Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
nguyen thi cam tu

Bình Luận của nguyen thi cam tu

cac ban oi cho minh y kien nhe. vay tom lai ho quy ly duoc xem la anh hung hay gian hung
ngo panbin

Bình Luận của ngo panbin

Khong nen binh luan danh gia cac nhan vat LSU mot cach thieu cong bang. Troi sinh ra kg ai hoan hao. trong cuoc song ban muon lam viec that hoan hao, nhung co bao gio dc kg ??? vi vay lanh dao mot dat nuoc khi hanh dong trong cong viec, cung nhu trong cuoc song doi thuong,co gi do kg hoan toan tot dep,co gi do khiem khuyet, ta cung nen luong thu ma bo qua cho ho, mien sao cai sai kg qua tram trong,cai lam duoc cho dantoc datnuoc de den hom nay chung ta va lich su thay dung dan co ich la qua tot va can ton vinh cong lao do, Cac ban co khi nao lam lanhdao va dung truoc ap luc that su lon chua ??? khi do kho tam lam ban oi !!!
Vay nen toi khuyen cac ban can co tam long bao dung hon voi nhung ai da lam tot, co loi cho datnuoc va dantoc vietnam, Du ho khac ching kien khac quan diem chinh tri voi ban, nhung chung ta la mot me auco sinh tram trung, va bo coi viet nam neu co mat vao tay ke nuoc ngoai ban chac se that su dau long. Con ben CSan hay QGia thi suy cho cung chua phai qua toi te, truoc het la cham dut chien tranh som di doi voi dong nghia su giet choc nhau giua nguoi vnam voi nhau kg con,dat nuoc ven toan mot moi, dan bot lam than kho cuc,Phia ban va phia toi, tat ca la conrongchautien,
Toi kg quan trong cai ten, CN CSan, CN MACLENIN hay chu nghia nao nao di nua, nhung dem lai dieu tot cho dongbao datnuoc vnam la dc, CN nao cung vay neu kg dclongdan, ban kg can thucday kg can dautranh ma tu no cung sup do va dongbao trong nuoc se lam viec do,
Phan Văn Hoàng

Bình Luận của Phan Văn Hoàng

Xin góp hai ý :
1- Tên tờ báo là NÔNG CỔ MÍN ĐÀM (nghĩa : uống trà nói chuyên làm nông và buôn bán). Không phải MÍM ĐÀM.
MÍNH là trà non. Cụ Huỳnh Thúc Kháng có bút hiệu MÍNH VIÊN (vườn trà non)
Người Nam Bộ phát âm -IN thành -INH, nên viết MÍNH thành MÍN.
2- Người ĐỒNG BANG là người cùng chung một nước.
Do người Nam Bộ phát âm lẫn lộn -AN và -ANG nén viết sai đồng BANG thành đồng BAN.
PVH
viet ha

Bình Luận của viet ha

bac le duan xa chung ta roi xong su can nhac trong moi tinh huong cua bon phuong bac khong qua duoc mat bac de hom naz con chau mang ra ma hoc mot so dung vi ca nhan cung dmua chuoc than bon phuong bac cung dung vi tien lam giau ca nhan con nhuoi tren the gioi naz ai cung thich hoa binh ai cung thich em am hanh phuc khong ai thich kho thich doi thich su tan nat vaz ai cung phai co hoc co nhan thuc daz du co su quan he dung dan be ban nam chau phuong bac danh ta la no khinh thuong khoi chau a khinh thuong ca the gioi con mang ba tinh thanh hoa nghe an ha tinh di lam bia la khong dung ca nuoc dung len dau tien la con em trong bo chinh tri ngaz baz gio lam guong phai ren binh luoc chi va con em can bo cua cac tinh thanh ra mat ngaz baz goi lam cho ca the goi kham phuc ai roi cung chet can thiet cho cac doi cam tu sang phuong bac cac ong ba cu ngoi len dung xuong noi qualoa len xe xuong nghua tien bac xung xinh con dan bam bien bi chung giet nguoi an cuop chung nhon mat roi truong xa hoang xa no lam het cong trinh naz den cong trinh khac
đỗ hồng quân

Bình Luận của đỗ hồng quân

Nói chung HQL đến bay giờ vẫn la bí ẩn.nhung xét cho cùng ông đê lại một sự táo bạo.giam cải cách....
Bờ

Bình Luận của Bờ

phân tích tác phẩm, nội dung chính truyện và cảm nhận của nhân dân đối với Bà Triệu
Linh tinh
Giới thiệu sách đặc biệt: Hồi ký liệt sĩ hy sinh tại chiến trường Lào

 Cách đây ít lâu, ngẫu nhiên mà một tập nhật ký của liệt sĩ Đào Văn Hách đến tay tôi. Càng đọc, tôi càng cảm phục ý chí sắt thép, tâm hồn nghệ sĩ chiến sĩ của chủ nhân tập nhật ký gần 1.000 trang này.

Ông Đào Văn Hách quê ở Duyên Hà, Thái Bình, nhập ngũ năm 1952, ra quân đầu những năm sáu mươi, sau đó vào năm 1966, ông xung phong đi làm chuyên gia y tế tại chiến trường Nam Lào (chiến trường C), vì trong quân đội, ông đã học trung cấp quân y. Khi đi C, ông đang ở phòng Y tế một huyện của tỉnh Thái Bình. Như vậy, ông Hách đi C trong đoàn quân chuyên gia khối dân chính đảng thuộc quản lý của Ban công tác miền Tây.

Đào Văn Hách ghi nhật ký từ ngày bắt đầu là 22/7/1954. Bốn tập đầu, được người nhà đóng lại, ghi ngày cuối 17/9/1962. Ba tập sau, ông Hách ghi từ ngày chuẩn bị đi C,  từ 1967, đến ngày cuối ở Siphandon là  cuối năm 1968. Sau năm 1968, ông được xét trở về địa phương tiếp tục công tác. Nhưng đến năm 1970, ông lại xung phong đi tiếp chiến trường C thêm 2 năm nữa. Lần này, ông bị quân phỉ phục kích tại rừng Nam Lào và hy sinh. Do có chuyến về Việt Nam mà gần toàn bộ nhật ký của ông được gia đình giữ lại.

Từ trước đến nay, dư luận đã tiếp cận, đọc được nhiều chiến sĩ ghi nhật ký chiến trường. Nổi tiếng hơn cả là Nhật ký Đặng Thùy Châm với số phận cuốn nhật ký khá thú vị. Nhật ký Nguyễn Văn Thạc tiêu biểu cho tâm hồn, ý chí lớp thanh niên sinh viên tòng quân chống Mỹ. Các nhà văn thế hệ chống Pháp, chống Mỹ cũng để lại nhật ký như Nam Cao, Chu Cẩm Phong… vân vân.

Tuy nhiên, để lại nhật ký ghi mê mải, chi tiết  từ năm 1954 đến 1970 như tập của ông Đào Văn Hách thì tôi mới thấy lần đầu tiên. Toàn bộ hoạt động trong quân đội, cho đến quá trình vượt Trường Sơn 75 ngày từ Hà Nội đến Siphandon, một địa danh giáp giới Thái Lan, Campuchia của Lào, quá trình sống và công tác với người Lào ở rừng sâu Siphandon, đã được Đào Văn Hách ghi lại với tâm thế của một tâm hồn nghệ sĩ chiến sĩ.

Cần nói thêm rằng, nếu Đào Văn Hách không anh dũng hy sinh ở rừng Nam Lào, thì chắc chắn ông sẽ trở thành một nhà văn đích thực. Theo nhật ký của ông, ngày 27/12/1961, ông đã dự Hội nghị bạn viết chuyên nghiệp và bán chuyên toàn quân, do Tổng cục chính trị tổ chức. Hội nghị này do ông Hoàng Minh Thi thiếu tá ở Tổng cục Chính trị đến phát biểu khai mạc. Phải có quá trình viết lách như thế nào ông mới được đi dự hội nghị này. Những trang sau, khi ở rừng Lào, ông cũng ghi lại ý định phác thảo một quyển tiểu thuyết về những ngày làm chuyên gia cố vấn ở Lào. Thực tế, bắt đầu vượt Trường Sơn, do ý định phác thảo tiểu thuyết, và cũng do yêu cầu bí mật tài liệu, ông Hách đã viết nhật ký dạng tự truyện. Khi vượt Trường Sơn, ông nhập vai là Xi-Pha, các nhân vật Việt cũng đều được đặt bí danh hoặc tên Lào. Khi đến Lào, thì đó là những ghi chép của “tôi” về nhân vật Tha Von. Có nhiều chỗ, người viết phân thân thành “tôi” đối thoại với Tha Von.

Những trang viết về cuộc sống và chiến đấu gian khổ ở rừng sâu Lào là những trang viết lạ, chi tiết còn tươi mới hơi thở cuộc sống, mà những người không trực tiếp sống không thể bịa ra được. Những suy tư của nhân vật có hơi hướng ảnh hưởng tư duy của Pa-ven trong “Thép đã tôi thế đấy”. Tuy nhiên, do là nhật ký, nên suy nghĩ của nhân vật của Đào Văn Hách không ngần ngại nhìn xung quanh với con mắt phê phán, dự cảm những điều sau này mới xảy ra. Nếu nói về việc xây dựng nhân cách thì đây là một bài ca về khí tiết của một con người tiêu biểu trong thế hệ làm hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc.

Nhân dịp kỷ niệm quốc khánh Lào 2/12, chúng tôi xin kêu gọi những đồng nghiệp, bạn bè có thời gian công tác tại Ban Công tác Miền Tây liên hệ bổ sung tái bản ở lần sau, giúp đỡ chúng tôi hoàn thành tâm nguyện của một liệt sĩ nghệ sĩ đã hy sinh vì sự nghiệp vĩ đại của dân tộc. 

Xin trích đăng một số đoạn trong Nhật ký Đào Văn Hách.

 

Phát rẫy làm ruộng ở Hồ Đỉa Noọng Phừng

18867 (18/8/1967)

Trước mắt cả một cánh đồng Na rộng lớn hàng chục héc-ta, một màu xanh biếc cỏ hút đầu người, những cây cỏ ở đây rắn như cây sậy dầy đặc bước lên không lún.

Tôi vác cuốc, cái cuốc lưỡi bé như bàn tay, cửi quần dài quấn lên cổ lội qua cái mương sâu ngang người. Muỗi được thưởng thức cái đùi lành lặn nhẵn thín, nó ra sức bâu đuổi không kịp. Trên mặt những đàn dãn bé tý bâu khắp mặt, anh nào anh ấy đã bưng kín mặt chỉ còn hở mắt mũi mà cũng không chịu được.

- Ta xuống cánh dưới đắp trước.

- Ừ! Đâu cũng được. Tôi trả lời nhóm trưởng vừa đứng lại sửa lại cái khăn thì đỉa con đỉa lớn đỉa người đỉa trâu bâu đến đen ngòm.

Đúng là Noọng Phừng. Cái tên đó thật chẳng dại một chút nào, nó là cái hồ đỉa, chắc hẳn đỉa ở đây lưu trữ từ lâu đời nên người ta mới đặt cho cánh na này là Noọng Phừng và cũng lấy luôn cái tên đó đặt bản những người Lào Thâng và người La Ve.

Tôi cũng chưa hiểu thế nào là “bám như đỉa đói” có đến đây mới thấy quả câu ví đó không sai. Con đỉa đói bụng được hơi người bám riết, rứt không ra. Khi cố tình lấy nó ra thì nó bám chặt vào tay vẩy không đi, vẩy mạnh nó rơi vật ngược vào người, có con rơi vào cổ. Không nhẽ cứ đứng mà bắt đỉa, xua dãn xua muỗi, dãn cắn nóng ran cả mặt, muỗi cắn rát đùi, đỉa cắn nhức chân. Cái cuốc bé lưỡi kéo đất ngập dưới cổ dầy, nước ngập sâu, lôi lên chỉ còn đám gốc cỏ. Kéo đến bao giờ mới xong hàng 300m bờ to bờ nhỏ mà nhóm này chỉ có ba người. Nhóm thợ cầy đã bắt được trâu, lưỡi cày bé như bàn tay mà bàn cầy thì bằng cả một gốc cây lớn, con trâu đi rất ngang ngược làm cho người cầy lúc lôi sang trái kêu tắt, lúc kéo sang phải kêu hay, cứ nong hầy tắt luôn luôn, chắc chắn có đứng lại chân sau vẫy đỉa, nước bắn tóe cả lên mặt người cầy, cỏ quấn vào cầy chắc lại phải dừng lại gỡ cỏ.

Ông chánh án (huyện) Thanh Liêm đang dằng kéo với con trâu ngang ngạnh định phá bĩnh nói với Bí thư Đảng ủy (xã) Tiên Phong (những chức vụ cũ của các chuyên gia khi còn ở Việt Nam).

-          Không chắc ghì, khỏi gẫy cầy.

Bí thư Tiên Phong khỏe hơn, anh cầm cầy thay Chánh án Thanh Liêm quật con trâu một cái, nhấc bổng cầy quay mặt sang trái ghì mạnh cho con trâu bắt buộc đi theo hướng đã định của hai bác thợ cầy. Nếu nhìn kỹ, qua cái khăn bịt đầu bịt tai của hai bác có lẽ mồ hôi đã ướt đẫm.

Tôi gọi với sang tổ phát cỏ. Bên đấy có thiếu đỉa thì sang bên đây, mấy bác phát cỏ ngẩng lên nói lại: Bên đây đỉa thì không thiếu mà dãn và muỗi thì thừa nhiều quá. Thật vậy. Đám cỏ sậy ngập đầu người, dầy đặc, đó là chỗ trú ngụ của ngàn vạn tổ dãn muỗi. Động đến chúng tóe ra hơn ong, bay cả vào mắt, chúng lánh qua khăn chui vào cổ vào họng, mặt anh nào anh ấy dầy cộm như bánh đa vừng, đỏ gay như gấc, loáng choáng như người say rượu.

Bộ quần áo đi làm chuyên nghiệp đã 4 hôm nay chưa giặt, nó ẩm, hôi, sáng dậy phải cởi bộ quần áo ấm cúng thơm tho để mặc nó vào đến nhếch nhác ngứa ngáy. Nếu mỗi ngày một lần (thay quần áo) thì rồi chẳng có gì mà mặc nữa. Trời cứ mưa rả rích cả ngày, chí héo nắng được một lúc trưa. Cơm xong mọi người ngủ ngon lành, ngủ giấc trưa hơn hẳn giấc đêm. Thực ra từ gần 10 giờ đến 3 giờ chiều làm sao hết (mệt) được, nếu cơm và thức ăn mà lại nhiều như ngủ thì quá bằng an dưỡng không bằng. Làm vất vả thì ngủ kéo lại chứ cơm đã ít ăn thêm măng, cái thứ măng vầu măng tre không mỡ, không có đồ đạc nấu nước, tráng với chút nước mắm tự pha chế bằng thịt lợn gạo năm ngoái còn lại, mặn đắng. Thế mà cũng hết nốt. Có ngày hàng hai rổ măng, măng chua, măng chát, măng nấu, măng sào. Đôi bữa được cải thiện bằng rổ rau muống luộc. Giết hai con vịt năm trăm đồng, có anh buồn tình ngồi đếm mỗi con vịt gầy xem bao nhiêu miếng, té ra gần tám đồng (một miếng), chà bồi dưỡng cái chi mà thực phẩm mua đắt thế. Không biết cấp trên bận gì, trong lúc các cơ quan Bạn bỏ việc về nhà hết, không thấy cái làm, cái ăn, cái ngủ để mà có kế hoạch bồi dưỡng ít măng rừng nữa cho anh em.

 

Sốt rét ở rừng Lào

221167 (21/11/1967)

Nhớ lại lần trước (sốt rét). Sau khi phát cỏ xong thửa ruộng cuối cùng, cấy thêm. Thật khó nói. Thêm nếm, lại thêm nếm… Các quan chức lãnh đạo ngồi nhà nghe báo cáo tăng gia, thấy chạy việc, tiếc rẻ, bắt anh em thêm nếm mãi. Mình vào chân phát cỏ tương đối có uy tín. Họ nói thế thôi chứ phát cỏ ai chả làm được, song vì nhức cánh mà đùn nhau kiểu mới, còn lạ gì…

Cỏ phát vừa hết thì sốt kéo dài từ 16 đến 19 tháng 8. Mấy năm ở rừng núi Đông Bắc, ở biển, ở đồng bằng, không sốt bao giờ. Nay đến đây thì bị. Kiểu sốt trong 41 độ, mà đầu nhức như gần nứt làm đôi, túm tóc giật giật, như căn bệnh viêm não.

Tôi bảo Khăm Pheng: Cậu cứ tiêm Qui… 05 vào ven cho mình.

Khăm Pheng nhất quyết không tiêm. Mấy ngày sau lên hạch và một đường đỏ từ bẹn xuống chân, phải tiêm Peni. Thằng cha hốt, tiêm một phát bốn trăm đơn vị, buốt gần tắt thở. Căm hờn con bệnh.

Lần trước sốt còn có anh em chăm sóc, muốn ăn cơm nếp có cơm nếp, muốn ăn canh có canh. Ốm lần này mấy ông bạn đi vắng cả, chỉ còn lại cái nhà sàn bẹp với ông già ốm ho sù sụ. Thình thoảng con Teo về hày (rẫy) hái cho ít rau tàu bay. Sáng nay nhức đầu quá. Sốt hết đêm qua. Cơn rét nên lấy cả bạt chăm màn đắp, không chịu nổi. Khát nước phải làm hai hơi nước lã, thứ nước ở cái rãnh gần cạn sau nhà. Gần đây không có suối.

Bây giờ ai thổi cơm nấu nước cho đây? Thèm quá. Có ai bóp đầu cho mình một chút thật cám ơn.

Ngó đầu ra ngoài gọi: Phò Đăm?

-Gì đấy?

-Con sốt lắm bố ạ. Cả đêm qua. Sáng nay nhức đầu quá.

-Uống thuốc đi. Ôi chà. Nghĩ mà cũng ốm.

Bố gìa làu nhàu một thôi dài, tôi chưa hiểu hết tiếng Lào.

-Bố đã khỏe chưa?- Tôi gặng hỏi- Dậy được chưa? Ăn gì, chốc nữa con Teo đến bố bảo nó nấu cơm giúp nhé, con mệt lắm không dậy được đâu, chỉ khát nước.

Ôi chà, bây giờ có nước nóng, lại có tí đường nữa thì bao nhiêu nước chả hết. Nằm thiu thiu toàn thấy nước là nước mà không được uống, cáu tiết mắng om sòm. Bố già thấy nói mê, gọi. Tỉnh dậy vẫn thấy bố ngồi bó gối ho. Mà ánh nắng đã soi xuống cánh na trước mặt. Bếp vẫn lạnh ngắt. Tôi hỏi:

-Con Teo đến chưa hả bố?

-Có thấy nó đến đâu.

Tôi thở dài. Ôi khát nước quá. Bố già vẫn làm thinh. Tôi lồm cồm bò lại phía bếp gắng ngồi gầy bếp. Ánh lửa làm cho tôi lên cơn sốt thêm. Lại lê về chỗ nằm. Nước chưa nấu được. Trong cơn sốt tôi mơ thấy nhiều người quen quá. Hỏi nước uống, ai cũng lắc đầu. Tôi bực quá lại mắng quát om sòm. Tỉnh dậy thấy bố già đã nấu nước xong. Uống một hơi liền bốn bát. Vẫn khát nhưng bố già không cho uống nữa.

Gần trưa, bố già và tôi vẫn không có cơm ăn. Tôi cứ uống nước thay cơm. Lúc này có bát cháo thì quý hóa như bình thường cho ăn bữa tiệc linh đình. Chỉ cần cháo suông cho muối và củ hành thôi. Giá Thoong Đi đã về thì tốt.

Ở bên đây, ốm đau phải có anh em mình. Cần gì dù có hay không cũng dễ chịu. Bóp đầu cũng tận tình. Tí đường tí sửa san sẻ cho nhau.

Nằm trơ trọi một mình sao mà nghĩ miên man thế. Lúc thì nghĩ căm thù giặc, không có nó bây giờ ta vẫn long nhong cái xe đạp chạy công tác bên nước nhà. Chủ nhật hàng tuần ghé thăm mẹ, thăm vợ con. Ốm đau có bệnh viện, có chế độ rõ ràng, đâu có phải nằm trơ nơi rừng sâu Xê-đon. Giá mình có phép gì, mình sẽ làm cỏ sạch 2 triệu quân Mỹ… Cái mộng tưởng như thần thoại Tây Du ký. Vẫn cứ loay hoay cái ý nghĩ có phép thật giỏi, là người Việt Nam chân chính, chỉ một mình thôi nhanh chóng hoàn thành cuộc chiến đấu giành độc lập của dân tộc.

Tôi lại nghĩ, nếu 1 năm nữa thống nhất, thì chỉ hơn 2 năm nữa ta về phép. Đầu vẫn nhức, óc vẫn miên man vơ vẩn.

Trong lúc tôi sốt mê man, Chăn Tha, con gái mẹ Ngân đến mua của ông già Đăm cái mẹt sẩy gạo. Thấy tôi sốt, già Đăm ốm, không thấy cơm cháo gì, nó xách đến cho một tuýp xôi và một ít cá nương với gói cá khô giã trộn ớt.

Tôi tỉnh dậy, mặt trời đã xế chiều. Lại uống nước. Thấy đầu giường có cơm cá. Bố già đi đâu không thấy. Bụng không đói. Véo tý xôi ăn đắng ngòm. Một lúc sau bố già về bảo tôi ăn cơm. Tôi bảo không ăn được. Bố già bảo cơm của Chăn Tha mang đến.

Bố già nói đùa: Cơm không ăn, thế con có muốn Chăn Tha không?

-Ôi, bố nói vậy chồng nó về nó giết. Nó giết cả con và bố đấy.

-Chồng nó bỏ rồi- Bố già nói đến đấy thì nói tiếng Việt: “To đấy”.

Ông già này lúc khỏe thì lắm chuyện đùa ra trò. Là cán bộ giúp huyện, àm chả biết bố làm gì. Suốt vụ qua chỉ thấy bố ở đây coi lúa và chăm con trâu cho Huyện. Thế nào trâu chết mất. Bố ốm liên miên. Khỏe lên lại đan lát lấy tiền mua diêm thuốc bồi dưỡng. Quê bố ở vùng địch khá xa, con cái đi Việt Nam, đi bộ đội, máy đứa con gái lấy chồng chẳng biết bây giờ ở đâu, thành ra bố thân tự lập theo cách mạng…

 

Ngày hội Bun Bang Phang

Bản Nặm Om hôm nay có Bun Băng Phang. Hội Bun này có tục truyền từ lâu và không lấy gì lành mạnh cho lắm. Nó là cái Nun khiêu dâm lạc hậu của đám đàn ông. Hầu như đàn bà họ không dự những cuộc vui múa cuồng loạn vì rượu và rượu. Thavon vừa tới đầu bản, đám thanh niên đang múa định lôi Thavon nhưng Thavon từ chối, đi vào giữa bản gặp đám các ông già và trung niên. Trong đó Thavon thấy mấy cậu cán bộ đại đội tỉnh, toàn người quen, họ lôi Thavon đến uống rượu trong lúc ông Tuấn cũng bị bắt cóc uống rượu, và cậu ta sợ, chuồn lên nhà Phò Chum nằm. Thavon bị mấy cậu cán bộ quen thuộc lấy dây buộc ngang người dằng với nhau và bắt múa theo họ.

Sáng này ra Thavon mới ăn có một chút cơm, mà bây giờ họ cứ ép uống rượu, loại rượu cần như rượu cái của ta. Thavon uống say mềm, họ dội cả lên đầu. Thavon ngậm vào mồm phun lia lịa ra chung quanh, lảo đảo bước đi giữa tiếng trống, tiếng khèn.

Tiếng la tiếng hát om sòm. Họ chia làm rất nhiều tốp đi xung quanh bản, mỗi nhóm đều có một đôi trống một mặt gõ inh tai. Thavon cũng nhảy cũng múa cũng la như người Lào, không từ chối việc gì. Họ lấy một cái mu rùa to, đắp một cái bánh dài hình như chiếc âm hộ đàn bà, gặp ai họ dí vào mũi. Họ làm mô hình đàn ông đàn bà dập dập vào nhau, nhất là đám thanh niên hét gào như điên loạn. Họ nói những câu rất tục tĩu ghê tởm. Trong toán đi trong đoàn Thavon có một ông già bạc đầu cúi xuống lậy dưới chân một chú thanh niên say mèm, thằng bé đá đít ông già ba cái, rồi chính nó lại cúi xuống lậy ông già, ông già đá đít lại. Thằng bé thứ hai khoảng 13 tuổi, say mèm rượu, đến nhà ai nó cũng víu lấy cầu thang gọi: mẹ ơi, có bánh cho ăn này. Và chẳng nhà nào cho vì có cho nó, nó cũng vất đi mất. Thavon hỏi người bên cạnh, túm kéo thằng bé về nhà nó. Đến nơi nó cũng chẳng biết đây là nhà nó, vẫn gọi như trên. Mẹ nó dắt nó lên nhà, víu cổ nó cho nằm một góc. Con bé Phuống mà Thavon nhận làm con nuôi cứ nhìn theo Thavon mà cười rũ rượi.

Thavon bỏ đám đông chạy lên nhà phò Lạ, con Phuộng cũng lên theo. Nó viú cổ Thavon đấm thùm thụp. Thavon không hiểu sao, nó bảo đấm cho phò không say. Con Phuộng lấy nước cho Thavon và lấy cơm cho Thavon, nó ngồi bên nhìn Thavon say mềm, mặt đỏ gay nằm thở. Lúc lúc nó lại hỏi đỡ say chưa phò Thavon. Thavon lại cổ gắng mở mắt bảo đỡ say rồi, nhưng mồm nói líu ríu. Một lúc lâu Thavon nôn hết ra. Cả nhà phò Lạ lo cho Thavon, con bé Phuộng ngồi bên đắp khăn ướt săn sóc cho Thavon.

Ồ! Con gái của bố ngoan quá. Thavon tỉnh hẳn dắt Phuộng ra chùa xin sư làm lễ ban chiều. Sau cuộc diễu quanh chùa là một cuộc ẩu đả nhau kịch liệt. Họ múa suốt đêm. Thavon thức giấc thấy trời mưa như trút, họ vẫn đốt lá trong mưa cho đến sáng bạch, nhưng múa ban đêm phần lớn là cán bộ Bạn.

 

Ngày Tết Lào.

…Chiều gần lặn mặt trời thì tới bản Thùng Say. Mấy cô gái Lào hò nhau đem nước té Thavon. Họ hô: “Hốt nạm ại noọng Việt, chúng bay ơi”

Thavon tìm cách đối phó, vừa đi vừa liếc nhìn xem chúng có té không. Chúng lại hò nhau lần thứ hai. Thavon đi một quãng xa, quay lại nói đùa: “Té thì té”, thế là chúng nó đuổi. Thavon chạy tuột lên nhà Xi Phả, gặp ngay bà mẹ Xi Phả. Tụi con gái sợ ướt bà già nên không té nữa. Vợ Si Phả nháy mắt, nói nhỏ với nàng Sòi (em vợ Si Phả): “Té Thavon, lấy nước!”. Sòi vừa xách khú nước từ dưới lên, Thavon đứng trên sàn cầm lấy khú nước dội từ vai dội xuống. Cô gái có mặt tròn xoe, có đôi mắt tha thiết cầu khẩn yêu đời ấy tức lắm, chạy lại cóng nước định lấy gáo múc thì Thavon đã cầm lấy gáo rồi. Thấy tình thế giằng co không xong, Thavon đành cho cô gái xinh đẹp ấy thoải mái ý mong muốn cầu may. Nàng lấy làm đắc chí, dội lên mình Thavon năm bảy gáo. Thế là hai người cùng ướt. Bà mẹ nom thấy cứ đứng cười.

14468 (14/4/1968)

Thavon ba lô lên vai thì nàng Sòi từ trong bếp ra, giấu sau lưng ca nước. Kha Thavon bước xuống cầu thang thì cũng vừa lúc rất dễ cho nàng dội từ vai dội xuống, ướt sũng vai, ngực áo và ba lô. Thavon đành chịu ướt ra đi. Chắc nàng lấy làm khoái chí. Nếu Thavon không giữ đúng phong thái một cán bộ Việt thì nàng Sòi còn chết, không phải chết vì cái gì khác, là vì con mắt tròn xoe nhìn không chớp ấy, hèn chi mà không té cho nàng vài cái ướt tận vào bên trong. Nhưng không, Thavon vừa đi Xạ Nửng vừa nói với bản thân: “Ta sang đây không phải để làm những cái điều mà để cho ngay bản thân con ta nó cũng chửi và sỉ xả được. Ta phải làm những điều mà đôi chân ta nó cũng vui, lòng không oán trách rằng nó tiếc công trèo Trường Sơn…”

Đến Xạ Nửng, thấy ông Têm đã ngồi ở nhà Nang Bút. Bà mẹ Nang Bút dọn cơm cho Thavon, gọi là quý hóa và quen biết, lại nhân dịp ngày tết, Thavon mới được ăn bánh đúc với canh cá. Chao ôi! Nói chung, chỉ có Xạ Nửng tổ chức tết còn có chút rôm rả.

Tụi con gái đang te tái chạy cong đít, xách khú nước đi đuổi té mấy anh chàng bộ đội và đám trai làng. Nom thấy bóng dáng Thavon, hai nàng Đon và Khăm Pheng thì thầm với nhau. Thavon biết nó sẽ té, ngồi lẩn vào đám mấy ông già, chúng cũng chẳng kiêng nể gì mà không té từ dưới lên, ướt hết chỗ ngồi. Thavon né người tránh nhưng vẫn ướt. Ở chùa, sư cũng chạy tóe lẩn trốn, con gái đuổi té cả sư. Sư chẳng qua chỉ là mấy thằng nhóc. Ngày thường thì con gái rất khép nép, không dám vào chùa nô chạy. Thế mà hôm nay, cả một tụi con gái gần chục đứa chạy thẳng vào chùa, mò lên tận chỗ nằm của sư, đuổi té bằng được. Sư phải túm áo cà sa vàng mà chạy trốn, nom đến buồn cười.

Gần trưa, cái trò chơi té nước ngán ngán thì trai gái và bộ đội chia làm hai bên ném thỏ. Quấn một cái khăn tròn lại làm thỏ, vạch một đường ranh giới, ném tung con thỏ sang bên kia. Nếu bắt được thì ném, ném trúng ai thì người ấy phải sang bên được ném.

Thavon vào chùa chơi với sư, lúc này mới được đi đàng hoàng, không sợ té nước.

Phò Nạc đi tìm Thavon. Thavon hỏi: “Gì thế hả bố?”

“Về chơi với Bun Dưn”

Thavon về nhà Phò Nạc. À, Bun Dưn con trai Phò Nạc học y sỹ ở Việt Nam về. Cái anh chàng khá đẹp giai, nói tiếng Việt thành thạo. Gia đình Phò Nạc rất vui, Bun Dưn đi sáu năm nay đã về.

“Hai đứa cùng là y sỹ. Thavon ở đây mai hãy đi” – Bun Dưn giữ Thavon.

Không gì bằng tình cảm, nhất là cha Nạc và người con đi xa về. Những cử chỉ rất nhỏ Thavon cũng thấy ấm cúng lạ thường, không thể không chạnh lòng những người còn ở xa mà nhớ lại lúc về với gia đình.

Thavon đeo túi xuống cầu thang thì Khăm Pheng chạy lại định té. Thavon vội kêu: “Này, mình đến tiêm cho mẹ Lả đấy, ướt là không tiêm được đâu.”

“Mặc kệ” - con bé mặt tròn, tinh nghịch cứ sấn lại định té.

“Thì đây, té vào vạt áo này vậy” – Thavon chìa vạt áo cho nó dội một chút.

Tục với lệ, rất đáng tệ. Đúng ra người ta ngâm hoa chăm pha vào bát nước, lấy lá cây sẽ vẩy như mưa phùn ấy chứ, đâu có nghịch như của nợ này. Thậm chí còn lấy cả nước bùn té vào áo trắng, vào đầu, vào mặt. Đang ăn cơm cũng dội nước ướt sạch các thức ăn và đồ dùng.

Tối đến ở chùa chẳng rõ làm gì, mấy tay sư trẻ cầm nến, cầm hoa đi trước, dân làng già trẻ trai gái đi sau cũng mỗi người cây nến và một cành hoa dại. Đi xung quanh chùa ba vòng, rồi sư leo lên một cái lầu, quỳ xuống đọc Kinh. Mỗi câu thì dân làng lại nhắc lại và vài ba câu thấy sư cúi lễ thì mọi người cũng cúi lễ theo. Tất cả khi xong thì cắm hoa cài nến xung quanh lầu và ra về. Sau đó, tốp bộ đội thì gõ trống hát, tốp khác thì lại ném thỏ. Đám thiếu nhi nam thì rồng rắn, đám thiếu nhi nữ thì chọi gà, tức là mỗi bên một em phủ khăn nằm sấp gọn lỏn, bí mật, bảo đối phương đến nghe tiếng gà gáy, nói đúng tên nào là mất gà.

 

Qua sông Sê Păng (trên đường vượt Trường Sơn)

10 giờ sáng tới bờ sông Sê păng, đến sông vừa lúc có lũ to đổ về. Giao liên bảo cả đoàn quay lại để đồng chí tìm đò. Chờ đến hơn 1 giờ không thấy đồng chí giao liên quay lại, mọi người đang bàn kế hoạch vượt sông.

Xi Pha rẽ tay phải để tìm dây căng qua sông thì thấy một cây to trên thân cây khắc bốn chữ “Hồn non đôi mộ”. Nhìn phía trước có hai nấm mộ xếp đá xung quanh nằm song song nhau.Xi Pha hỏi đồng chí giao liên chỗ hai nấm mộ ấy. Đồng chí giao liên kể lại:

Năm 1965 có một đơn vị đi B qua sông. Hai hôm sau tin đơn vị báo lại, bị hai đồng chí mất tích, không rõ lạc hay đảo ngũ. Trạm cho đi tìm thì hai người thanh niên ấy nằm ôm nhau chết ở gốc cây to đó. Năm 65-66, địch bắn phá rất ác liệt. Nói chung từ khách cho đến trạm ngày chỉ ăn có ba lạng gạo, một mặt vừa đói, mệt, sốt không có thuốc. Hai người thanh niên trẻ đó cùng quê ở Hưng Yên. Trên con đường mòn Trường Sơn này vào những năm đó còn có biết bao nhiêu chuyện đau lòng. Đói cơm, thiếu thuốc, bom đạn, hơi độc và B52. Sự chịu đựng của con người trên dãy Trường Sơn thật là cao cả và anh dũng. Hồn non đôi mộ, mấy chữ ấy cứ như đập vào óc Xi Pha như có gì thúc giục. Xi Pha cảm động vô cùng. Ta phải làm gì? Như dấu hỏi trả thù cho những người đã nằm xuống.

Giao liên báo không có đò, chăng dây qua bị đứt không căng nổi. Chỉ còn một vấn đề là quấn vải nhựa làm phao bơi sang. Xi Pha bơi bốn chuyến, mang giúp cho anh em, mệt phờ. Sau cùng 4 anh dìu một đồng chí ở tổ 44 không biết bơi. Nước lũ, nước lũ mà Xi Pha đã biết nó cách đây 11 năm về trước, trong chuyến đi bè từ núi Tam Lang về Đầm Hà làm doanh trại ở E50. Nước lũ chảy xiết và xối xả, không vững bơi thì đập đầu vào đá đẩy xuống vực, thế là hết.

“Máy bay đấy!” – tiếng đồng chí cảnh giới trên bờ kêu vội lên. Nhiều anh sang bên kia bờ chưa kịp mặc quần, để tồng ngồng, ôm vội bó ni lông chạy tuột vào bụi trên bờ. Một số đang bơi đành nằm cho nước trôi về phía dưới và ngoi ngóp mãi mới lên được.

Chiếc L19 rè rè trên đầu, nom đến ức. Hai cáng thương binh định sang phải quay trở lại.

Đoàn trưởng thu quân gần 1 giờ mới lên đường, chẳng anh nào thoát ướt. Có anh bó không chặt, ướt hết quần áo ba lô, lếch thếch tay xách nách mang, kéo nhau hành quân.

3 giờ chiều tới trạm 12B. Trạm này ở trong khu rừng tre trúc, nhà khách nhà trạm ở rải rác rất thưa. Lý do chính trạm đã bị bắn phá một lần do một đơn vị đi B đun khói, L19 phát hiện được. Cũng lý do đó mà khách vừa đến là cán bộ trạm đến kiểm tra chặt chẽ, nhắc nhở ngay.

 

Trần Nhật Thăng Gửi lúc : (01/12/2014 | 02:17:00)
(Xin chia sẻ với nhà văn:Mời vào blog những CCBtieudoan99trungdoan232pcx,đọc một loạt bài:Những chuyện ở Lào.)
Cũng phải nói thêm thế này:lứa chúng tôi Trường sơn,Xe kong(Lào) Tây nguyên ,chiến dịch HCM đều không ai muốn viết nhật kí?Không phải vì khó khăn thiếu thốn hay chiến đấu ác liệt…mà chủ yếu là kiêng?Thực ra hồi đầu nhập ngũ có viết nhật kí tập thể,mỗi 1 tối 1 anh viết trong những thằng cùng đi…Tôi cho là cũng rất hay,tiếc là sau mỗi thằng mỗi ngả ,nên thất lạc.Nhưng cũng có già nửa năm tập kết ở Nam Lào trước khi trở lại Tây nguyên.Có một ý thế này nếu lứa liệt sĩ Hách là chuyên gia Vn sang Lào từ 1970 đến 1974 rút hết về thì trùng với đoàn chuyên gia của Anh Bùi Tiến Hảo-Người Hà nội.Tôi biết họ rất giỏi tiếng Lào chữ lào…Và thông minh hơn hẳn những cán bộ của ta lúc đó ở các địa phương trong nước.Chính nhờ A Hảo mà chỉ sau nửa tháng tôi được anh Hảo dạy đã thành thạo tiếng và chữ Lào.Đến giờ hơn 40 năm ,tiếng Lào vẫn nhớ ,chữ Lào thì quên. “Hốt nạm ại noọng Việt, chúng bay ơi” cần chỉnh lí lại là:”Hốt nặm ải nọong,ưởi noong ơi!”(Té nước anh em Việt ,chị em ơi!)Nói về phong tục(Pạphenọn) tập quán của dân Lào dù thời gan ở Lào không lâu,song tôi lại thấy gần gũi,thân quen với phong tục của họ.Dân tộc Lào?Lào Lùm(Như người Kinh ở ta),Lào Thâng(Chúng tôi thường gọi là Lào Thưng).Lào Thâng lại có rất nhiều chủng tộc.Thời chúng tôi biết là bà con Lào Thâng tộc người A-Lăx.
Tục tắm tiên:
Người Việt ta cứ nói là tắm tiên thì hiểu theo một nghĩa khác?Đến chuyện cổ tích tiên thật tắm còn bị mất trộm xiêm áo,cánh là gì?Phụ nữ Lào từ 10 tuổi trở lên đều tắm tiên.Phu sao(thiếu nữ) Lào thường tắm ở bến vắng đầu nguồn ,nếu là suối.Họ tắm như thế nào?Khi tắm họ đều khoác một chiếc váy kín đến cổ.Bước xuống nước họ cuốn dần lên.Khi nước kín ngực thì váy gấp gọn ghẽ trên đầu.Khi xong ,mọi thao tác ngược lại thế là tắm tiên.Một số ảnh nghệ thuật thành công về thiếu nữ dân tộc ta tắm tiên giống Lào là như vậy.
Các chuyên gia Việt tại Lào đều nói thiếu nữ ,phụ nữ Lào dù bất cứ tộc người nào: kín đáo ,duyên dáng ,ý tứ hơn người Việt mình nhiều trong giao tiếp với mọi người.
Đi nước Lào ăn mắm nhái?
Tôi có hỏi một chị người Alax:Bà con mình có biết mắm nhái không?Chị tròn mắt không hiểu,ông chồng chị dịch lại bằng tiếng alax(chứ không phải tiếng Lào phổ thông).Hiểu ra chị cười rũ,mới trả lời tôi:
-Em ơi cái em hỏi là “Nặm xị” ở tít những bản tộc người mà dân bản chưa ai đến,chỉ mới nghe nói thôi.
Thường thì nhật kí là những sù xì ,gai góc…thật đến tàn nhẫn của mỗi con người?Có thể mang lại cảm xúc lạ với người ngoài cuộc hay đồng cảm với người trong cuộc.Song được nghệ thuật hóa nên thành một tác phẩm nghệ thuật :Truyện ,phim…theo kiểu tự sự sẽ thành công hơn.Tiếc là người viết Đào Văn Hách đã không còn?
Ăn bốc-Kha lăm(kiêng)-Đón khách lạ…của người Lào tôi đều thấy cái văn minh lịch sự trong đó .Nhưng khó chia sẻ vì comment không thể dài nữa
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : apchcs