Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
nguyen thi cam tu

Bình Luận của nguyen thi cam tu

cac ban oi cho minh y kien nhe. vay tom lai ho quy ly duoc xem la anh hung hay gian hung
ngo panbin

Bình Luận của ngo panbin

Khong nen binh luan danh gia cac nhan vat LSU mot cach thieu cong bang. Troi sinh ra kg ai hoan hao. trong cuoc song ban muon lam viec that hoan hao, nhung co bao gio dc kg ??? vi vay lanh dao mot dat nuoc khi hanh dong trong cong viec, cung nhu trong cuoc song doi thuong,co gi do kg hoan toan tot dep,co gi do khiem khuyet, ta cung nen luong thu ma bo qua cho ho, mien sao cai sai kg qua tram trong,cai lam duoc cho dantoc datnuoc de den hom nay chung ta va lich su thay dung dan co ich la qua tot va can ton vinh cong lao do, Cac ban co khi nao lam lanhdao va dung truoc ap luc that su lon chua ??? khi do kho tam lam ban oi !!!
Vay nen toi khuyen cac ban can co tam long bao dung hon voi nhung ai da lam tot, co loi cho datnuoc va dantoc vietnam, Du ho khac ching kien khac quan diem chinh tri voi ban, nhung chung ta la mot me auco sinh tram trung, va bo coi viet nam neu co mat vao tay ke nuoc ngoai ban chac se that su dau long. Con ben CSan hay QGia thi suy cho cung chua phai qua toi te, truoc het la cham dut chien tranh som di doi voi dong nghia su giet choc nhau giua nguoi vnam voi nhau kg con,dat nuoc ven toan mot moi, dan bot lam than kho cuc,Phia ban va phia toi, tat ca la conrongchautien,
Toi kg quan trong cai ten, CN CSan, CN MACLENIN hay chu nghia nao nao di nua, nhung dem lai dieu tot cho dongbao datnuoc vnam la dc, CN nao cung vay neu kg dclongdan, ban kg can thucday kg can dautranh ma tu no cung sup do va dongbao trong nuoc se lam viec do,
Phan Văn Hoàng

Bình Luận của Phan Văn Hoàng

Xin góp hai ý :
1- Tên tờ báo là NÔNG CỔ MÍN ĐÀM (nghĩa : uống trà nói chuyên làm nông và buôn bán). Không phải MÍM ĐÀM.
MÍNH là trà non. Cụ Huỳnh Thúc Kháng có bút hiệu MÍNH VIÊN (vườn trà non)
Người Nam Bộ phát âm -IN thành -INH, nên viết MÍNH thành MÍN.
2- Người ĐỒNG BANG là người cùng chung một nước.
Do người Nam Bộ phát âm lẫn lộn -AN và -ANG nén viết sai đồng BANG thành đồng BAN.
PVH
Bạn văn
Nhà văn Tô Đức Chiêu- Bạn vong niên

 1.

Tôi đến gặp ông Tô Đức Chiêu lần đầu tiên khi ông làm Chánh văn phòng Hội Nhà văn. Đó là một người ít dáng dấp văn nghệ sĩ nhất mà tôi gặp. Không trịnh trọng, không chải chuốt, không lôi thôi như các anh văn nghệ thông thường. Ông Chiêu cao lớn, đi lại mạnh bạo, ăn nói dứt khoát. Có ấn tượng ngay đó là một người ưa hành động. Hôm ấy tôi đã rất ngạc nhiên vì sao Hội Nhà văn lại có một người có phong cách công chức đến thế làm Chánh văn phòng. Công việc của anh văn phòng đúng là một tên đầu bếp, phải dọn món, phải chọn khẩu vị cho thực khách. Anh văn phòng cũng như làm dâu một đại gia đình, ai cũng có thể sai khiến, việc gì không tên thì đến tay. Hồi ấy cơ quan tôi cũng đang khuyết chân Phó văn phòng, tôi nhìn thấy ông Tô Đức Chiêu một hình ảnh mà cơ quan tôi rất cần. Nhưng lạ thay ở Hội Nhà văn lại có người như vậy.

Nhưng con người cao to quán xuyến ấy lại viết văn rất nhẹ nhàng. Những bài bút ký ông Chiêu đưa tôi đăng báo được viết rất kỹ, có phần ít tính báo chí, mà nhiều văn chương. May thay, với một tờ báo kinh tế, loại viết như vậy rất hiếm. Ông Chiêu đến tận nơi lĩnh nhuận bút, lại còn  cẩn thận gọi điện báo “cậu không phải bận vì tớ”.

 2.

Mỗi nhà văn đều có một miền quê suối nguồn cho tác phẩm, với ông Tô Đức Chiêu, đó là bầu trời của quân chủng phòng không và quê hương Hải Dương. Đọc sách của nhà văn Tô Đức Chiêu, như thể nghe thấy hơi thở một thời của thị xã Hải Dương và một vùng Cẩm Giàng sát thị xã nhỏ bé. Nhiều lần về qua Hải Dương thành phố, tôi lại nhớ tới những trang viết ấm áp tình người, tình đất của ông. Nơi những ngôi nhà cao của Công ty Nam Cường bây giờ, Tô Đức Chiêu đã tả thời của ông là những ao đầm hoang dại, những con cá con cua từ đó theo ông vào trang sách.

Tôi đã cùng nhà văn Tô Đức Chiêu lang thang ở cái thị xã nhỏ bé ấy, đi xa hút về phía nghĩa trang trên đường đi Gia Lộc. Nơi đó những người thân yêu thế hệ trước của ông đã yên nghỉ. Một thời, họ là địa chủ, những phú ông giàu có của một vùng không giàu có. Tô Đức Chiêu có dự phần trách nhiệm về sự giàu có ấy, đó là sự sang ngang không được học lên, chuyện thường thôi của một thời đã qua rồi.

Đó là một ngày cuối năm, ông Chiêu và tôi lần mò trong nghĩa trang thắp hương vái linh hồn những tiền nhân. Ông Chiêu thủ thỉ kể về các cụ giữa không khí nhuốm màu trang nghiêm, huyền bí của nghĩa trang chiều xẩm tối. Tôi đọc thấy trong lời nói của ông Chiêu sự tự hào, bởi vì ước nguyện của các cụ là các con phải học, chứ không phải là mong muốn làm giàu. Của cải rồi sẽ biến động, như ngôi nhà ở phố Quang Trung xa xưa của nhà ông nay đã cũ quá rồi mà không xây lại được, nhưng có tri thức thì còn mới mãi, dày dặn mãi. Con người cao to mạnh mẽ này tưởng như không có gì lay chuyển được, thì lại là người dễ động lòng nhất. Tôi đã thấy ông Chiêu sống với thời gian đa chiều, với ký ức và hiện tại trộn lẫn nhau trong một khoảng khắc trở về quê quán, trong giây phút ấy, tôi bỗng nghĩ nhà văn là con người đáng trọng, bởi vì bao giờ nhà văn cũng nghĩ đến hồn người. Nhà văn không chỉ biết tiêu thụ tiền của vật chất của cha ông, mà nhà văn tiêu thụ cái phần hồn của thế hệ trước để lại. Ông Chiêu đã ngấm cái hồn thiêng hiếu học của người xưa, nên dù cho ông không vào trường đại học, cuối cùng ông thành một nhà văn.

 3.

Nhà văn Tô Đức Chiêu là nhà văn có tác phong chất phác. Ông nói rằng, cuộc sống không biết đến quan chức đã rèn cho ông tâm lý mình là một người của đám đông. Một lần đi dự lễ hội ở tỉnh xa, là nhân vật được mời, nhưng tôi thấy ông Chiêu chuẩn bị một cái bánh chưng. Sáng ra, ông bóc bánh chén ngon lành, bảo chủ nhân rằng cậu không phải tiếp đón quái gì tớ, đi mà lo cho “các ông ấy”. Ông Chiêu bảo tôi: “Tớ nói thật đấy. Mấy lão ấy không có ăn sáng tử tế thì nguy, bởi vì các lão được chăm sóc kỹ. Phải lo cho họ, rồi thì việc nào ra việc ấy mình mới đỡ khổ”. Đó là tâm lý “được việc” của ông Chánh văn phòng.

Ông Tô Đức Chiêu quả là một con ong thợ cần mẫn giữa một bầy bướm sặc sỡ ở cơ quan Hội Nhà văn. Ông nhận việc, biết bắt đầu thế nào, làm từng thao tác gì để đạt đến mục đích. Xung quanh toàn những tên tuổi lớn, bạn đọc thấy họ trên báo, trên sách đã giật mình, còn ở cơ quan Hội, chả mấy khi thấy các bác ấy đâu cả. Nhưng rất lạ là ông Chiêu không trách móc thật sự ai vì việc họ quên việc. Nhà văn là như vậy thôi, việc lơ mơ là thường. Nếu có bực ai, ông ấy chỉ cau mặt nói: “Thằng ấy sao nó lại như vậy nhỉ”.

Ông Chiêu có cách nói khiến người ta nhận ra thực chất vấn đề. Tôi đã nghe qua người khác kể lại rằng, một lần, có một nhà văn đã quá cố, bà quả phụ đến xin Hội Nhà văn hỗ trợ. Nhà đã xây, tiền đã hỗ trợ, nhưng ý chừng bà ấy muốn Hội hỗ trợ thêm, diễn tả là xin tiền để đủ tiền công xây cái hàng rào. Tiễn bà ấy về rồi, có người hỏi vì sao từ chối. Ông Chiêu bảo Hội có thể hỗ trợ thì đã hỗ trợ, nhà nước ưu đãi thì đã ưu đãi, nhà xây rồi, vườn rộng rồi, còn cái hàng rào muốn hỗ trợ nhân công thì tôi đề nghị ông Nam (Vũ Tú Nam- lúc đó là Tổng Thư ký Hội Nhà văn) đi làm thợ nề, ông Điềm (Nguyễn Khoa Điềm) đi đánh vữa, ông Thỉnh (Hữu Thỉnh) đi phu hồ, còn anh em mình thôi thì đi chuyển gạch, nấu cơm nấu nước cho các ông ấy xây tường rào.

Tôi có thời gian tiếp xúc với ông Tô Đức Chiêu khi ông về Ban sáng tác. Ông Chiêu làm việc nhiều hơn bất cứ ai, hơn dăm ba người, bảy tám người khác cộng lại. Ông thường nói về những nhà văn xung quanh là “lão”. “Cái này tôi gửi lão Thỉnh rồi”, hoặc “cái này lão Hồ cầm, chưa đưa cho tôi”, hay “lão Phương lâu rồi không thấy mặt”

Từ “lão” với ông Chiêu nghe rất đằm thắm, ai nghe ông Chiêu nói về các “lão” cũng lây cái chất gần gũi của ông. Có cái gì đó thương mến, thân thiết như những người anh em, cùng một hội một thuyền. Những “lão Kháng, lão Lê, lão Thắng”, “lão Hàm” còn cánh trẻ, nếu ông mến thì gọi là “thằng”, là “con”. Ai được ông Chiêu gọi là “thằng” thì chắc là người tử tế.

Tôi cũng lây cái câu “lão” của ông Chiêu. Rồi tôi gọi “lão Thỉnh”, “lão Kháng”, “lão Hồ” lúc nào không biết, giữa đám trà dư tửu hậu. Nó cứ buột miệng ngon ơ đi, trong lòng yên ổn kiểu ông Chiêu, mà sau này mới biết có người ngồi đó đã nghĩ khác. Chuyện thế nào cũng đến ông Hữu Thỉnh. Căn vặn mãi rồi cũng lộ ra nguồn, hoá ra là tôi gọi ông Thỉnh là “lão Thỉnh”. Tôi đã sai bởi vì tôi không phải ông Chiêu, vì tôi là đứa trẻ ranh chứ không phải là một ông già, từ tôi đến các ông nhà văn lớn tuổi ẩy là một khoảng cách xa không đo được. Mà tường nhà bao giờ cũng có tai…

Ông Chiêu phân các nhà văn thành hai loại, một bên ông gọi là “lão”, là “thằng”, một bên ông hoặc là không nói gì đến, hoặc gọi trịnh trọng bằng cả cấp hàm, tên tuổi rõ ràng. Ông giải thích: “Đó là siêu nhân rồi”. Tôi hay đùa ông, hỏi thêm mấy câu, thế là ông bảo: “Thằng này lằng nhằng, đã là siêu nhân thì còn bàn gì nữa”.

 4.

Ông Chiêu cũng như nhiều nhà văn thuộc thế hệ ông mà tôi gặp là những người rất trọng tình. Ông lần mò đến nơi, trắc ẩn vì nhà văn viết cuốn “Phù Sa” đang sống ở Hải Dương. Khi nghe tin Hãng phim làm phim 50 năm Hội Nhà văn, ông Chiêu bảo: “Cố gắng nhớ  đến những người đã dự đại hội khoá 1 còn sống, không còn mấy đâu, ví như ông Sao Mai, và còn ông gì ở Lạng Sơn để tao nhớ lại”

Khi đọc văn của một người trẻ ở Hải Dương, nhà văn Tô Đức Chiêu rất hăng hái giới thiệu, rồi đi đâu cũng nhắc đến. Tôi hỏi kỹ, mới biết ông chưa hề gặp. Sau này gặp rồi, ông càng nhiệt tình giúp đỡ, nhưng tôi biết đã có trường hợp ông Chiêu nhiệt tình giúp đỡ, rồi thì cũng nhạt nhẽo lắm. Ông bảo: “Mình biết văn nó thì nói cho nó, chứ bây giờ ít anh đọc văn nhau lắm, lại càng hiếm đọc cánh trẻ”

Nguyên mẫu cho một nhân vật của cuốn tiểu thuyết “Một thời để nhớ” của ông, tôi cũng biết. Trong ký ức buồn thảm của thời bao cấp ở thị xã nhỏ bé, có thể đọc thấy tên người thật, việc thật thời đã qua. Nhưng có một nhân vật liên quan đến cuộc vượt biên, thì nhà văn đã nhặt được qua hồi ức của một người ở Hải Phòng. Mỗi lần đi qua Hải Phòng, ông Chiêu đều gặp anh ấy như người tri kỷ. Một nhà văn sống gần được với cuộc đời, quên mình là nhà nọ nhà kia như ông, cũng không phải là nhiều.

Ông Chiêu cũng không có lý gì chán ghét cuộc sống, ông ghét là ghét thời bao cấp, chứ không ghét chế độ. Ông đã là nhà văn kiêu hãnh đi nhiều nước, nhìn nhận cuộc đời với cái nhìn bao dung, hài hước. Tôi đã đăng báo những bài ông kể về nước Nga, nước Lào, nước Mỹ… Ông rất yêu tâm hồn Nga. Nước Nga với ông Chiêu như là một tri kỷ có mối lương duyên. Ông kể cho tôi nghe một lần ông và vợ đến nước Nga giữa lúc rối loạn, lạm phát, En xin đang liên tục cách chức thủ tướng, ông Chiêu đến một bảo tàng ở một nước Cộng hoà, nơi Phát xít Đức đã từng đánh vào đất Liên Xô đầu tiên trong những năm chiến tranh thế giới thứ hai. Những người đàn bà Nga vẫn cần mẫn hướng dẫn ông và ca ngợi Tổ quốc Nga, mặc dù họ bảo, họ đang rất nghèo khổ. Tại sao họ không chán ghét và chửi bới chế độ? Thì họ trả lời: “Vì chúng tôi tin tưởng chúng tôi sẽ vượt qua. Nguời lãnh đạo sẽ không ở chức ấy mãi, sẽ có người khác đưa nước Nga đi lên”. Khi ra ngoài, gặp một đám thanh niên chơi công viên, có 5 thanh niên nam nữ, nhưng chỉ có 4 điếu thuốc. Họ đang chia nhau thì ông Chiêu đi tới, một người tiến đến ông và xin ông 5 kôpek, ông có mấy rúp, đưa luôn cho họ, bảo cho luôn. Sau một lúc, họ mua thuốc lá xong, trả lại ông tiền, chỉ lấy đúng 5 kopek để mua một điếu thuốc. Cho tiền, họ lắc đầu… Tâm hồn nhà văn trong ông bị lay động mạnh, ông Chiêu bảo tôi: “Tại sao con người Nga nhân hậu và chất phác như vậy? Vì một nền văn hoá”. Ông Chiêu nói: “Cậu là nhà văn, lúc ấy cậu có nghĩ đến nước mình không? Trông người lại nghĩ đến ta, chúng ta đang ở đâu trong bản đồ văn hoá nhân loại?”

Tôi đã đọc bài báo ông Chiêu kể đi thăm bức tường ghi tên lính Mỹ chết trong chiến tranh Việt Nam, ông Chiêu bảo: “Nhiều người viết về nó lắm. Còn tớ thì chỉ nghĩ, tại sao mình không học tập ngay người Mỹ. Nó khoa học đến mức không bỏ quên tên ai, còn mình thì bao nhiêu người bỏ xương máu vì Tổ quốc mà thành vô danh? Sao ta không học nó ngay đi”.

 

5.

Năm 2007 có lẽ là năm vận hạn của nhà văn Tô Đức Chiêu. Ông bị va xe máy, rồi ốm lên ốm xuống, vào bệnh viện mấy lần. Sức vóc đã hao gầy hơn nhiều. Mắt thì sau vụ va xe, phục hồi rất chậm. Tôi đến ông, thấy ông buồn lắm. Câu đầu tiên là: “Không viết được nữa rồi, không đọc được nữa rồi, mày ơi”

Tôi thường nghe thấy trước kia ông Chiêu hay nói: “Khoẻ gì tao, viết gì tao, chết đến nơi rồi” mà báo vẫn viết, sách vẫn ra. Nhưng bây giờ, có lẽ ông Chiêu yếu thật, chứ không phải là thường.

Ngồi một phút, ông bảo: “Hội mình chán quá, không khí nó cứ rời rạc, rã đám thế nào ấy”. Tôi bảo: “Ôi anh ơi, anh thế này, lo nghĩ gì việc Hội nữa cho mệt”

Ông bảo: “Tao đã bảo lão Thỉnh, thôi tôi nghỉ hết, không tiểu thuyết sơ khảo gì nữa. Mà phải nghỉ thật chứ dỗi diếc gì đâu. Cô Khuê làm tốt quá chứ”

Tôi nhìn thấy nỗi buồn của ông nhà văn này. Nhiều năm ở báo Văn Nghệ, rồi ở Văn phòng Hội, dù sao đó cũng là nơi gắn bó một phần đời, nơi ấy đã lấy đi một phần đời mình. Giờ thì cái nơi ấy tâm thế xào xạc sao không buồn cho được. Ông Chiêu nói: “Giờ chỗ ấy nhiều siêu nhân quá”.

 

  

Chưa có bình luận nào !
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : vkv6n7