh đất Nam bộ vốn là đất cũ của Chân Lạp, cháu tự hỏi không có thế kỷ 16 với những biến động lớn thì liệu dân Bắc Hà chúng ta chỉ có mỗi cái chốn Hà Thành để tranh giành quyền cai trị lẫn nhau hết đời này qua đời khác thôi sao?
Nguyễn Việt Long

Bình Luận của Nguyễn Việt Long

Chi tiết "lãnh tụ cực tả của QDĐ Lão Trung Kha" viết sai tên. Chả có ai là Lão Trung Kha cả, đó là Liêu Trọng Khải.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Tôi không rành về Lào cho lắm, nên không hiểu chế độ hiện nay như thế nào? Nhiều khi thấy thế giới phân loại các quốc gia cộng sản gồm 5 nước thì có Lào. Nhưng đọc một văn bản của Cộng đồng Châu Âu xếp loại 4 nước cộng sản trên thế giới thì không có Lào. Nghe nói, họ còn bảo VN sang mà đưa tượng ông cụ về đi.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Linh tinh
Những bài học tưởng là đã cũ

Bài học 1: Khi nhà Nam Hán hùng hổ mang tàu chiến xâm phạm vào cửa biển Việt Nam, nội bộ cầm quyền ở Đô hộ phủ (Cổ Loa) đang rối ren. Kiều Công Tiễn vừa giết Dương Đình Nghệ. Lòng dân hoang mang, lòng quan phân tán. Kẻ thù xuất chiêu hẳn Thái tử cầm quân, coi đất đai đô hộ là hàng huyện. Xem ra sự khinh thường cũng lớn lắm. Quân hùng tướng mạnh, tương quan lực lượng vô cùng chênh lệch. (Cần hiểu rằng, khi đó nước ta chưa có triều đình, chỉ có Đô hộ phủ, do quan lại người Trung Quốc cầm chịch, đã bị Dương Đình Nghệ đánh đuổi, rồi thay thế) Bỗng đâu xuất hiện Ngô Quyền. Ông chỉ là con rể họ Dương, làm thứ sử ở một châu miền núi. Đoạn tiếp người Việt ai cũng biết. Lịch sử người Việt lạ lùng, cứ bị dồn đến cùng, tất biến, và nảy sinh anh hùng.

Bài học 2: Khi vua con nhà Đinh bị giết, triều đình lục đục, vua nhỏ bé tý tẹo 6 tuổi. Quân Tống lại hùng hổ kéo sang mong nuốt gọn Đại Việt. Dương Thái hậu mang phắt ngôi vua trao cho Lê Hoàn. Một là giữ ngôi, hai là giữ nước. Cứ mang tiếng Dương Thái hậu thông dâm, nhưng mà dân tộc thì còn. Nhà Đinh hết thì có nhà Lê, lo gì bổng lộc không còn, đất đai vì thế mà tồn tại. Hỡi ơi, Dương Thái hậu ở đâu rồi?

Bài học 3: Khi vua Lý Nhân tông còn nhỏ, triều đình phân phe phái, phe theo Thái hậu Ỷ Lan, phe theo Thái hậu Thượng Dương. Nhà Tống lại muốn nhân nước Đại Việt lục đục, triều đình yếu thế, thì mang quân chiếm lấy. Lý Thường Kiệt bèn mang quân đội đánh phủ đầu tận Khâm Châu, Ung Châu. Đó là lần duy nhất quân đội Đại Việt đánh sang đất Tống. Sau đó, quân Tống kéo sang trả thù tận sông Như Nguyệt. Nhà Lý có tổn thất lớn, các hoàng tử tử trận, nhiều tướng thiệt mạng, nhưng cuối cùng tinh thần dân tộc dâng cao, đánh tan quân đội nhà Tống. Sao lại có thời xuất hiện một người anh hùng kỳ lạ như Lý Thường Kiệt, không tiếc thân mình phụng sự triều đình. Triều đình một lòng không đội trời chung với quân thù.

Bài học 4: Khi triều Trần mới lấy ngôi từ nhà Lý, nhà Nguyên mới lấy được Trung Quốc, thay thế nhà Tống. Quân Mông Thát chiếm hầu hết thế giới, nhân thể coi Đại Việt như tôm tép, tưởng có thể lấy được ngay, bèn mang quân xuống năm Nguyên Phong 1258. Nào ngờ gặp sức chống cự của Nhà Trần. Khi đó tình thế chênh lệch, vua Trần đã nghĩ đến đầu hàng, may nhờ có TRần Thủ Độ kiên quyết: Đầu tôi chưa rơi, xin bệ hạ đừng lo. Đến năm 1285, tức là 27 năm sau, nhà Nguyên đang cực thịnh, lại mưu thôn tính. Khi này, nhà Trần nhẫn nhịn, đến nỗi sứ thần nhà Nguyên cưỡi ngựa qua cửa cấm thành (chỉ dành cho vua), cầm roi quất lung tung vào quan lại nhà Trần. Nỗi nhục rất lớn. Nội bộ triều đình có phân hóa. Tầng lớp Nho sĩ bắt đầu lớn mạnh, coi thánh hiền là Khổng Mạnh, coi Trung Nguyên là quê hương thánh hiền. Đã có lúc quan lớn đầu hàng, hoàng tử đầu hàng, vua tôi bỏ kinh thành chạy loạn. Song do vua Trần thi hành chính sách đại đoàn kết, dùng người tài, không sợ bị cướp ngôi, mà dìm quân thù ở cửa sông Bạch Đằng. Trước khi giặc Nguyên sang, Trần Khâm (vua Nhân tông) và Quốc Tuấn (Hưng Đạo vương) cũng chỉ là vua quan hưởng lộc, lại mang nỗi thù hiềm vì cha ông đánh lẫn nhau, hằm hè giữ vương quyền. Ấy thế mà khi giặc đến, lại đồng tâm hiệp lực, coi dân như ruột thịt, đánh tan ngoại xâm.

Bài học 5: Bài học mất nước. Khi nhà Hồ lên, thế nhà Minh đang thịnh. Cha con Hồ Quý Ly là những người xuất chúng, lấy ngôi nhà Trần, xoay chuyển đại cục. Nhưng nhà Hồ mắc sai lầm, không coi trọng dân. Nhà Hồ xây cất cung điện, vắt kiệt sức dân, giết tôn thất nhà Trần, khiến dân oán hận. Đến nỗi Hồ Nguyên Trừng kêu: Thần không sợ đánh, chỉ sợ dân không theo. Đến khi giặc đến, không biết mình biết ta, lại nghênh chiến, đến nỗi quân đội bị tan. Từ chỗ coi dân như cỏ rác, chỉ lăm le giữ ngôi, đến chỗ thất bại chỉ trong giang tấc. Đã thế, khi giặc bắt, cha con nhà Hồ cam tâm phục vụ triều Minh, làm quan hưởng lộc, mặc cho đất nước bị 10 năm đau thương, quân Minh phá nát các thành quả văn hóa truyền thống.

Bài học 6: Lê Lợi chỉ là một lãnh tụ nông dân, nổi lên ở vùng rừng núi, mà sử dụng văn thần, võ tướng, dần mạnh lên, đánh thắng quân Minh. Nếu cứ sợ thế giặc mạnh, sao có thể đủ sức cầm cự, đương đầu với giặc?

Bài học 7: Lê Chiêu Thống thấy nguy cơ mất ngôi, cầu cứu nhà Thanh. Quang Trung ra quân thần tốc, đánh tan quân Thanh. Bài học là dùng binh như thần, đánh vào lúc quân Thanh không ngờ đến. Hai mươi vạn quân Thanh, trong khi Tây Sơn chỉ có không quá mười vạn. Nhưng thế nước để xuất hiện Quang Trung Nguyễn Huệ, thì phải trả giá khá đắt vì nhiều năm nội chiến, dân tình thống khổ. Quang Trung là trường hợp cá biệt, anh hùng xuất hiện ở ngoại vi, ngoài khu vực triều đình. Nếu triều đình thối nát, thì trong dân sẽ xuất hiện anh hùng. Nhưng cái giá máu xương là lớn.

Bài học 8: Hòa ước Nhâm Tuất 1862. Khi triều đình Nguyễn phải đối phó với các cuộc nổi dậy ở Bắc kỳ, ở phía Nam các tướng đang chống Pháp. So sánh mối lợi hại, Tự Đức chọn cách giữ ngai vàng, hòa hoãn với Pháp để rảnh tay đàn áp các cuộc khởi nghĩa chống triều đình. Kết quả là mở đầu một giai đoạn mất nước vào tay Pháp. Nhà Nguyễn có nhiều công lao với đất nước, nhưng lo mối lợi giữ ngai vàng, bỏ số phận dân tộc và đất nước, cho nên bị lịch sử nguyền rủa. Tự Đức chắc cũng nghĩ hòa hoãn với Pháp thì Pháp thôi xâm chiếm, chỉ mất 3 tỉnh thôi. Nhưng Tự Đức quả là một ông vua phản nước. Kẻ nào chỉ khư khư giữ lấy chế độ, không đếm xỉa đến nhân dân, thì lịch sử sẽ vứt chúng vào sọt rác.

Bài học 9: Khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Hồ Chí Minh muốn chìa tay với Pháp, nhân nhượng hết mức. Hồ Chí Minh chịu nhục, bỏ yêu cầu độc lập, chấp nhận là quốc gia tự do trong khối Liên hiệp Pháp. Nhưng nước Pháp huênh hoang vốn coi dân Việt như thần dân của Tự Đức, kiên quyết không chịu. Dẫn tới cuộc kháng chiến 9 năm máu chảy xương rơi cho cả hai nước, kết thúc bi tráng ở Điện Biên. Hồ Chí Minh là anh hùng, tương tự như Quang Trung, xuất hiện ở ngoại vi, khu vực không thuộc triều đình. Nhưng như vậy thì dân tộc phải trả giá đắt bằng xương máu. Tại sao trong khu vực triều đình cầm quyền lại có thời không xuất hiện anh hùng? Đó là bí ẩn lớn của lịch sử.

(NXH)

Chưa có bình luận nào !
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : 7dgj3r