Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Duy Minh

Bình Luận của Duy Minh

Nhiều lần đọc những bài viết của nhà văn, biết bác người xứ Đông cháu cũng cảm thấy đồng cảm như người đồng hương. Liệu có một ngày nào đó, Hải Dương và Hải Phòng có thể nhập lại làm một, cái tên Hải Đông có lẽ thích hợp hơn cả. Thật buồn là đến giờ nhiều người ở VN (bao gồm không ít người có uy tín trong các ngành văn hóa, giáo dục, sử học) và cả những người Việt sống ở hải ngoại vẫn cho rằng nhà Mạc ra đời là một sai lầm của lịch sử VN và Mạc Đăng Dung cắt đất cho ngoại bang! Hành động hạ mình có vẻ thái quá của Thái thượng hoàng nhà Mạc (lúc này ông không còn làm vua nhưng nhiều người không quan tâm chi tiết lịch sử này) sau này vua nhà Lê trung hưng lặp lại thì lại được sử quan triều Lê-Trịnh cho qua! Giờ đang sống trên mảnh đất Nam bộ vốn là đất cũ của Chân Lạp, cháu tự hỏi không có thế kỷ 16 với những biến động lớn thì liệu dân Bắc Hà chúng ta chỉ có mỗi cái chốn Hà Thành để tranh giành quyền cai trị lẫn nhau hết đời này qua đời khác thôi sao?
Nguyễn Việt Long

Bình Luận của Nguyễn Việt Long

Chi tiết "lãnh tụ cực tả của QDĐ Lão Trung Kha" viết sai tên. Chả có ai là Lão Trung Kha cả, đó là Liêu Trọng Khải.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Tôi không rành về Lào cho lắm, nên không hiểu chế độ hiện nay như thế nào? Nhiều khi thấy thế giới phân loại các quốc gia cộng sản gồm 5 nước thì có Lào. Nhưng đọc một văn bản của Cộng đồng Châu Âu xếp loại 4 nước cộng sản trên thế giới thì không có Lào. Nghe nói, họ còn bảo VN sang mà đưa tượng ông cụ về đi.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Bạn văn
Nếu không vướng vào văn - Nhà thơ Trần Quốc Toàn, nhà giáo, ngườ thày...


Tôi biết Trần Quốc Toàn trước hết qua thư từ. Hồi đó khoảng năm 1994 gì đó. Tạp chí Thế giới mới có tổ chức cuộc thị truyện ngắn 1.000 chữ. Tôi gửi 2 cái truyện dự thi. Trần Quốc Toàn gửi cho tôi cái thư chữ viết rất tháu, bảo là có truyện thì gửi tiếp, anh khen cái truyện “Big Bang” của tôi. Vài ngày sau, anh lại gửi cho tôi một thư nữa, trong đó có một tấm phim dương bản hình minh họa truyện ngắn này, anh nói là để tôi giữ làm kỷ niệm. Khi đó tôi đang làm kỹ sư ở Nhà máy, trước đó tôi mới in một truyện ngắn trên báo Văn Nghệ, nên có truyện in báo chí là thích rồi, lại có tý kỷ niệm như anh Toàn gửi cho thì cảm thấy rất mãn nguyện. Sau này đi làm báo, tôi mới biết đó là tấm phim dương bản của bản đen “mi trang”, sau khi in báo, có thể vứt đi. Nhưng anh Trần Quốc Toàn đã bóc ra, gửi cho tôi cái tấm phim đó.
Rồi sau này, tôi thành phóng viên, thành biên tập viên, thư ký tòa soạn rồi phụ trách cả một bộ phận tòa soạn, tôi mới ngày càng thấm thía ý nghĩa sâu sắc việc làm của Nhà thơ Trần Quốc Toàn. Viết một bức thư, dù chữ rất tháu gửi cho một cộng tác viên chưa quen biết, lại gửi cho một tấm phim “mi trang” làm kỷ niệm… trong khi công việc biên tập, thư ký cứ cuốn đi ào ào và lại phải đọc hàng núi bản thảo, thì quả thật không phải bao giờ cũng làm được. Do đó, mỗi khi có ý định động viên một cộng tác viên, tôi lại nhớ đến anh Trần Quốc Toàn. May mà sau này điện thoại phổ biến hơn, nhấc máy có thể liên lạc đuợc. Nhưng cái sự nhận điện thoại không thể so với việc nhận được một lá thư.
Như vậy, tôi coi Trần Quốc Toàn là người thày đầu tiên dạy tôi bài học đầu tiên về nghề báo. Bài báo đầu tiên tôi viết, cũng là đăng trên tạp chí Thế giới mới trong cuộc thi “Tài trí Việt Nam”. Đó là câu chuyện về một giáo sư làm thủy tinh. Trần Quốc Toàn gọi điện cho tôi về nhà máy, hướng dẫn cách viết. Anh nói báo chí khác văn chương thế nào, các nhà văn thường mắc lỗi gì khi viết báo và anh động viên tôi, tôi chưa phải nhà văn, là một kỹ sư thì viết báo hy vọng sẽ không đi vào con đường mòn tả mây tả gió mà chú ý kết cấu, chú ý sự kiện, chú ý cấu tứ, chú ý cái gì nói trước, cái gì nói sau. Đó lại là một bài học nữa về chuyện viết báo, sau này tôi biết tài liệu cách viết báo diễn tả bằng hình ảnh “tam giác lộn ngược”… Như thế, sau khi làm thầy văn của tôi, Trần Quốc Toàn một lần nữa lại dậy tôi bài học đầu tiên của nghề làm báo.
Trần Quốc Toàn hồi đầu những năm chín mươi ở trong một hẻm sâu hút ở quận 3. Khi kết thúc cuộc thi “truyện ngắn 1.000 chữ”, dù cho chỉ được giải khuyến khích, với 2 triệu đồng còm, tôi vẫn quyết định vào Thành phố Hồ Chí Minh, mà nguyên nhân chính là để gặp Trần Quốc Toàn. Một người đã liên lạc, động viên tôi mặc dù trước đó không hề biết tôi, điều đó không phải lúc nào cũng gặp được trong đời. Và, cho đến nay, tôi vẫn cho rằng, đó là quyết định sáng suốt nhất của tôi.
Thực ra, lễ lạt cũng giản dị, không có gì ầm ĩ. Trần Quốc Toàn vướng vào sự vụ, bạn bè quây quanh cũng nhiều. Tôi chỉ gặp anh loáng thoáng, nói mấy câu chuyện rồi cũng nhanh chóng chia tay. Có lẽ anh cũng đoán tôi muốn nhiều hơn thế, nên cho địa chỉ nhà. Tôi có đến nhà chơi, thấy có cậu con trai cởi trần học bài. Nhà cửa sơ sài hết sức. Không có bàn tay đàn bà. Khi tôi hỏi “chị ấy” thì được biết vẫn còn công tác ở tỉnh ngoài TPHCM. Có thể thấy rõ đời sống của anh cũng vất vả, không có sự ổn thỏa thường tình… Tôi chơi với anh một lúc rồi về.
Nhưng chuyến đi ấy bắc cầu cho chuyến đi sau. Trần Quốc Toàn bảo tôi: “Báo Người lao động” thi truyện ngắn chủ đề “Chân dung người lao động”, Hưng đang trực tiếp làm ở nhà máy, nên viết cái gì đó”
Trần Quốc Toàn nói thế, tôi nghe rồi quên đi. Về Hải Phòng, công việc bận bịu. Dạo đó tôi làm Phó quản đốc Phân xưởng Thủy tinh của Nhà máy Thủy tinh. Phân xưởng hơn 200 công nhân, một ngày ra lò gần 25 tấn sản phẩm. Đó là phân xưởng chính, quả tim của Nhà máy. Các phân xưởng khác chỉ là phục vụ (cơ khí, nhiên liệu, nguyên liệu…). Bẵng đi khá lâu, một hôm anh Toàn gọi điện giục gửi truyện. Tôi buông máy nghĩ: Mình đã hứa, hứa với ai thì thôi, chứ hứa với anh ấy thì phải làm, thôi thì đánh liều viết vậy. Viết gì? Viết chính về cuộc đời, cuộc tình của một người thợ thổi. Viết như là chỉ làm tròn lời hứa với anh Trần Quốc Toàn. Nhưng sau đó truyện của tôi được giải nhất. Hồi đó, một giải văn chương 15 triệu đồng là lớn lắm. Đô la có 8.000 đồng/USD. Vàng thì 400.000đ/chỉ. Khi Trần Quốc Toàn báo tin, tôi thấy ngượng, vì nghĩ mình viết lách vớ vẩn sao lại được nhất, nên bảo anh: “Anh có tác động gì không?”. Vì câu ấy, tôi đến bây giờ vẫn ngượng với anh. Bởi vì lúc đó tôi chưa hoàn toàn hiểu con người Nhà thơ, nhà giáo Trần Quốc Toàn. Anh bảo tôi: “Không có chiếu cố gì cả. Rồi Hưng sẽ thấy và tin tưởng là có những việc chân chính”.
Kỳ thi ấy, Ban giám khảo có các nhà văn Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Lê Đình Kỵ, Vu Gia… Cho đến nay, đọc lại những truyện được giải, gặp nhà văn Vu Gia, nhà văn Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, tôi càng thấy trân trọng Trần Quốc Toàn. Vào thời điểm tôi chập chững viết văn, Trần Quốc Toàn đã truyền cho tôi một niềm tin mạnh mẽ vào cuộc sống, tin ở con người, sống vì tình người đàng hoàng, đĩnh đạc. Anh chỉ có việc tìm kiếm bài vở giúp “bên ấy”. Một cuộc thi không có giải nhất xứng đáng thì không thể coi là thành công được. Anh chỉ làm cái việc đó thôi.
Sau này, tôi đọc thơ anh, mới hiểu Trần Quốc Toàn là một người Hà Nội yêu Hà Nội hơn ai hết. Cuốn sách những bài học sư phạm của anh nói những chuyện bình thường, với giọng văn nhẹ nhàng, thủ thỉ, mà thấm thía. Đọc văn anh, thấy rõ chất văn hóa thanh lịch, thâm trầm của một người Hà thành, cho dù anh ở phương Nam. Ở văn anh, có chút gì đó giống với hơi văn của những người con yêu “thương nhớ đất Thăng Long”, như Vũ Bằng chẳng hạn… Dù cho tôi có đọc bao nhiêu bài thơ anh, tôi vẫn cứ tưởng tượng ra anh là một nhà giáo mô phạm, một người thày hơn là thi sĩ, một tâm hồn Hà Nội trong vóc dáng phong trần của người đàn ông lang bạt vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Rồi có mấy lần tôi qua lại TPHCM, đến tòa soạn gặp anh, lúc đó chuyện văn chương đã vãn. Có lẽ anh thấy tôi nhanh chóng quá trở thành một tên nhà báo thì có điều đáng chán. Anh nói: “Cuộc sống báo chí giúp nhiều cho người làm văn. Nhưng hãy coi chừng…” Rồi đến khi gặp anh ở Hà Nội khoảng năm 2005, nghe tôi về làm báo điện tử, Trần Quốc Toàn nói: “Cậu vướng vào sự vụ báo chí, hay là làm quan báo là làm chết văn rồi”. Quả đó là một lời tiên tri ngắn gọn và chính xác. May mà tôi rời xa chốn trường văn trận bút ấy sớm.

Nếu không vướng vào văn chương, thơ phú, thì Trần Quốc Toàn là một nhà giáo mô phạm, nhưng dù có dấn thân vào văn thơ, anh vẫn là một người thày. Mảng thơ anh viết cho thiếu nhi quả là sự lựa chọn chân xác, nó là cái tạng mạch của tâm hồn anh, xuất phát là thày, và mãi mãi yêu quý những con người học trò nhỏ bé. Bản chất “hối nhân bất quyện”, dạy người không mỏi, khi cất lên tiếng thơ khiến người ta rung cảm, quên câu chữ mà nhớ đến hồn người.  Có lẽ, việc viết văn thơ cho thiếu nhi, với anh là vẫn tiếp tục nghề sư phạm, nhưng với một hình thức khác.

Với Trần Quốc Toàn, tôi mãi mãi nhớ anh như một trong những người thày đầu tiên. Anh không chỉ dạy tôi nửa chữ hay một chữ, anh đã là một người thày thực sự, vô tình tác động đến một trong những lựa chọn có tính khắc nghiệt nhất của tôi, đó là dấn bước viết văn. Bài giảng của anh với tôi là bằng nhân cách và tâm hồn anh. Bài thực hành của anh là cuộc đời thơ văn và báo chí của anh. Tôi đã từng nhìn làng văn qua một nhân vật là anh và tin tưởng ở lựa chọn của mình. Làng văn có nhiều tai tiếng, có đen bạc và vất vả, nhưng bù lại lại có những con nguời chân chính, có những tâm hồn thấm đẫm tình người… Cho đến nay, tôi vẫn muốn tin điều đó…

 

Trần Hải Yến Gửi lúc : (11/03/2014 | 10:01:00)
Hình như anh cũng nghĩ đến anh Trần Quốc Toàn khi gửi tặng em tập truyện ngăn BỎ TRỐN - ĐỢI MẶT TRỜI để động viên một cộng tác viên của blog E là em?
Nguyễn Thị Hương Gửi lúc : (03/03/2014 | 02:50:00)
Tôi quen nhà văn Trần Quốc Toàn trong một hoàn cảnh khác, khi anh nói về dấu (.) mà tôi kể trong bài viết CHỈ MỘT DẤU CHẤM (.) dưới đây: http://viptruyen.vn/@forum/f63/chi-mot-dau-cham-3811.html
Từ đò mỗi khi viết một bài mới, hay va vấp trong việc viết tôi đều hỏi anh. Tôi luôn ngạc nhiên là anh luôn chỉ bảo cho một người viết nghiệp dư như tôi rật tận tình, ngắn gọn và sâu sắc. Cám ơn anh Nguyễn Xuân Hưng đã nói hộ tôi những điều tôi nghĩ về anh Toàn. Anh Toàn thực sự là một người thầy của tôi. Một người thầy tài, đức. Một nhân cách lớn mà tôi vô cùng kính trọng

Nguyen thi Hoai Gửi lúc : (14/10/2012 | 07:31:00)
Dung la tu tim hieu se thu vi hon .Nho bai viet nay ma toi duoc biet hon ve nha bao Tran Quoc Toan. Mot con nguoi ma chi vai dong trao doi qua Email toi da thay men va kham phuc roi.Do la mot nha bao hom hinh, thong minh,giau tinh nguoi...
nguoihanam-camauxaxu Gửi lúc : (22/08/2012 | 08:46:00)
Rất đồng ý với ý kiến của nhà văn. Trần Quốc Toàn là một nhân cách lớn; có con mắt xanh trong việc lựa chọn gương mặt thơ văn mới giới thiệu trên Thế Giới Mới...
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : z0q64b