Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Duy Minh

Bình Luận của Duy Minh

Nhiều lần đọc những bài viết của nhà văn, biết bác người xứ Đông cháu cũng cảm thấy đồng cảm như người đồng hương. Liệu có một ngày nào đó, Hải Dương và Hải Phòng có thể nhập lại làm một, cái tên Hải Đông có lẽ thích hợp hơn cả. Thật buồn là đến giờ nhiều người ở VN (bao gồm không ít người có uy tín trong các ngành văn hóa, giáo dục, sử học) và cả những người Việt sống ở hải ngoại vẫn cho rằng nhà Mạc ra đời là một sai lầm của lịch sử VN và Mạc Đăng Dung cắt đất cho ngoại bang! Hành động hạ mình có vẻ thái quá của Thái thượng hoàng nhà Mạc (lúc này ông không còn làm vua nhưng nhiều người không quan tâm chi tiết lịch sử này) sau này vua nhà Lê trung hưng lặp lại thì lại được sử quan triều Lê-Trịnh cho qua! Giờ đang sống trên mảnh đất Nam bộ vốn là đất cũ của Chân Lạp, cháu tự hỏi không có thế kỷ 16 với những biến động lớn thì liệu dân Bắc Hà chúng ta chỉ có mỗi cái chốn Hà Thành để tranh giành quyền cai trị lẫn nhau hết đời này qua đời khác thôi sao?
Nguyễn Việt Long

Bình Luận của Nguyễn Việt Long

Chi tiết "lãnh tụ cực tả của QDĐ Lão Trung Kha" viết sai tên. Chả có ai là Lão Trung Kha cả, đó là Liêu Trọng Khải.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Tôi không rành về Lào cho lắm, nên không hiểu chế độ hiện nay như thế nào? Nhiều khi thấy thế giới phân loại các quốc gia cộng sản gồm 5 nước thì có Lào. Nhưng đọc một văn bản của Cộng đồng Châu Âu xếp loại 4 nước cộng sản trên thế giới thì không có Lào. Nghe nói, họ còn bảo VN sang mà đưa tượng ông cụ về đi.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Bạn văn
Nhà thơ Đỗ Trung Lai- Thi sĩ hát thơ

1.

Đỗ Trung Lai khi tôi mới gặp, quả nhiên anh là thi sĩ của dòng sông quan họ. Trống phách rộn ràng, ca sĩ hát: “Êm êm một khúc sông cầu, sao trời lọt qua mắt lưới, rơi đầy xuống dòng sông sâu…”

Bài hát lắng xuống thì nhà văn Hà Phạm Phú giới thiệu nhà thơ tác giả của những câu thơ ấy. Đỗ Trung Lai đi cùng đoàn với chúng tôi lên Lào Cai, trong suốt chuyến đi anh nói ít, nói toàn chuyện tếu, chuyện tình tang và chuyện vợ ghen…nhưng khi vào cuộc thơ văn giao lưu với văn nghệ Lào Cai này, anh đột nhiên linh hoạt, nói rất nhiều. Anh như cá về với nước. Con cá này lại đang về với dòng sông quen thuộc của vùng quan họ, nơi anh đã được biết đến ở khắp mọi nơi.

Tôi không còn nhớ chi tiết hôm ấy Đỗ Trung Lai nói gì, chỉ nhớ anh đã nói về việc phổ nhạc bài thơ của anh. Rất nhiều người phổ nhạc, nhưng chỉ có Phan Lạc Hoa, một thời đã từng là bạn anh, là người đã làm cho câu thơ anh thành những câu hát được nhiều người hát bây giờ. Dường như để dẫn chứng cho lời mình, Đỗ Trung Lai nói gì đó với ca sĩ, rồi cô ca sĩ liền hát bài hát do một nhạc sĩ khác phổ nhạc. Quả thật, đó là những giai điệu lạ. Vẫn những lời thơ ấy, nhưng không có cái hồn da diết như nhạc của Phan Lạc Hoa đã thổi vào…

Tôi đã đi theo Đỗ Trung Lai đến một số diễn đàn nghe anh đọc thơ. Khi đó tôi có cảm tưởng người viết văn xuôi quá đỗi thiệt thòi. Nhà thơ có lợi là có thể đọc gan ruột mình trước mọi người. Song, nhà thơ Việt Nam không phải ai cũng biết cách đọc thơ trước công chúng. Tôi đã nghe ông Xuân Diệu đọc thơ, đó là vào năm 1971 tại phố huyện Kinh Môn (Hải Dương), khi tôi là một đứa bé học lớp 6, ông Xuân Diệu về huyện nói chuyện thơ ở sân công ty Dược phẩm, chỉ nói về thơ Hồ Chí Minh và Trần Đăng Khoa. Mắt ông nhắm tít, cái đầu ông lắc lư, mái tóc quăn rung rinh theo ánh đèn măng-sông. Mọi người im thít. Có người im vì mê thơ, có người im vì tôn trọng danh hiệu nhà thơ của ông Xuân Diệu, có người im vì sợ mọi người bảo mình không biết thơ là gì. Khi đó, tôi thuộc loại thứ ba, chả biết thơ là gì cả, tôi đang gò lưng học toán để đi thi học sinh giỏi huyện.

Người thứ hai là nhà thơ Việt Nam đọc thơ mà tôi nghe cảm thấy mê mẩn, đó là Hoàng Nhuận Cầm. Khi đó khoảng năm bẩy bẩy, bảy tám gì đó, tôi đang học Đại học Bách khoa, lang thang ra sân sau trường, tức là công viên Thống Nhất, có một đoàn các nhà thơ và sinh viên trường Đại học Tổng hợp đến đọc thơ, rất nhiều nhà thơ đã quen biết với công chúng, nhưng tôi chỉ nhớ Hoàng Nhuận Cầm đọc thơ mà thôi. Dĩ nhiên lời thơ không đọng lại trong đầu tên sinh viên kỹ thuật là tôi khi đó, nhưng cái hồn cốt con người thi sĩ, sự bức xúc trải lòng mình trong từng câu chữ thì cứ ám ảnh tôi mãi. Thơ dường như có một sức mạnh kỳ lạ mà từ lâu tôi không để ý đến. Cử toạ gồm nhiều thành phần phức tạp, chủ yếu đến công viên giải trí, nghe hát, bọn thanh niên sinh viên đến công viên thì để tán tỉnh nhau. Nhưng khi mà Hoàng Nhuận Cầm đọc thơ, tôi thấy mọi người im. Hoàng Nhuận Cầm đọc thơ với cung cách  trái ngược với Xuân Diệu. Hoàng Nhuận Cầm vươn cổ gầy, nhìn gân guốc, miệng môi căng hết cỡ. Dường như anh đang làm cái việc cực hình để diễn tả tâm tình bằng tiếng nói, bằng ngôn ngữ âm thanh. Sự chân thành của anh đã đồng cảm đến người nghe. Không ai có thể dửng dưng trước một người mở lòng mình đến thế. Anh khi đó dường như biến thể trong dào dạt âm thanh do anh tạo ra. Con người khi đó chả là gì. Anh bỗng nhiên gày gò thảm hại, chỉ còn tiếng thơ mà thôi. Hình như cái hình hài vật chất của anh đã tan biến để làm thành tiếng thơ anh. Tôi thoắt rùng mình. Một con người có thể làm được như vậy vì cái cái gọi là thơ. Và cái gọi ấy đã tác động đến hồn người.

Rồi đến tận ngày tôi nhìn thấy nhà thơ Đỗ Trung Lai đọc thơ. Không, anh “hát thơ”. Đó có thể là nhà thơ thứ ba của Việt Nam trình diễn thơ gieo cho tôi ấn tượng sâu đậm và đó là ấn tượng sâu đậm nhất.

 

2.

Đỗ Trung Lai cũng như các nhà thơ khác, hay thích tìm những từ lạ để thay thế những từ đã được nhiều người dùng rồi. Dường như với các nhà thơ, sự nhàm chán đến từ chính ngôn ngữ thường ngày. “Tôi hát  bài này, lời thơ là do tôi “chế” ra”. Không phải là “làm ra” đâu. Phải là “chế” ra. Thế đấy.

Cái bài mà anh trình diễn hoá ra cũng chả phải bài hát thông thường. Cũng không phải là đọc thơ. Nó là một loại hát xẩm của riêng anh. Lời mào đầu có hơi lằng nhằng một chút. Đỗ Trung Lai tự cho mình là người thứ ba trong lịch sử thi ca tự hát những bài do mình “chế” ra. Một là Nguyễn Công Trứ, hai là Tản Đà, và ba là… Xếp một chiếu để tự ngồi thứ ba, sau hai vị thi sĩ ngông nghênh khét tiếng, đó là Đỗ Trung Lai.

Đỗ Trung Lai kiếm hai cái đũa, gõ bát linh kinh, rồi hát bằng giọng nam ngang của riêng anh. Đầu lắc lư, mắt lúc như say thuốc, lúc lại như mắt mèo hoang. Người say thơ, người tự say mình, người hát say người… Ai một lần nghe anh hát thơ, chắc chắn cũng trở thành thoát tục. Điều kỳ diệu của thơ ca là khiến cho người ta tạm xa cõi trần tục, và điều đáng nể là Đỗ Trung Lai đã truyền cho cử toạ cảm giác ấy. Ở khía cạnh này, thi ca có phần có mẫu số chung với tôn giáo. Phật tử hằng hướng tới trí tuệ Bát Nhã, nhằm đích siêu thoát ở chân trời Niết bàn. Thi ca đích thực cũng có phần khai sáng trí tuệ và tâm hồn, có điều “vớ vẩn” là không mấy khi nhà thơ đồng thời là Bồ Tát của tôn giáo thơ ca. Nhưng tôi đã thấy những nhà thơ đọc thơ như thể họ đang làm một loại lễ nghi tôn giáo. Ba thi sĩ mà tôi kể trên đây đã là như vậy. Xuân Diệu, Hoàng Nhuận Cầm và người thứ ba làm nghi lễ đọc thơ ấn tượng nhất, đó là Đỗ Trung Lai. Tiếng gõ đũa tinh tang và tiếng nhà thơ ứ hự, khách nghe rượu ngà ngà, không khí trở nên ngây ngất. Hồn chầu văn phảng phất. Do Đỗ Trung Lai đấy nhá…

 3.

Có người nói: Nhà thơ thì nhiều mà thi sĩ thì ít thôi… Ngôn ngữ Việt Nam thần tình ở chỗ nó khiến người ta cảm nhận được sự tinh tế trong cách dùng từ. Nếu phải mô tả, có lẽ phải dùng rất nhiều lời. Hoá ra, từ ngữ Việt trong một số trường hợp có điều gì đó gần giống âm nhạc. Thi sĩ cũng đại khái là nhà thơ, nhưng cũng chả phải. Tôi đã gặp và đọc Hữu Thỉnh, Vũ Duy Thông, Bằng Việt, Trần Đăng Khoa và nhiều nhà thơ khác mà tên họ lung linh trên báo, trên sách. Nhưng tôi không gọi họ là thi sĩ. Còn Phạm Tiến Duật, Hoàng Nhuận Cầm, hay Đỗ Trung Lai thì tôi gọi họ là những thi sĩ mà tôi biết. Thi sĩ có gì đó không hoàn chỉnh, có thể ứng xử của họ với người đời có méo mó, nhưng phần cá thể sống ở họ rất mãnh liệt. Trước khi nói đến sản phẩm ngôn ngữ thơ của họ, thì huyền thoại về con người họ đã hấp dẫn người đời. Cuộc sống vốn không toàn vẹn. Thi sĩ có lẽ mang trong mình tính hoang dã tự nhiên mà vũ trụ đã phú cho đời sống con người. Còn các nhà thơ không thi sĩ, có lẽ họ khôn khéo và hoàn chỉnh quá. Khôn khéo và hoàn chỉnh là tốt chứ. Người ta ai cũng muốn vươn đến cái toàn vẹn. Nhưng người ta lại thích sự ngang tàng bạt mạng, một kiểu phá cách so với những khuôn mẫu có tính khế ước trong hành động sống của cộng đồng.

Đỗ Trung Lai thi sĩ có cái tính mà người đời gọi là “gân”. Không phải gàn, không phải tự cao tự đại, mà là “gân”. Trong một đám trà dư tửu hậu, tôi là đứa ít tuổi hơn, ngồi im thì đáng rồi. Nhưng những bác già cũng “tắt điện” luôn. Vì đã có Đỗ Trung Lai đang chỉ chỉ ngón tay và nói. Không phải anh nào cũng có thể nói và nói. Phải có cái gì mới nói được chứ.

            (Tạm cắt một đoạn)

Nhà văn Hà Phạm Phú nói với tôi: “Một đức tính cuả thiên tài là “mục hạ vô nhân”, dưới con mắt thơ ta đếch có thằng nào đang sống với ta, tức là cá tính phải rất mạnh. Nghệ sĩ tài đều phải như vậy. Đỗ Trung Lai có một chút phẩm chất ấy. Có thể điều đó làm cho đời anh ta thiệt, nhưng thi ca và cộng đồng thì được lãi”.

Như thế là anh thi sĩ bị trời đày. Phẩm chất thiên tài làm nên thi sĩ Đỗ Trung Lai, nhưng đã làm cho anh long đong. Tôi gặp Đỗ Trung Lai khi anh cởi áo “Đại tá phá khung” để làm báo Tiếng nói Việt Nam. Nhà văn Hà Đình Cẩn đùa với tôi: “Tiếng nói Việt Nam và tiếng nói Đỗ Trung Lai không cùng tông được đâu”. Ông Hà Đình Cẩn quả là một tiên tri. Không lâu sau, thi sĩ Đỗ Trung Lai từ giã chân Phó tổng biên tập để về nhà dịch thơ Đỗ Phủ. Tôi thấy có lẽ như vậy lại may, có đâu một nhà thơ cứ phải sớm tối lọ mọ với mấy trang báo như thế mãi. Cả khi làm báo, anh cũng không tách mình khỏi cái vỏ thi sĩ được, thế là tiềm ẩn sự không bền rồi.

Không có mấy anh làm thơ bỏ một cái chức nhẹ như bỏ tờ báo cũ. Nhưng Đỗ Trung Lai đã làm như vậy. Con người thi sĩ trong anh không thể đồng hành được với con người công chức. Hành xử thi sĩ của anh có thể không hợp thời với kiểu ứng xử bầu tròn của cộng đồng. Nhưng điều đó làm nên sự cao cả trong nhân cách Đỗ Trung Lai. Người khác có thể nói kiểu “ngoại giao”, nhưng Đỗ Trung Lai thì nói thẳng toạch. Thằng đứ đừ. Khi Hữu Thỉnh gợi ý Đỗ Trung Lai làm phó cho một vị ở cơ quan cấp 2 của Hội Nhà văn, anh nói “Bác thế là làm nhục em”. Giá như người khác thì từ chối sẽ khéo lắm, có khi người nghe từ chối mà lại sướng hơn nghe nịnh. Nhưng Đỗ Trung Lai nói thế thôi. Chính xác, ngắn gọn, rõ ràng…

            (tạm cắt 1 đoạn ngắn)

Hồi Đỗ Trung Lai làm chủ tịch hội đồng sơ khảo kỳ thi viết truyện cho thanh niên sinh viên do Nhà xuất bản Giáo dục tổ chức, tôi cũng có truyện dự thi, và khi đó đã quen nhau rồi, nhưng chỉ đến khi công bố giải, Đỗ Trung Lai mới biết đấy là tôi. Anh có vẻ rất vui, anh nói: “Nếu mà cậu bảo tớ trước, thì tớ coi cậu là cái rác”. Tôi biết, có một vài vị đã đến ngỏ ý bảo “mình có cái dự thi” và Đỗ Trung Lai đã trừ điểm ngay. Trong xu thế quan hệ phong bì ngày nay, có một người gàn như vậy quả là không nhiều. Sống kiêu hãnh được đâu có dễ gì. Đỗ Trung Lai đã sống kiêu hãnh được.

 
Chưa có bình luận nào !
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : u3fmcz