Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
nguyen thi cam tu

Bình Luận của nguyen thi cam tu

cac ban oi cho minh y kien nhe. vay tom lai ho quy ly duoc xem la anh hung hay gian hung
ngo panbin

Bình Luận của ngo panbin

Khong nen binh luan danh gia cac nhan vat LSU mot cach thieu cong bang. Troi sinh ra kg ai hoan hao. trong cuoc song ban muon lam viec that hoan hao, nhung co bao gio dc kg ??? vi vay lanh dao mot dat nuoc khi hanh dong trong cong viec, cung nhu trong cuoc song doi thuong,co gi do kg hoan toan tot dep,co gi do khiem khuyet, ta cung nen luong thu ma bo qua cho ho, mien sao cai sai kg qua tram trong,cai lam duoc cho dantoc datnuoc de den hom nay chung ta va lich su thay dung dan co ich la qua tot va can ton vinh cong lao do, Cac ban co khi nao lam lanhdao va dung truoc ap luc that su lon chua ??? khi do kho tam lam ban oi !!!
Vay nen toi khuyen cac ban can co tam long bao dung hon voi nhung ai da lam tot, co loi cho datnuoc va dantoc vietnam, Du ho khac ching kien khac quan diem chinh tri voi ban, nhung chung ta la mot me auco sinh tram trung, va bo coi viet nam neu co mat vao tay ke nuoc ngoai ban chac se that su dau long. Con ben CSan hay QGia thi suy cho cung chua phai qua toi te, truoc het la cham dut chien tranh som di doi voi dong nghia su giet choc nhau giua nguoi vnam voi nhau kg con,dat nuoc ven toan mot moi, dan bot lam than kho cuc,Phia ban va phia toi, tat ca la conrongchautien,
Toi kg quan trong cai ten, CN CSan, CN MACLENIN hay chu nghia nao nao di nua, nhung dem lai dieu tot cho dongbao datnuoc vnam la dc, CN nao cung vay neu kg dclongdan, ban kg can thucday kg can dautranh ma tu no cung sup do va dongbao trong nuoc se lam viec do,
Phan Văn Hoàng

Bình Luận của Phan Văn Hoàng

Xin góp hai ý :
1- Tên tờ báo là NÔNG CỔ MÍN ĐÀM (nghĩa : uống trà nói chuyên làm nông và buôn bán). Không phải MÍM ĐÀM.
MÍNH là trà non. Cụ Huỳnh Thúc Kháng có bút hiệu MÍNH VIÊN (vườn trà non)
Người Nam Bộ phát âm -IN thành -INH, nên viết MÍNH thành MÍN.
2- Người ĐỒNG BANG là người cùng chung một nước.
Do người Nam Bộ phát âm lẫn lộn -AN và -ANG nén viết sai đồng BANG thành đồng BAN.
PVH
Linh tinh
Sự lựa chọn của Hồ Chí Minh năm 1941-1945

Chúng ta thường kêu gọi nhau học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Nhiều người lầm tưởng về hai chữ “đạo đức”, khuôn vào tác phong, lối sống. Tuy nhiên, nếu theo định nghĩa phổ quát, ví dụ từ điển tiếng Việt (tratu.soha.vn/doct) định nghĩa: “đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người với nhau và đối với xã hội”, thì học tập Hồ Chí Minh chỉ học tập tác phong lối sống là không đủ mà phải học tập cả tư duy và hành động của Hồ Chí Minh. Ở đây, tôi muốn nói đến một giai đoạn quan trọng của lịch sử Việt Nam, giai đoạn 1941-1945, mà Hồ Chí Minh đã có những lựa chọn chính trị rất đáng học tập.
1. Lựa chọn đoàn kết dân tộc, nhằm mục tiêu giành độc lập.
Năm 1941, trong bối cảnh chiến tranh thế giới đã bùng nổ, nước Pháp đô hộ Đông Dương đang thất trận nhục nhã, các lực lượng chính trị ở Việt Nam thì lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng. Sau khởi nghĩa Nam Kỳ, hầu như toàn bộ lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương bị bắt. Trong các tài liệu mật thám Pháp đã giải mật tại Tập san sử địa xuất bản tại Sài Gòn 1960-1975, thì Pháp tiên đoán Đảng Cộng sản Đông Dương sẽ theo chân Quốc dân đảng Việt Nam tan rã. Việt Nam dần hình thành một khoảng trống quyền lực chính trị.
Hồ CHí Minh về Nam Trung Quốc, liên lạc với Ban lãnh đạo Hải ngoại, gặp nhà lãnh đạo Hoàng Văn Thụ, và nhanh chóng hình thành một tư tưởng chủ đạo, mà sau đó chính thức hóa tại Hội nghị Trung ương 8 tháng 5/1941 ở Pac Bó. Nội dung quan trọng của đường lối mới là đoàn kết toàn dân chống phát xít, hướng tới mục tiêu giải phóng.
Bây giờ nói như trên cảm thấy “nhẹ”. Nhưng hãy tưởng tượng hoàn cảnh lúc đó. Đảng cộng sản Đông Dương với đội ngũ lãnh đạo thấm nhuần Luận cương năm 1930 của Trần Phú, lấy công nông liên minh làm cơ sở, chuyên chính với kẻ thù giai cấp, thì đường lối mới của Hồ Chí Minh tuy không nói gì đến đường lối cũ, nhưng thực ra là xếp Luận cương lại, bỏ qua những đường lối mà thực tiễn đã chứng minh nó không mang lại thắng lợi. Hồi ký của nhiều vị lãnh đạo khoảng năm 1970 cũng kể, đến gần Hôi nghị Tân Trào, còn có đại biểu ít thông tin, đã chất vấn Hồ Chí Minh về vấn đề công nông liên kết với địa chủ và tư sản. Thời kỳ này, nguyện vọng toàn dân là giành độc lập dân tộc. Hồ Chí Minh đã nghe thấu tiếng vọng đó. Nhiều học giả phân tích vai trò của Bảo Đại, của chính phủ Trần Trọng Kim. Nhưng cái chết chí mạng của các lực lượng đó, chính là không hành động hoặc không làm cho dân hiểu họ cũng có ý chí giành độc lập như nguyện vọng của nhân dân, sau khi đất nước nếm trải gần 80 năm lệ thuộc vào nước Pháp.
2. Lựa chọn lãnh đạo là những trí thức tài năng và trọng thực tế.
Tôi đã nghiên cứu rất kỹ bối cảnh, dàn các nhân vật lịch sử thời kỳ 1941-1945 tập hợp quanh Hồ Chí Minh. Kỳ lạ thay, Hồ Chí Minh dường như không xét lý lịch, không đặt nặng vấn đề được đào tạo tại Liên Xô, có gốc cộng sản hay không cộng sản. Những lãnh đạo hàng đầu như 3 vị Ủy viên thường vụ, đều không qua trường lớp huấn luyện của Đại học Phương Đông Liên Xô. Họ là lãnh đạo đảng, nhưng trước hết đó đều là những trí thức lớn, những người mà lý luận cộng sản Xtalinnit coi là không tin tưởng. Hoàng Văn Thụ, Trường Trinh, Hoàng Quốc Việt và rất nhiều vị lãnh đạo Đảng khác là những người học vấn cao, được đào tạo trong các trường của Pháp.
Đội ngũ 41 chiến sĩ đầu tiên theo Hồ Chí Minh về Pac Bó, không phải ai cũng có nguồn gốc đảng viên cộng sản, mà họ là những người yêu nước, rồi từ chủ nghĩa yêu nước đến với lý tưởng cộng sản, trong các lớp học chính trị tại Nậm Quang (Trung Quốc).
Tư tưởng thân trí thức còn nhất quán đến sau này, qua Cách mạng tháng Tám, qua kháng chiến chống Pháp…
Trong quá trình vận động cách mạng, chắc chắn Hồ Chí Minh đã nhằm vào một vài cá nhân lãnh đạo, bồi dưỡng cho tương lai, nhưng thực tế cho thấy không phải lúc nào kế hoạch cũng thành công, mà cuối cùng người được chọn lại là người nổi lên từ thực tế cuộc sống. Trường hợp đồng chí Phùng Chí Kiên là một ví dụ. Ngay Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh thời cũng nói, người được giao nhiệm vụ xây dựng lực lượng ban đầu là đồng chí Phùng Chí Kiên, nhưng rồi đồng chí Kiên sớm hy sinh, nên nhiệm vụ được giao đến đồng chí Võ Nguyên Giáp. Do những thành công xuất sắc trong thời kỳ xây dựng du kích, phát động Nam tiến từ 1942 đến 1945, mà đồng chí Giáp nổi lên như một gương mặt chỉ huy quân sự xuất sắc. Lúc đó, xung quanh Hồ Chí Minh còn rất nhiều chỉ huy quân sự đã tốt nghiệp quân sự ở Hoành Phố, thậm chí đã có kinh nghiệm chống Nhật ở Trung Quốc, đã được phong cấp cao trong quân đội Trung Hoa quốc dân đảng. Ôi nếu chỉ xét bằng cấp, xét tiêu chuẩn cứng nhắc, thì đâu đã đến tay ông Võ Nguyên Giáp làm chỉ huy quân đội ta. Lại nữa, quanh Hồ Chí Minh cũng có rất nhiều người thân thuộc, đã có công vào sinh ra tử với Hồ Chí Minh, coi nhau như người một gia đình, nhưng rồi khi cân nhắc vị trí phân công công tác, phong cấp giao chức, thì Hồ Chí Minh không vì tình riêng mà cho chức vụ gì. Có thể kể tên bao nhiêu người đi cùng Hồ Chí Minh, người bảo vệ, người liên lạc, người nuôi ăn, người giúp quần áo, người hàng ngày như đệ tử, nhưng họ vẫn âm thầm phục vụ cách mạng, là những người “có công” mà thôi. Tôi đã xem xét một đội ngũ nhân vật từ Đặng Văn Cáp, đến Tống Minh Phương, rồi Thế An, Lộc… và rất nhiều người khác sống thời gian dài bên Hồ Chí Minh, họ đã thấm nhuần đạo đức Hồ Chí Minh mà không so bì tị nạnh gì, không xin cấp chức gì...
3. Lựa chọn xu thế thời đại, hướng về nước Mỹ.
Hồ Chí Minh có tiểu sử rất rõ ràng gắn bó với Quốc tế cộng sản, nhưng năm 1944-1945, Người đã tiếp cận với Seno, đến Bộ chỉ huy Không đoàn 18 của Mỹ, lực lượng Đồng Minh ở Hoa Nam để tìm kiếm sự liên hệ, tìm sự giúp đỡ cuộc kháng chiến của Việt Minh.
Tại sao Hồ Chí Minh không liên hệ mật thiết, tìm sự giúp đỡ to lớn từ Chính phủ Quốc dân đảng Trung Quốc? Bởi vì Chính phủ của Tưởng Giới Thạch đang kiểm soát Nam Trung Quốc, cũng kháng Nhật, lại có quan hệ ngoại giao với chính phủ Xô Viết. Hoặc là Hồ Chí Minh tìm cách liên hệ với Diên An theo cùng ý thức hệ? Không có tài liệu nào nói đến việc liên hệ trực tiếp giữa Hồ Chí Minh với các lực lượng của Ddanrng cộng sản Trung Quốc thời kỳ này. Có lẽ nguyên nhân là Quốc Cộng cùng kháng Nhật, nhưng lại chống nhau rất ác liệt. Phía Nam Trung Quốc giáp với Việt Nam lại là vùng kiểm soát của Quốc dân Đảng Trung Quốc.
Đó là một sự thật lịch sử mà nhiều học giả đã lý giải ở nhiều mức độ rất khác nhau. Chúng ta biết qua nguồn tài liệu hiện có, qua bài học lịch sử chính thống, qua các hồi ký của các nhân chứng Mỹ, Trung. Nhưng chắc chắn chưa bao giờ biết điều bí ẩn trong lựa chọn của Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh đã liên hệ thành công với các lực lượng Mỹ trong mặt trận chống Phát xít ở Trung Quốc, đến mức hỗ trợ vũ khí, hộ trợ nhân lực, hình thành quân đội hỗn hợp ở quy mô nhỏ. Trước khi qua đời, Bảo Đại có trả lời phỏng vấn, và thừa nhận ông ta thoái vị nhanh là vì Việt Minh được quân Mỹ hậu thuẫn. Hãy đọc quyển “Tại sao Việt Nam?” và các hồi ký của một số sĩ quan đội Con Nai, thì mới thấy sự hợp tác Việt (minh) –Mỹ chặt chẽ như thế nào. Tại Ngày độc lập 2/9, quân đội Việt Mỹ đã duyệt binh qua lễ đài, các cố vấn Mỹ là những người gần gũi nhất với Hồ Chí Minh. Trong khi đó, đại diện thương mại của Liên bang Xô Viết có mặt tại Hà Nội, chỉ là kẻ quan sát thờ ơ, vai trò gián điệp ghi nhận tình hình. 
Sự tan rã của quan hệ Việt –Mỹ là một sự trớ trêu của lịch sử, phần nào khiến dân tộc Việt Nam trải qua nhiều khúc quanh rất đau thương. Trong đó rõ ràng có vai trò của một sự vào năm 1949 tại Bắc Kinh, ra đời một nước Trung Quốc của Mao, có vai trò của những ứng xử của nước Pháp sau năm 1945. Ngày nay, nhiều người Việt và Mỹ đều tiếc nuối mối quan hệ đã khơi lên từ Hồ Chí Minh, bị gián đoạn qua một thời kỳ vô cùng sóng gió. Lịch sử cho thấy, khi nào quan hệ Việt Mỹ tốt, thì đất nước nhiều cơ hội phát triển, khi nào quan hệ Việt- Mỹ khủng hoảng, có vai trò của một nước khác, thì đất nước đối mặt với gian nguy.
Ngày nay, Hồ Chí Minh vẫn là một nhân vật được bàn luận rất nhiều. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh không phải một ông Thánh, mà cũng là một con người, một người Việt Nam. Bằng những lựa chọn có tính quyết định ở những giai đoạn bản lề của lịch sử, cho thấy Người có một tầm nhìn lớn. Học tập Hồ Chí Minh trong bối cảnh ngày nay, vẫn rất cần thiết. Dĩ nhiên phải có tinh thần nhìn thẳng, nói thật về một số sự kiện lịch sử. Đó là bài học rất quan trọng cho tất cả mọi người.

Yêu lịch sử Gửi lúc : (25/08/2015 | 11:05:00)
Hơn 2000 năm qua, Tq luôn xâm lược và nhòm ngó nước ta, chúng chỉ dừng lại khi trong nước chúng khủng khoảng hoặc kém phát triển nhất. Cứ hễ lơn mạnh lên là chúng đành mình.
Le Nam Gửi lúc : (31/07/2015 | 12:12:00)
Bài viết nhiều chi tiết hay. Tuy vậy đoạn cuối có vẻ cụt ý. Cảm giác cẩu thả. Tks!
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : 1ywdqg