Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
nguyen thi cam tu

Bình Luận của nguyen thi cam tu

cac ban oi cho minh y kien nhe. vay tom lai ho quy ly duoc xem la anh hung hay gian hung
ngo panbin

Bình Luận của ngo panbin

Khong nen binh luan danh gia cac nhan vat LSU mot cach thieu cong bang. Troi sinh ra kg ai hoan hao. trong cuoc song ban muon lam viec that hoan hao, nhung co bao gio dc kg ??? vi vay lanh dao mot dat nuoc khi hanh dong trong cong viec, cung nhu trong cuoc song doi thuong,co gi do kg hoan toan tot dep,co gi do khiem khuyet, ta cung nen luong thu ma bo qua cho ho, mien sao cai sai kg qua tram trong,cai lam duoc cho dantoc datnuoc de den hom nay chung ta va lich su thay dung dan co ich la qua tot va can ton vinh cong lao do, Cac ban co khi nao lam lanhdao va dung truoc ap luc that su lon chua ??? khi do kho tam lam ban oi !!!
Vay nen toi khuyen cac ban can co tam long bao dung hon voi nhung ai da lam tot, co loi cho datnuoc va dantoc vietnam, Du ho khac ching kien khac quan diem chinh tri voi ban, nhung chung ta la mot me auco sinh tram trung, va bo coi viet nam neu co mat vao tay ke nuoc ngoai ban chac se that su dau long. Con ben CSan hay QGia thi suy cho cung chua phai qua toi te, truoc het la cham dut chien tranh som di doi voi dong nghia su giet choc nhau giua nguoi vnam voi nhau kg con,dat nuoc ven toan mot moi, dan bot lam than kho cuc,Phia ban va phia toi, tat ca la conrongchautien,
Toi kg quan trong cai ten, CN CSan, CN MACLENIN hay chu nghia nao nao di nua, nhung dem lai dieu tot cho dongbao datnuoc vnam la dc, CN nao cung vay neu kg dclongdan, ban kg can thucday kg can dautranh ma tu no cung sup do va dongbao trong nuoc se lam viec do,
Phan Văn Hoàng

Bình Luận của Phan Văn Hoàng

Xin góp hai ý :
1- Tên tờ báo là NÔNG CỔ MÍN ĐÀM (nghĩa : uống trà nói chuyên làm nông và buôn bán). Không phải MÍM ĐÀM.
MÍNH là trà non. Cụ Huỳnh Thúc Kháng có bút hiệu MÍNH VIÊN (vườn trà non)
Người Nam Bộ phát âm -IN thành -INH, nên viết MÍNH thành MÍN.
2- Người ĐỒNG BANG là người cùng chung một nước.
Do người Nam Bộ phát âm lẫn lộn -AN và -ANG nén viết sai đồng BANG thành đồng BAN.
PVH
Linh tinh
Nhân chuyện Bao Công, nói về ý thức bầy đàn trong văn hóa Trung Quốc
A Nhập đề
Được anh Nguyễn Quang Thiều giới thiệu, các bạn mời tôi nói chuyện về Bao Công. Một lời ra đề rất chung chung. Bao Công là nhân vật rất nổi tiếng, phim Bao Công cũng nổi tiếng. Ai trong số chúng ta không biết hoặc không xem một tập phim Bao Công? Tôi suy nghĩ rất. Tôi không dám phân tích tác phẩm (dành cho giáo viên văn), không dám phân tích liên hệ về mặt hình sự của các vụ án (múa rìu qua mắt thợ). Mà có lẽ nên giới thiệu với các bạn cách đọc Bao Công. Tôi là 1 nhà văn, tôi đọc nó như thế nào. Các câu chuyện xử án của ông này thực ra là các bài tập tình huống, được các nhà văn và người làm phim sáng tạo nên. Vậy thì tôi sẽ nói về cái gì? Ca tụng hay là nên phê phán Bao Công.
Hiện nay người ta đang có một khái niệm là “xã hội học tập”, lại cổ vũ “học tập suốt đời”. Tôi hay các bạn, học 5 năm ở trường đại học, rồi sống hàng chục năm, chả lẽ cứ học 5 năm rồi ra làm được việc. Cho nên, đọc sách, ngày nay là báo chí, truyền thông, phim ảnh, cũng là quá trình tự học, tự đào tạo. Nếu học không có đầu óc phê phán thì không phải là học, chỉ là tiếp thu máy móc, không có sáng tạo.
Ví dụ về học tập suốt đời nó ảnh hưởng đến chúng ta. Khoảng thời niên thiếu, bạn đọc 1 quyển sách, bạn sẽ thấy khác, ví dụ thời niên thiếu của tôi, nghe kể về Bao công xử án, tôi mơ đến công lý, xã hội công bằng, cái ác nhất định bị trường trị. Lớn chút nữa, đi học đại học, đọc lại Bao Công, thấy có một số vô lý. Tại sao xã hội thực không có mấy ông Bao Công, hay chỉ có ở đời Tống Trung Quốc. Lớn chút nữa, cầm bút viết văn, tôi đọc Bao Công, muốn hiểu đằng sau xã hội ấy, những con người ấy ứng xử như thế nào. Khi nào bạn đọc sách, qua trang sách thấy con người, lúc đó mới tạm coi là đi hết chiều sâu văn hóa của tác phẩm.
B. Bây giờ, nên nhắc lại một chút câu chuyện về Bao Công. Trước hết, về con người của Bao Công. Tức là nhân vật lịch sử Bao Công (con người thật). Phần này chỉ là nhắc lại. Không có gì mới. Bạn nào vào Google đánh chữ Bao Công cũng ra hết thông tin.
(Tóm tắt tiểu sử Bao Chửng)
1. Từ thực tế đến huyền thoại Bao Công: Bao công làm Tri phủ Khai phong được 1 năm. Vậy 1 năm xử được bao nhiêu vụ án? Vụ án nào tạo nên tiếng tăm của Bao Công lưu truyền trong dân gian? Chưa ai biết rõ. Phần lớn là giai thoại, truyền tụng? Sau đây tôi sẽ bàn, vì sao lại thế? Muốn bàn đến điều này, phải hiểu con người Trung Quốc, văn hóa Trung Quốc?
2. Huyền thoại Bao Công dai dẳng trong dân gian, tôi chưa có tư liệu chính thức về tiểu thuyết, truyện về Bao Công. Nhưng chỉ biết là các tác phẩm phóng tác rất nhiều. Về tiểu thuyết, truyện Bao Công. Chắc chắn những giai thoại về Bao Công được viết thành sách rất nhiều. Đại Lục và Đài Loan đều phóng tác. Trung Quốc có truyền thống trường thiên tiểu thuyết, với từng nhân vật, từng triều đại sau này cũng gia công thành các bộ sách rất đồ sộ. Ví dụ Thất hiệp ngũ nghĩa (khuyết danh) viết theo lối chương hồi, đầu và cuối chương có 2 câu thơ, cuối chương có thể có “xem hồi sau sẽ rõ”, lưu hành 100 hồi, thêm thắt các nhân vật kiếm hiệp, hảo hán. 
Bao Công xử án của Trần Văn Thủy (26 chương) là loại sách kể về các vụ án của Bao Công, điểm xuyết một số nhận xét về tình huống vô lý, về kiến thức luật pháp, kiểu như lời bàn Mao Tôn Cương của Tam quốc. Nhưng về mặt văn học, có thể nói giá trị văn học cực thấp, nếu không nói là con số không. Qua bản dịch ngôn ngữ miền Nam, nói thật là không thể đọc nổi. Các câu chuyện có thể phân loại thành mấy mô-tuyp: Thường là có viên tri huyện xử oan sai trước, sau đó Bao Công tình cờ đi đến mà xử lại; hoặc có một số vụ án cần đến các giấc mơ báo mộng để phá án; một số vụ án có yếu tố ma quỷ, thậm chí Bao Công phải lên thiên đình nhờ đến các thần mới giải nổi. 
Với các bạn làm nghiệp vụ liên quan đến pháp luật, tôi khuyến khích các bạn đọc tác phẩm này, nhưng nên bóc lớp vỏ ngôn ngữ, phân tích các tình huống. Tình huống có hai cách hiểu: phù hợp với bối cảnh câu chuyện, đó là xã hội và con người thời Tống Trung Quốc, và liên hệ với thời nay. Với tôi, còn một thao tác nữa, đó là mức độ nghệ thuật của các chi tiết hư cấu. 
3. Sau đây, nói về nhân vật Bao Công trong bộ phim Bao Thanh Thiên. Kể từ khi bộ phim này ra đời, nhân vật Bao Công bắt đầu nổi tiếng. Các diễn viên cũng được nhiều giải thưởng ở Đài Loan và Đại lục. Những bài hát trong phim này sau đó tách ra cũng là những tác phẩm âm nhạc đặc sắc.
(Tóm tắt về hành trình từ 236 tập phim năm 1993 đến nay đã gần 1000 tập, sau khi tiếp tục làm Tân Bao Thanh Thiên từ 2008)
4. Như vậy, Bao công  xử án cả đời không hết các vụ án mà ngày nay người ta truyền tụng. Tất nhiên đó là vô lý. Đây chỉ là nhân vật Bao Công, lấy Bao Chửng làm nguyên mẫu. Các vụ án cũng do các tác giả dân gian và các nhà làm phim dựng lên mà thôi. Cho nên, có thể thấy chuyện Bao Công mà quần chúng nhân dân thường truyền tụng, hoặc được biết qua phim ảnh là 1 phần thực 99 phần giả. 
5. Như vậy, từ Bao Công nhân vật lịch sử đến Bao Công nhân vật điện ảnh, là cả một khoảng dài, khác xa nhau. (…)
6. Nói về sự phóng tác, phải kể đến truyền thống tiểu thuyết của Trung Quốc. Văn học Trung Quốc có truyền thống tiểu thuyết, đặc biệt có nhiều bộ tiểu thuyết lớn. Từ một chi tiết, phóng tác thành tiểu thuyết dã sử đồ sộ. Người Trung Quốc chấp nhận tiểu thuyết như một bộ phận đời sống. Có khi tiểu thuyết còn sống lâu bền, có sức sống mạnh hơn sự thật lịch sử. Điển hình là Tam Quốc diễn nghĩa. (…)
7. Với Bao Công, họ phóng tác thế nào? Có Triển Chiêu, tức là tài liệu lịch sử ghi lại rằng có 1 ông Triển Chiêu làm Thị vệ bên cạnh Bao Công, hàm tứ phẩm. Nhưng khi biến thành Triển Chiêu võ công xuất chúng, thì chỉ có sản phẩm của nền điện ảnh Đài Loan, quê hương của Kim Dung. Ngoài ra, các nhân vật Công Tôn Sách, Trương Long, Triệu Hổ, Vương Triều, Mã Hán hoàn toàn hư cấu. Nó có tác dụng bồi dầy thêm giai thoại, hiện thực hóa giai thoại, tạo ra cảm giác Bao Công có một bộ máy giúp việc đắc lực. Về hư cấu Bao Công, có những điểm chú ý sau:
Thứ nhất, mặt Bao Công không đen và cũng không có vầng trăng trên trán. (…) Thứ hai, Bao Công sống với cha mẹ, chứ không phải là vì sinh ra mặt đen mà bị cha mẹ bỏ đi, do “Tẩu nương” (chị dâu) nuôi nấng. (…) Hiện nay, hậu duệ của Bao Công có trên 100.000 người, tập trung nhiều nhất ở hai thôn Đại Bao và Tiểu Bao thuộc xã Giai Tập, huyện Phì Đông, tỉnh An Huy, Trung Quốc.  Thứ ba, Bao Công làm quan phủ doãn phủ Khai Phong, ở phủ Khai Phong xử án chỉ có 1 năm, (…)
8. Với các vụ án, họ phóng tác thế nào? tựu trung lại là lấy xưa nói nay, lấy chuyện xưa mà nói chuyện ngày nay. Vấn đề là vụ án ấy phải khoác tấm áo bối cảnh lịch sử của thời Bao Công mà thôi. Nhưng nếu nói về các vụ án, thì Seloc Hom cũng phá án các vụ án như vậy, Acsen Lupanh cũng phá án các vụ án… Từ đó, chúng ta có thể thấy xã hội phương đông- phương tây, quan hệ con người trong 2 xã hội ấy khác nhau. (…) Muốn tìm hiểu điều này, có lẽ chũng ta tìm hiểu qua bối cảnh thời Bao Công sống, sau đó mảnh đất xã hội nảy sinh các giai thoại Bao Công
9. Bao công (nhân vật lịch sử) sống vào thời kỳ nhà Tống. (Tóm lược hoàn cảnh lịch sử thời Tống)
Tóm lại, do phát triển cực thịnh, mà các quan hệ xã hội phức tạp, nảy sinh nhiều mâu thuẫn, nhiều vụ án. Các quan lại phải đối mặt với những vụ án tinh vi hơn, phức tạp hơn. Con người trong một thời đại phát triển tiểu thủ công nghiệp, tức bứt phá ra ngoài nông nghiệp, hay du mục truyền thống, thì cũng có nhận thức tốt hơn. Điều này là mảnh đất tốt cho các nhà làm phim, hay nhà văn hư cấu các tình tiết, tạo ra các tình huống ly kì. 
 
10. (…) Vì sao những chuyện Bao Công hầu hết là hư cấu, mà người xem vẫn nhiệt liệt hoan nghênh, họ vẫn tin trong đời có ông Bao Công như vậy? Và, nhất là đối với các bạn Việt Nam, xem phim Trung Quốc, đọc tiểu thuyết Trung Quốc, ta phải hiểu các câu chuyện ấy như thế nào? Tôi đặt vấn đề thế này: Nếu châu Âu, Mỹ xem Bao Công có thích không? Chắc chắn họ cũng sẽ xem, nhưng họ không thích. (…) Văn hóa phương Tây đề cao chủ nghĩa nhân văn, không chấp nhận các biểu hiện của một xã hội Nho giáo, không chấp nhận mẫu quân tử Tàu. Nên họ cho đó là bộ sách làm băng hoại con người. Trở lại chuyện Bao Công. Trước khi xem xét một số điểm về các vụ án của Bao Công, phải xem xét câu chuyện Bao Công dưới góc độ văn hóa Trung Quốc.
11. Trong các vụ án, Bao Công luôn có một cái gọi là “thượng phương bảo kiếm”. Nếu không có cái ấy, Bao Công có làm gì nổi không? Tự các bạn trả lời. Vấn đề là tại sao Tống Nhân tông trao thượng phương bảo kiếm cho Bao Công, mà các ông vua khác không trao, hoặc trao “vụ việc”, xong rồi thu về. Hoặc không tin, không trao? Bao công làm gì, dù ông ta có tài giỏi đến mấy, không có thượng phương bảo kiếm cũng khó mà làm gì được. Đó là biểu hiện rõ nhất quyền lực của hoàng đế trong xã hội Trung Quốc. Văn hóa truyền thống Trung Quốc chấp nhận Nho giáo là lý thuyết để tổ chức xã hội, trong đó vua là cao nhất, là thiên tử. Vua bảo chết phải chết. Vua không có lỗi. Vua là luật pháp. Vua sáng thì đời thịnh, vua tối thì đời suy. May thay Bao Công sống trong thời thịnh. Sau này, có lẽ câu chuyện về Bao Công truyền tụng trong dân gian cũng là một ước mơ, một hy vọng về thời minh quân thịnh trị. (Bây giờ tại sao chúng ta thấy đúng, tất nhiên và tự nguyện học tập Bác Hồ, kể mãi câu chuyện về Bác Hồ, cũng như Trần Nhân tông viết “người lính già đầu bạc, kể mãi chuyện Nguyên Phong. Thời Nguyên Phong vua Trần Thái tông đánh giặc Nguyên, chắc chắn đó là thời thịnh) Các bạn chắc học nhiều về luật, chắc biết rõ nguyên tắc xét xử hiện đại, xét xử là thượng tôn pháp luật. Loài người hiện đại chấp nhận nguyên tắc tổ chức xã hội lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nhưng xã hội Nho giáo Trung Quốc thì không như vậy. Có điều tương tự với xã hội phong kiến Việt Nam, nhưng các điều luật của Việt Nam khác với Trung Quốc. 
Tóm lại, xã hội Trung Quốc không chấp nhận pháp trị. (Có chuyện Hàn Phi Tử bàn và hô hào pháp trị từ Xuân thu chiến quốc, thời mà bách gia chư tử nở rộ, khi đó Nho giáo chưa cuất hiện, xã hội còn có hơi hướng dân chủ. Sau này, Vương An Thạch đã cải tạo đổi mới theo hướng pháp trị, nhưng vấp phải tư tưởng cổ hủ của tầng lớp Nho sĩ Trung Quốc) Vậy tại sao lại thế, vẫn phải xem xét, bàn về văn hóa.
 
12. Nói xã hội Trung Quốc cổ đại không có nguyên tắc “pháp trị” (mặc dù pháp ở đây là vương pháp), vua là con trời, vậy thì nó có phải là “nhân trị” không? Theo ông Trần Đình Hiến, nhà Trung Quốc học, dịch giả các tiểu thuyết Trung Hoa (Tô tem sói, Mạc Ngôn) thì thực tế lịch sử Trung Quốc không chấp nhận nhân trị, vì nhân trị là chính trị của một người. Nhân trị từng có trong lịch sử Trung Quốc, nhưng đó chỉ là cá biệt. Các các nhân dù có xuất sắc đến mấy, thì họ cũng bị lịch sử tiêu diệt. Vì bản chất nó đối lập với tinh thần Trung Hoa, tư tưởng Trung Hoa, đó là ý thức bầy đàn. Nếu hiểu được lẽ này, thì vua cũng là bé nhỏ, ngay nhà vua cũng không bao giờ coi công lao của cá nhân, mà phải nói “nhờ phúc ấm tiên tổ, nhờ oai linh công đức của thần thánh phù hộ”. Tóm lại, khi mà đặt cá nhân vào trọng tâm, thì cá nhân ấy sẽ không còn đất sống. Bao Công có thể rất liêm chính, dùng thượng phương bảo kiếm rất đúng đạo lý, nhưng ông bộc lộ cá tính, vậy thì ông ở phủ Khai Phong một năm, cũng là dài. Phần còn lại là là truyền tụng, đó là ước mơ về một ông quan thanh liêm.
13. Nếu nói xã hội Trung Quốc không phải pháp trị, nhân trị, thì là gì? Thực chất, có thể nói, đó là “lễ trị”, “đức trị”. Trên đây nói nhân trị chỉ là cá biệt, là ứng với một số thời kỳ đặc biệt, có chiến tranh, loạn lạc. Còn thời bình cứ khư khư giữ cái nhân trị, ắt sẽ bị tiêu diệt. Thời bình, vua ngu vẫn tồn tại, vì cơ chế định hình rồi. Cơ chế đó là Lễ. Lễ nghi phải thế. Ai thi hành lễ? Đó là ông quan. Cho nên xã hội phong kiến Trung Quốc thực chất là “quan trị”. Dân trí Trung Quốc cổ đại thực chất là quan trí. Khi có quan trị, thì đức trị lên ngôi. Quan có đức thì Lễ thi hành tốt, Quan không có đức thì Lễ ngả nghiêng. Bao Công là hình ảnh của một ông quan có đức. Chính trị của Bao Công là Lễ trị và Đức trị.
14. Bây giờ, chúng ta bàn xem cái lễ và đức ấy là cái gì? Biểu hiện rõ nhất của Lễ, theo lý luận Nho giáo, đó là tôn ti. Quân tôn (cao), thần ti (hèn). Quan tôn, dân ti. Tôn là đại diện chân lý, đạo đức, ti là hèn, ngu, phải dạy bảo. Cho nên muốn lời nói của mình có trọng lượng, thì phải làm quan, nếu không chả ai thèm nghe. Hoàng đế dù mới lọt lòng cũng phải phủ phục xuống lạy nó, nó khóc oe cũng hô “Hoàng thượng sáng suốt”. Tóm lại, theo ông Trần Đình Hiến, có thể tóm tắt trật tự xã hội, văn hóa Trung Quốc trong “tam minh”: Hoàng đế thánh minh, quan trên cao minh, cấp trên anh minh. Do đó, Bao Công xử án, mang chém người cũng có tôn ti: Long đầu trảm, hổ đầu trảm, cẩu đầu trảm. Phạm tội vi phạm lễ giáo, con dao chém cũng có tôn ti của dao.
15. Đó là nói về Lễ trị. Còn Đức trị là gì? Biểu hiện nó là gì? Lễ khống chế, quy định hành vi của ông quan, đức thì không có quy định, nó chỉ được điều chỉnh nhờ văn hóa, phong tục, nhờ tu dưỡng rèn luyện. Đức là dòng chảy ngầm trong ông quan, không thi thố cụ thể được. Nếu quan có đức thì xã hội an lành, dân yên vui. Có ông Bao Công thì xã hội mới yên, kẻ gian sợ, vua trị nước được tiếng là minh quân, mà dân thì vui sống. Vậy thì đức là mục đích, mà lễ là phương tiện. Vậy thì cái đạo đức thay pháp chế đó là loại đạo đức nào? Điều này phải xem xét đến văn hóa mới giải đáp nổi.
16. Pháp chế chỉ quy định người ta không được làm gì, chứ không quy định cụ thể phải làm cái gì? Trong xã hội pháp quyền hiện đại, nhờ có dân trí, dân chủ mà xã hội phát triển. Muốn có dân chủ, dân trí, thì cá nhân được đề cao, chủ nghĩa nhân văn có nội dung mới. Muốn xã hội pháp quyền, mọi người phải bình đẳng trước pháp luật. Còn xã hội Trung Quốc, phải xử lý quan hệ người với người, trong xã hội ý thức bầy đàn rất lớn, thì pháp trị bất lực. Người ta cần phải quy định chuẩn mực ứng xử, đạt được nó là người quân tử, là có đức. Đó là bộ nguyên tắc “ngũ thường” các tiêu chuẩn con người của Nho giáo: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín và các nguyên tắc ứng xử về tôn ty: Tam cương. Người có đức là quân tử, hay gọi luôn là hảo hán, người Hán tốt, tóm gọn nguyên lý ứng xử là Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. 
Trong xã hội có ý thức bầy đàn, không thể quy định không được làm gì, mà phải quy định anh chỉ được làm những gì. Cái chỉ được làm đó là đức. Hành xử có các quy tắc, làm gì cũng không được khác với luật lệ. Cho nên đạo đức có thể thay pháp chế, mà pháp chế không thay nổi đạo đức. Trong xã hội ấy, tất cả đều tốt chỉ là lý tưởng, vì không bao giờ có, cho nên ắt sinh ra cái xấu, sinh ra những con người làm nhiều việc khác với bầy đàn, việc xử án cũng là một cách loại trừ cái xấu, Bao Công là một hy vọng và sống mãi trong văn hóa Trung Quốc cũng vì vậy.
17. Ở đây, có một mâu thuẫn lớn: Muốn ông quan tốt, thì không tránh khỏi phải có cá tính. Nhưng xã hội bầy đàn với những nguyên tắc tôn ti không thể dung hòa cá tính. Phủ nhận cá tính, phủ nhận giá trị cá nhân làm nên bầy đàn, đó là một cái vòng quẩn của xã hội Trung Quốc. Cho nên, muốn làm quan tốt, muốn xét xử tốt như Bao Công, đôi khi cũng phải làm chệch đi, tức là vi phạm cái gọi là Lễ để giữ cá tính. Một ví dụ về việc chém viên quan tên là Lỗ Trai Lang. 
o (tóm lược vụ án Bao Công lừa vua để chém viên quan tham thân cận của vua)  Thực ra, Bao Công đã lừa Hoàng đế. Hoàng đế phê văn từ nhiều, không thể nhớ hết được. Bao Công viết chữ Ngư Văn Tức, sau khi được phê, thì thêm nét, thành chữ Lỗ Trai Trang. 
18. Trong xã hội Trung Quốc, muốn xét xử công minh, cần phải có trí tuệ sắc bén, có kiến thức về tự nhiên, xã hội. Bao Công đã là người như vậy. Ông ta phân xử, dùng đức trị để giải quyết các mối quan hệ, nhằm đạt đến mục tiêu xã hội lý tưởng. Trong quá trình đó, tự ông trở nên có cá tính, vượt ra ngoài ý thức bầy đàn. Ngay cả vương pháp, có lúc cũng bị vượt qua, như ví dụ trên đây, phải lừa cả hoàng đế. Xét theo ngôn ngữ hiện đại, thực sự Bao Công cũng phạm vào tội gian trá, sửa chữa hồ sơ. Ví dụ về phải dùng lừa bịp để đạt đến mục đích là ví dụ điển hình để nói rằng, dùng phi đạo đức để đạt đạo đức trong văn hóa Trung Quốc. Suốt chiều dài lịch sử, muốn duy trì bầy đàn, hoặc là bạo lực, hoặc là lừa bịp. Bao công phải lừa bịp, lừa cả Hoàng đế để thực hiện công lý, đạt mục tiêu đạo đức. Cái đạo đức ấy thực chất là duy trì bầy đàn, tiêu diệt cá tính, thực chất cũng là thứ phi đạo đức. Cái tinh vi của văn hóa Trung Quốc, cái xấu xa về bản chất của Nho giáo chính là ở chỗ này. Anh phải dùng Lễ giáo, những Tam cương, Ngũ thường để lừa bịp con người, duy trì con người vào bầy đàn. Đó là mặt ghê tởm nhất của Nho giáo. Ít ai nhận thấy.
19. Tóm lại, những vụ phá án của Bao Công, một thực trăm giả. Cái giả là do đời sau dựng lên. Bao Công xử án không thượng tôn pháp luật, mà dùng Lễ (biểu hiện của vương pháp) để thay các điều luật, để đạt đến đức trị. Nhưng cái mục tiêu đạo đức ấy cũng lại là phi đạo đức, vì nó không góp phần vào nâng cao phẩm giá con người. Dù cho các nghi can bị xử, hay nạn nhân thắng án, thì cuối cùng cũng là duy trì cuộc sống bầy đàn, tiếp tục tư tưởng bầy đàn trong xã hội cổ đại Trung Quốc mà thôi. (Mở ngoặc về chuyện này. Nếu bạn nào đọc cuốn Tô Tem Sói của Tác giả Khương Nhung (TQ) do Trần Đình Hiến dịch, sẽ thấy dòng chảy văn hóa Hán ở đây. Mượn chuyện mô tả đời sống người Mông ở khu nội Mông, chuyện thần thánh hóa sói, lấy sói làm tô tem, mà Khương Nhung coi bản chất của người Hán là cừu, không thể địch với người Mông là sói. Hoặc các dân tộc đã đô hộ Hán như Nguyên, Thanh cũng là bản chất sói. Cuốn tiểu thuyết đã gây tiếng vang, khiến các Ủy viên Bộ Chính trị phải đọc, sau đó họ nhiệt liệt hoan nghênh. Đó là liệu pháp mà binh pháp nói là “khổ nhục kế”. Người Hán muốn vùng lên thoát khỏi nốt cừu, thì rồi cũng tiến đến gần như sói, cũng là bầy đàn cả mà thôi. Dù sao, làm đàn sói còn hơn đàn cừu) Chuyện cách đây 30 năm, ngày nay đàn cừu Hán đang trở thành đàn sói thật rồi.
20. Vậy bài học trong các vụ án của Bao Công là gì? Trước hết đó là bài học về quan trí. Làm quan thanh liêm, hết lòng vì con người. Dĩ nhiên là con người trong tư tưởng của Bao là cá thể của bầy đàn, chứ không có giá trị nhân văn như cách hiểu hiện đại. Nhìn chung các vụ án tình tiết lắt léo, do con người trong xã hội Trung Quốc, phải sống trong một xã hội Nho giáo tôn ty hà khắc, nên tự nhiên phải có thủ đoạn sống. Điều mà lịch sử Việt Nam gọi là “thâm”, người Tàu thâm nho, là như vậy. Do con người phải toan tính, nhiều thủ đoạn sống thấp hèn, mà các vụ án cũng tinh vi hơn, đòi hỏi phá án phải có kiến thức rộng. Đối phó với nghi can thủ đoạn, thì người xử án cũng phải thủ đoạn hơn một bậc. Bao Công đã xuất hiện trong lịch sử như vậy, nên dù ông chỉ xử 1-2 vụ án, mà tiếng tăm ông còn mãi. 
o Tóm lại, Bao Công trong tác phẩm là một ông quan hư cấu, ông ta hiểu hơn ai hết bản chất của con người Trung Hoa. Phải hiểu rất rõ con người mới xử được những vụ án đó. Một ví dụ về vụ án đêm tân hôn. Tên nhân vật tôi không nhớ. Tóm tắt là trong đêm tân hôn, hai vợ chồng đều con nhà quyền quý, có học. Cô vợ bày đặt ra rằng: Thiếp cho chàng một vế đối, chàng đối được thì mới được vào phòng tân hôn. Dĩ nhiên anh chồng lúc đó thì không còn đâu tâm trí mà đối, bèn bực bội bỏ đi uống rượu với bạn, rồi giận dỗi nói với các bạn là sẽ ngủ đến sáng không về. Rượu vào lời ra, anh ta kể chuyện như thế như thế. Cuối cùng, mọi người uống say khướt cùng ngủ. Nhưng trong số đó thì có 1 anh không say, sau khi mọi người ngủ thì anh ta lẻn về nhà anh mới cưới, lẻn vào phòng cô dâu. Hai người mây mưa, đến gần sáng anh chồng thật mới về. Hai người đối đáp, té ra cô vợ nhầm. Cô vợ thắt cổ tự tử. Mọi người cho rằng anh chàng kia giết vợ. Phải đến Bao Công mới tìm ra chân tướng sự việc. 
Câu chuyện này, nếu đặt vào hoàn cảnh thời Tống, thì có thể xảy ra. Bởi vì hôn nhân xã hội Nho giáo là do bố mẹ đặt. Qua mai mối, các thủ tục nhiêu khê cưới hỏi, rồi đến khi đón dâu vào động phòng hai người vẫn che mặt. Phim ảnh, tiểu thuyết Trung Quốc lấy đề tài tráo dâu, tráo rể nhiều rồi.
Nếu bạn đọc ngày nay, có thể đặt ra nhiều nghi vấn. Cái vô lý ngày nay không tin, đó là việc vợ có thể nhầm chồng. (mặc dù cái vô lý ấy là có lý). Còn tình tiết hư cấu thì mới là vô lý. Một loạt các yếu tố tình cờ chen vào, khó mà phá án: Tại sao cô vợ lại tắt đèn khi chồng về? Tại sao nhà không nuôi chó? Tại sao vợ không thấy chồng nói gì mà vẫn chịu, trong khi trước đó thì bày đặt ra câu đối?
21. Bài học về hiện tượng tác phẩm phim ảnh, tiểu thuyết Bao Công là gì? Các tác phẩm về Bao Công thuộc phạm trù văn hóa, bài học của nó cũng nên xét ở bình diện văn hóa. Người viết về Bao Công, cũng phải hiểu sâu sắc văn hóa dân tộc (dân tộc ở đây là dân tộc Trung Quốc). Phải hiểu độc giả mới làm cho họ say mê đến thế. Người Trung Quốc luôn luôn đề cao sức mạnh văn hóa. Cái gọi là ý thức bầy đàn của văn hóa trong quá khứ, cũng có tác dụng lớn là hình thành tâm lý dân tộc, tư tưởng dân tộc. Bao Công được hoan nghênh, có thể là vì Bao Công thu lại “túi khôn” của người Hán thời quá khứ, đó cũng là một cách tuyên truyền văn hóa truyền thống. Nên có đến hàng trăm vụ án, gần một nghìn tập phim, mà người ta vẫn hoan hỉ xem. Có lẽ Bao Công là điển hình của trí tuệ con người Trung Quốc, khôn ngoan, tài năng, muốn đạt mục đích bất chấp thủ đoạn, cũng muốn công bằng xã hội, cũng thấy bất bình thì không tha…. Vân vân.
22. Có người nói, Bao Công xử án là cách nghệ sĩ bày tỏ sự phản kháng với xã hội phong kiến, tố cáo xã hội đầy rẫy những bất công, tệ nạn. Nói thế thì xã hội còn có xử án thì xã hội dở à? Không phải như vậy. Bao Công không có phản kháng trong tư tưởng, mà ngược lại, ông chấp nhận xã hội ấy, yêu say mê xã hội ấy chứ. Có yêu chế độ mới thực thi điều luật vì nó. Nhưng cách mà các nhà làm phim, hay tiểu thuyết trình bày xã hội nhà Tống, cách mà Bao Công phải lao tâm khổ tứ để phá án, chính là cách đem đến thông điệp về một xã hội Nho giáo, trong đó con người chỉ là con ong cái kiến, một cá thể vô thức trong bầy đàn mà thôi. Cái giá trị tố cáo nếu có thì nằm ở đó. Tố cáo mặt thật của văn hóa xã hội cổ đại, do Nho giáo làm băng hoại con người, chứ không đơn giản là tố cáo xã hội phong kiến có những ông quan tham nhũng.
23. Bài học về dùng xưa nói nay và dùng nay soi chiếu xưa. Đôi khi chuyện dùng các tích cũ về các vụ án để giáo dục văn hóa truyền thống, nói cái trí khôn của Bao Công. Nhưng nếu các bạn ngày nay xem phim Bao Công, không có đầu óc phê phán thì không thể rút ra được bài học thật sự. Lúc nào cũng xuýt xoa Bao Công tài, Triển Chiêu giỏi, Công Tôn Sách hay, thì cũng sẽ ngập chìm trong cái bể rối rắm tung hứng của các thủ đoạn quan hệ xã hội Trung Quốc. Ví dụ: Có ai thử đặt câu hỏi, tại sao Bao Công là tri phủ Khai Phong, mà suốt ngày xử án? Hoặc các tri huyện cũng phải xử án? Ngày nay có làm được thế không? Không được. Bởi vì ngày nay hành pháp không thể đồng thời làm việc của tư pháp. Cho nên việc oan sai là rất dễ xảy ra. Quá nhiều oan sai, nên mới có Bao Công thành hình tượng được truyền tụng như vậy.
24. Ví dụ một vụ án, (có tình tiết lắt léo) ta sẽ phê phán và tìm hiểu nó như thế nào? Vụ án con nhện đoán án. Ta thấy gì trong vụ án này: Có đầy rẫy vô lý.
* Vụ án trên đây điển hình là loại vụ án hiếp dâm trong các vụ án Bao Công xử:  Ví dụ: Vụ án cái chổi, chỉ vì mâu thuẫn chị em dâu mà người em dâu tự tự chết. Quan huyện tập trung khai thác các chi tiết, theo suy đoán mâu thuẫn người- người mà giết nhau. Sau đến Bao Công suy luận theo hướng khác, chỉ vì bị mang tiếng nhục oan thông dâm với anh chồng mà nạn nhân tự tử. Ở đây yếu tố văn hóa lại một lần nữa là một nút thắt. Người đàn bà trong xã hội Nho giáo có địa vị thấp lắm, chịu các Tam cương như gông cùm, áp lực tâm lý kinh khủng. Dù cho cực khổ mấy cũng chịu được, nhưng mang tiếng nhục vi phạm tam cương thì chỉ có đường chết.
* Có một mô tuýp vụ án kiểu như phân xử trộm vặt: Trộm ngỗng, trộm ô… Trộm ngỗng thì hỏi xem con ngỗng ăn gì, phân mầu gì (ai nuôi mới biết), trộm ô thì chia đôi cái ô, mỗi người một nửa ô rách, anh nào vui hớn hở thì đích thị là kẻ cướp. (Đó là dạng túi khôn trong dân gian)
 
25. Các vụ án và giai thoại phá án trong lịch sử Việt Nam.
Phí Trực phá án:  
Đoàn Khung xử chữa cháy: 
26. Vụ án oan liên quan đến Trần Quốc Chẩn 
27. Nếu nói các vụ án, đặc biệt là án oan trong lịch sử Việt Nam thì không ít. Vụ án Lê Văn Thịnh. Hoặc vụ án Lệ Chi viên, chu di tam tộc Nguyễn Trãi. Hoặc vụ án liên quan đến Tuyên phi Đặng Thị Huệ thời Lê Trung Hưng, chỉ vì tranh ngôi thế tử mà hàng chục quan lại dính lao tù, trong đó có Nguyễn Khản (anh của Nguyễn Du). Hoặc vụ án oan Trần Nguyên Hãn Hoặc vụ án Lê Văn Duyệt thời Minh Mạng, Vân vân…
Soi chiếu trong lịch sử Việt Nam, có thể rút ra nhiều bài học quý từ những vụ phân xử, vụ án liên quan đến các nhân vật lịch sử. Tiếc rằng, Việt Nam không có những ông quan nổi danh như Bao Công. Cũng là vì, lịch sử văn hóa, lịch sử tư tưởng người Việt khác với người Hán. Các bạn là những trí thức, cần phải hiểu sâu sắc vấn đề này.
 
 
do duc trung Gửi lúc : (30/05/2014 | 02:53:00)
Không biết nên tiếp tục gọi Bác là nhà văn hay là nhà sử học nữa.
Mà Bác có thấy rằng người Hán ngày xưa hay buộc mình vào chữ "trung" đến nỗi đôi khi là "ngu trung" đúng không? Chúc Bác khoẻ, viết hăng!
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : x7s4ex