Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
nguyen thi cam tu

Bình Luận của nguyen thi cam tu

cac ban oi cho minh y kien nhe. vay tom lai ho quy ly duoc xem la anh hung hay gian hung
ngo panbin

Bình Luận của ngo panbin

Khong nen binh luan danh gia cac nhan vat LSU mot cach thieu cong bang. Troi sinh ra kg ai hoan hao. trong cuoc song ban muon lam viec that hoan hao, nhung co bao gio dc kg ??? vi vay lanh dao mot dat nuoc khi hanh dong trong cong viec, cung nhu trong cuoc song doi thuong,co gi do kg hoan toan tot dep,co gi do khiem khuyet, ta cung nen luong thu ma bo qua cho ho, mien sao cai sai kg qua tram trong,cai lam duoc cho dantoc datnuoc de den hom nay chung ta va lich su thay dung dan co ich la qua tot va can ton vinh cong lao do, Cac ban co khi nao lam lanhdao va dung truoc ap luc that su lon chua ??? khi do kho tam lam ban oi !!!
Vay nen toi khuyen cac ban can co tam long bao dung hon voi nhung ai da lam tot, co loi cho datnuoc va dantoc vietnam, Du ho khac ching kien khac quan diem chinh tri voi ban, nhung chung ta la mot me auco sinh tram trung, va bo coi viet nam neu co mat vao tay ke nuoc ngoai ban chac se that su dau long. Con ben CSan hay QGia thi suy cho cung chua phai qua toi te, truoc het la cham dut chien tranh som di doi voi dong nghia su giet choc nhau giua nguoi vnam voi nhau kg con,dat nuoc ven toan mot moi, dan bot lam than kho cuc,Phia ban va phia toi, tat ca la conrongchautien,
Toi kg quan trong cai ten, CN CSan, CN MACLENIN hay chu nghia nao nao di nua, nhung dem lai dieu tot cho dongbao datnuoc vnam la dc, CN nao cung vay neu kg dclongdan, ban kg can thucday kg can dautranh ma tu no cung sup do va dongbao trong nuoc se lam viec do,
Phan Văn Hoàng

Bình Luận của Phan Văn Hoàng

Xin góp hai ý :
1- Tên tờ báo là NÔNG CỔ MÍN ĐÀM (nghĩa : uống trà nói chuyên làm nông và buôn bán). Không phải MÍM ĐÀM.
MÍNH là trà non. Cụ Huỳnh Thúc Kháng có bút hiệu MÍNH VIÊN (vườn trà non)
Người Nam Bộ phát âm -IN thành -INH, nên viết MÍNH thành MÍN.
2- Người ĐỒNG BANG là người cùng chung một nước.
Do người Nam Bộ phát âm lẫn lộn -AN và -ANG nén viết sai đồng BANG thành đồng BAN.
PVH
Bạn văn
Hoàng Thế Sinh hoang dã cùng Yên Bái

 

1.

Tôi quen biết Hoàng Thế Sinh kể như một cơ duyên, hoặc nói mạnh dạn luôn, đó là duyên kỳ ngộ.

Khoảng năm 2004, Nhà thơ Ngọc Bái vẫn làm Chủ tịch Hội Văn nghệ Yên Bái, mời các nhà văn ở Hà Nội lên Yên Bái đọc văn cho một đợt bồi dưỡng viết văn của các cây bút Yên Bái. Thường thì những dịp như thế này, các anh em có máu viết lách ở tỉnh được tập hợp lại, tiêu số tiền hỗ trợ mà ngân sách tỉnh hào phóng cấp cho. Đó cũng là một cách hâm nóng bầu nhiệt huyết văn chương của những người đang bén duyên văn nghiệp. Một tỉnh mà tổ chức thường xuyên những hoạt động này, cũng có lợi cho phong trào viết lách, rồi từ đó bật ra được một vài tác giả thực sự, thì đã là hiệu quả lắm rồi.

Một dịp tổ chức viết lách như vậy, nói nôm na là “Trại viết”. Những người được mời đọc văn, đọc thơ là các nhà văn, nhà thơ “ở Trung ương” tương đối có uy tín, có con mắt sư phạm. Việc này không dễ đâu. Có nhà văn nổi tiếng, nhưng ai viết ông ấy cũng chê, hoặc ai viết ông cũng khen, thì loại nhà văn như vậy không thể tin tưởng để cho ông ấy đọc văn Trại viết được. Hồi ấy, Hà Đình Cẩn đang làm Tổng biên tập Tạp chí Nhà văn, một người thẩm thơ văn để đăng báo, còn Hà Phạm Phú là người phụ trách trang Văn nghệ báo Quân đội nhân dân một thời, cho nên mời Hà Đình Cẩn và Hà Phạm Phú là rất đúng. Hai ông họ Hà lại mời hai nhà thơ Nguyên Hoàng Sơn (lúc đó đang làm báo Tiền phong) và nhà thơ Đỗ Trung Lai (lúc đó đang làm báo Đài tiếng nói Việt Nam) cùng đi. Không hiểu sao, các ông ấy lại rủ thêm tôi, với lý do ông Cẩn nói như sau: Các anh ham chơi, lại già rồi, mắt mũi kèm nhèm, đọc hàng chồng bản thảo thì cũng khố lắm. Thêm chú đọc sơ khảo hộ anh, cứ tiêu chí là đăng báo được…

Thế là, tôi lẽo đẽo theo các bậc cao thủ đi Yên Bái, tham dự khai mạc trại, ôm vào một tập bản thảo dày cộm, ra sức đọc… Tỉnh Yên Bái cũng ưu ái các nhà văn, khai mạc và bế mạc, Phó chủ tịch Hoàng Thị Hạnh đều đến, cùng "văn công tỉnh" hát hò nhảy múa và uống rượu tưng bừng, đôi bên văn nghệ sĩ và quan chức đều phải lòng nhau...

Cuối kỳ, trao đi đổi lại, sàng dần xay sát mãi mới thấy bật ra được 2-3 tác giả văn xuôi, một trong số đó rất khá là Hoàng Thế Sinh. Tôi mang về 2 truyện ngắn của Hoàng Thế Sinh, một gửi đăng báo Người Hà Nội, một gửi Nhà văn Đào Quang Thép đăng báo Thời báo Kinh tế Việt Nam, còn lại đăng của Hoàng Thế Sinh một bút ký trên báo của tôi (Diễn đàn Doanh nghiệp), một đăng trên Người Hà Nội. Bút ký “Lên Phanxiphan” mấy năm sau, báo Văn Nghệ mới lại đăng lại.

Hoàng Thế Sinh trước đó tôi không hề biết, không biết anh có chiến tích văn chương thế nào, nhưng qua những gì anh viết, bằng kinh nghiệm bản thân, tôi thấy văn anh ánh lên chất riêng không lẫn, cái hơi văn thô tháp, khỏe khoắn và chân thật. Mảng quê hương miền cao của anh, được nhìn dưới góc nhìn của một kẻ trải đời từ miền xuôi lên, có điều gì đó giống giống con mắt của Ma Văn Kháng nhìn rừng núi. Tuy nhiên, Hoàng Thế Sinh có chất văn, giống như bậc cao thủ Ma Văn Kháng, không còn phải giả giọng người miền núi. Thời đại của anh là thời kỳ mà các “con Kinh” có thể còn ngố hơn các “con Mường”, khác hẳn thời Ma Văn Kháng sống và viết, nên đọc anh, có cái tiếp nối mảng văn học vùng cao, mà lại hơn hẳn ở cách tiếp cận. Anh đã viết như anh nảy ra từ chính cuộc sống ấy, không phải là người từ đâu nhìn vào, mà là anh đang trình bày chính mình vậy.

 Tôi đã không ân hận khi trước hội nghị Trại viết, đã nhiệt liệt hoan nghênh các truyện ngắn của Tác giả Hoàng Thế Sinh và tiên đoán anh còn tiến xa hơn nữa. Hóa ra anh là một đàn anh văn chương thực sự. Khi mà tôi còn lăn lê làm kỹ sư ở xưởng, chưa chạm tay đến một câu văn, thì anh đã làm Cao học ở Trường Đại học Sư phạm, đắm đuối với văn thơ cùng với Trần Hòa Bình, Văn Giá… Sau này, khi Hoàng Thế Sinh trở thành Hội viên Hội Nhà văn, anh đã không quên gọi điện mời tôi đi nhậu. Một đám nhậu toàn những sâu rượu cùng cỡ tuổi anh, nghĩa là hơn tôi dăm bẩy tuổi. Hoàng Thế Sinh đã thực sự thành người miền núi, khi anh uống rượu. Uống rồi hát then, hát đủ loại dân ca Tây Bắc. Sống cả một đời với vùng đất ấy, mới có thể hát lên tiếng người dân tộc ấy… Tôi vừa thích vừa sợ những cuộc vui như thế. Có những tay chơi như Hoàng Thế Sinh, thật hiếm khi được cười như vậy. Nhưng mà không thể nào làm bạn rượu sánh được với anh, đó là nỗi thẹn và nỗi sợ của người bình thường như tôi. Thế Sinh hay nói: Chán bỏ mẹ, không uống được thì làm được quái gì… Chán bỏ mẹ, nhưng anh vẫn nhớ đến tôi mà a –lô đến “không uống thì nhìn”, thì cú a lô đó mới giá trị thế nào.

 

2.

Khi đến Yên Bái, ông Lê Văn Thảo muốn tìm một “thổ công”, thế là ông nghĩ đến Ngọc Bái và Hoàng Thế Sinh.

Ngọc Bái là một nhà thơ, nhạc sĩ, nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử. Mảng lịch sử Việt Nam Quốc dân đảng với Nguyễn Thái Học và đồng chí của ông làm Khởi nghĩa Yên Bái, nếu không có những người như Ngọc Bái, thì rồi ít ai còn nhớ đến nữa. Có kẻ còn ấu trĩ ngạc nhiên sao ông Ngọc Bái lại ca tụng “Quốc dân đảng”. Sau này, Nhà thơ Ngọc Bái được Giải thưởng Nhà nước, tôi cho là Nhà nước cũng sáng suốt, còn công chức Nhà nước thì nhiều anh tối như hũ nút.

Nhà văn Lê Văn Thảo, Nhà thơ Ngọc Bái, nhà văn Hoàng Thế Sinh và tôi đã làm một chuyến hành hương Yên Bái “về nguồn”. Chúng tôi đi tuốt lên Văn Chấn, rồi chạy một mạch Suối Giàng. Khi Hoàng Thế Sinh sờ tay vào gốc cây chè cổ thụ, tôi cứ có cảm tưởng anh cũng giống những gốc chè Suối Giàng này. Hình hài kỳ quái, cong queo rêu mốc, nhưng càng ngày càng bật ra những lá non xanh làm nên vị văn-trà đặc biệt.

Có gặp và biết về Hoàng Thế Sinh, mới thấy thêm một dẫn chứng cho nguyên lý “xa quan gần dân” của các văn nghệ sĩ. Hầu như tôi thấy các văn nghệ sĩ, đã vướng vào mưu sinh, sống trong bộ máy, thì nếu anh càng xa quan trường, thì càng gần đời sống dân dã, và như thế thì phần tâm hồn nhân văn của anh càng đậm đặc. Có người bảo, sức Hoàng Thế Sinh có thể làm cao hơn nhiều cái chức Phó tổng biên tập một tờ báo tỉnh, nhưng lại có người bảo, ngồi được cái ghế ấy cũng là may. Khi mà không ra dáng “ông quan”, không giống “mitx-tơ”, thì anh không thể ghép mình vào guồng máy quan trường được. Hoàng Thế Sinh, từ giọng điệu, đến hình dong diện mạo, y sì một anh nghệ sĩ, thế thì ngồi đến ghế Phó gì đó đến khi về hưu cũng là may lắm. Và, như thế, không cần tìm hiểu, cũng biết anh đủ ăn, đủ nuôi vợ nuôi con là khá lắm rồi.

Nếu vẽ chân dung anh, thì tôi sẽ vẽ anh hát then với một bầu rượu giặt ở thắt lưng và đi từ một khu rừng mưa đi ra. Anh dường như sản phẩm của một vùng rừng hoang dã. Anh không phải người “đi thực tế” miền cao, mà thực tế vùng núi Yên Bái mượn tâm hồn anh để thành văn. Từ “Rừng thiêng”, “Xứ mưa”, đến “Bụi hồ”, qua các tiểu thuyết này, Hoàng Thế Sinh đã dựng được chân dung văn học của mình.

Khi cùng nhà thơ Ngọc Bái và nhà văn Lê Văn Thảo lênh đênh trên hồ Thác Bà, Hoàng Thế Sinh đã “nhả ngọc phun châu” về thắng cảnh của Yên Bái. Không biết ông nhà văn Lê Văn Thảo mải mê quay phim, có ghi được lời nào của Hoàng Thế Sinh không. Tôi đã nghe anh đọc câu chuyện về Thác Bà theo cách của anh, kể chuyện chất chưởng như thể đã uống mấy lít rượu rồi, mà thực ra chưa có rượu. Nào là đặt tên “thánh thót” cho cái đảo hoang “cóc cụ” kia, nào là “cưỡng dâm” chuyện tình cho bạt rừng nọ… Lạ thay, nghệ sĩ có hai trạng thái say, đó là khi uống rượu, và khi nói chuyện đời văn. Tôi đã chứng kiến Hoàng Thế Sinh như thế. Phải là một người yêu mảnh đất này đến thế nào, thì mới sống hồn hậu như thế được.

 

3.

Đoạn vĩ thanh

Tôi viết những mẩu kỷ niệm bạn văn, không phải để đăng báo, mà là viết cho mình. Viết lúc thích hợp rồi để đó. Khi nào “tiện” thì để lên web cá nhân hoặc blog chơi thôi. Đó là bạn bè mình, những người thày mình… Tôi đã viết về Hà Phạm Phú, Hà Đình Cẩn, Đào Quang Thép, Tô Đức Chiêu, Đỗ Trung Lai… và nhiều nhà văn, nhà thơ khác như vậy.

Đoạn này tôi mang “gắn” vào bài viết về Hoàng Thế Sinh, là có một cơ duyên. Blog E là một blog của một nhóm bạn, tình cờ có một bạn đọc kể câu chuyện rằng, ngày xưa, cách đây khoảng 20 năm, cô ấy đang là sinh viên, đã được Hoàng Thế Sinh chép tặng thơ. Và, kỷ niệm đó vẫn còn rất trong sáng, khích lệ cô ấy suốt những năm sau.

Độc giả kể câu chuyện trên đây chỉ có nick name, không biết tên cô ấy là gì, làm ở đâu. Dĩ nhiên là Hoàng Thế Sinh cũng khó mà nhớ nổi. Trong cuộc đời hoạt động văn chương sôi nổi, anh đã một thời làm chủ nhiệm một câu lạc bộ văn thơ ở trường Đại học sư phạm Hà Nội. Một thời hoa niên sôi nổi, vô tư và trong sáng. Niềm xúc cảm nghệ sĩ của anh, lối sống chân thành của anh đã hòa trộn với đời sống tươi vui của sinh viên. Anh đã hết lòng chia sẻ tâm hồn mình với những bạn đọc sinh viên, trong cái thời mà không có mạng xã hội, anh lại chưa phải một tác giả nổi tiếng để có thể đăng thơ trên các báo, anh đã xuất bản bao nhiêu thơ vào các trang sổ tay của bè bạn gần xa…

Đó cũng là một cơ duyên của người nghệ sĩ, mà ít ai có được. Không mấy người được như anh, có những cô sinh viên, mang theo kỷ niệm trong sáng về những câu thơ của anh suốt một quãng đời. Với tôi, tôi cho rằng đó là niềm hạnh phúc. Một thứ hạnh phúc rất phù hợp với triết lý nhà Phật, gây nhân thì có quả. Hoàng Thế Sinh đã gây cái nhân chân thật yêu đời, thì anh hưởng lấy cái quả yêu mến của bạn đọc, hơn mọi huân huy chương với nhà văn ở trên đời.

Bây giờ, Hoàng Thế Sinh đã về hưu, nhưng tôi không nghĩ anh là một ông già giống như các cụ về hưu khác. Anh vẫn là một nghệ sĩ sẵn sàng cuồng si lên Phanxipan ngay, bỏ qua mọi cám dỗ vật chất thông thường, bởi vì anh giàu tâm hồn, giàu vì bạn, những người bạn nghệ sĩ và rất nhiều bạn vô danh đã mến yêu anh… 

Hải Yến Gửi lúc : (10/06/2013 | 05:01:00)
Em chính là cô sinh viên yêu thơ Hoàng Thế Sinh, đã được anh ấy chép thơ trong sổ tay đấy, anh NXH ạ!
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : rbb82w