Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
nguyen thi cam tu

Bình Luận của nguyen thi cam tu

cac ban oi cho minh y kien nhe. vay tom lai ho quy ly duoc xem la anh hung hay gian hung
ngo panbin

Bình Luận của ngo panbin

Khong nen binh luan danh gia cac nhan vat LSU mot cach thieu cong bang. Troi sinh ra kg ai hoan hao. trong cuoc song ban muon lam viec that hoan hao, nhung co bao gio dc kg ??? vi vay lanh dao mot dat nuoc khi hanh dong trong cong viec, cung nhu trong cuoc song doi thuong,co gi do kg hoan toan tot dep,co gi do khiem khuyet, ta cung nen luong thu ma bo qua cho ho, mien sao cai sai kg qua tram trong,cai lam duoc cho dantoc datnuoc de den hom nay chung ta va lich su thay dung dan co ich la qua tot va can ton vinh cong lao do, Cac ban co khi nao lam lanhdao va dung truoc ap luc that su lon chua ??? khi do kho tam lam ban oi !!!
Vay nen toi khuyen cac ban can co tam long bao dung hon voi nhung ai da lam tot, co loi cho datnuoc va dantoc vietnam, Du ho khac ching kien khac quan diem chinh tri voi ban, nhung chung ta la mot me auco sinh tram trung, va bo coi viet nam neu co mat vao tay ke nuoc ngoai ban chac se that su dau long. Con ben CSan hay QGia thi suy cho cung chua phai qua toi te, truoc het la cham dut chien tranh som di doi voi dong nghia su giet choc nhau giua nguoi vnam voi nhau kg con,dat nuoc ven toan mot moi, dan bot lam than kho cuc,Phia ban va phia toi, tat ca la conrongchautien,
Toi kg quan trong cai ten, CN CSan, CN MACLENIN hay chu nghia nao nao di nua, nhung dem lai dieu tot cho dongbao datnuoc vnam la dc, CN nao cung vay neu kg dclongdan, ban kg can thucday kg can dautranh ma tu no cung sup do va dongbao trong nuoc se lam viec do,
Phan Văn Hoàng

Bình Luận của Phan Văn Hoàng

Xin góp hai ý :
1- Tên tờ báo là NÔNG CỔ MÍN ĐÀM (nghĩa : uống trà nói chuyên làm nông và buôn bán). Không phải MÍM ĐÀM.
MÍNH là trà non. Cụ Huỳnh Thúc Kháng có bút hiệu MÍNH VIÊN (vườn trà non)
Người Nam Bộ phát âm -IN thành -INH, nên viết MÍNH thành MÍN.
2- Người ĐỒNG BANG là người cùng chung một nước.
Do người Nam Bộ phát âm lẫn lộn -AN và -ANG nén viết sai đồng BANG thành đồng BAN.
PVH
Bạn văn
Nhà văn Trường Thanh, người hồn nhiên cuối cùng...

Chiều nay, 9/2/2015, đến báo Văn Nghệ, mới biết Nhà văn Trường Thanh đã từ trần. Tỉnh ủy Lạng Sơn vừa đến chúc tết nhà văn lão thành, mọi việc vẫn bình thường, sau đó mười phút, chỉ một cơn nhồi máu cơ tim, ông Trường Thanh đã vĩnh viễn ra đi. Nghĩ đến nhà văn Trường Thanh, tôi không khỏi thương cảm. Ông mới gọi điện cho tôi vài tuần trước, hẹn hò sẽ nói chuyện về khởi nghĩa Bắc Sơn… Nào ngờ…

Tôi quen ông Trường Thanh một cách tình cờ, do đi với nhà văn Hà Phạm Phú lên Lạng Sơn, đến chơi với ông Trường Thanh khoảng mươi năm trước. Nhà ông Trường Thanh ở một phố cũ gần thành cổ, ngoài cửa có một tấm bảng ghi “đại diện báo Văn Nghệ”. Cảm giác đầu tiên, ông Trường Thanh là một bạn đọc yêu văn chương, yêu tờ Văn Nghệ một cách say mê.

1.    Nghiên cứu tư liệu Hoàng Văn Thụ là mệnh lệnh trái tim.

Khoảng năm 2008, tôi làm một bộ phim truyện truyền hình về đồng chí Hoàng Văn Thụ, ông Trường Thanh biết tin, nhiệt tình xuống Hà Nội, đưa cho tôi xem bản thảo của tiểu thuyết “Hoa bất tử” viết về Hoàng Văn Thụ. Tôi nói thật với ông, rằng tiểu thuyết của ông… rất khó đọc. Ông Thanh nói ngay: “Tức là cậu chê chứ gì? Nói thật là tớ già rồi, chỉ biết viết theo bản năng thế thôi, nhưng viết về Hoàng Văn Thụ là mệnh lệnh trái tim”. Văn ông quả thật, văn ông giống như ông nói, hồn nhiên, không chút gia công.

Tuy vậy, tôi thấy ông có nhiều công phu kiếm tìm tài liệu về cuộc đời Hoàng Văn Thụ. Ông Trường Thanh bảo với tôi: “Những chuyện ông Tô Hoài viết trong “Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ” có nhiều chỗ không chính xác, nhất là chuyện về mối quan hệ tình cảm cá nhân hồi ở quê hương”. Ông Trường Thanh nói về các quan hệ của người Tày Lạng Sơn để chứng minh việc ông Tô Hoài không hiểu… Hóa ra, ông Trường Thanh là người con gần gũi với dân tộc Tày. Phu nhân nhà văn Trường Thanh chính là người con gái của cụ Hoàng Văn Hán, người Tày Lạng Sơn, một trong những chỉ huy chủ chốt của khởi nghĩa Bắc Sơn và đội du kích Bắc Sơn, người đồng chí gần gũi của Hoàng Văn Thụ.

Một trong những phát hiện rất đáng ngạc nhiên, là Hoàng Văn Thụ đã có một thời gian ở Long Châu, gia nhập quân đội Quốc dân đảng Trung Hoa, đeo lon trung úy quân khí. Giai đoạn này Hoàng Văn Thụ hoạt động trong chi bộ Long Châu, bí thư Bùi Ngọc Thành, có Lương Văn Tri, và trước đó là Hoàng Đình Dong. Toàn bộ hoạt động của Hoàng Văn Thụ được Lê Hồng Phong chỉ đạo, chính điều đó khiến cho đường dây hoạt động của các đồng chí Việt Nam sang Trung Quốc được an toàn một thời gian. Tôi hỏi ông Trường Thanh: “Chi tiết này anh hư cấu hay là thật, vì tư liệu chính thức không thấy nói đến, chỉ nói Hoàng Văn Thụ là sĩ quan làm báo cho Hồng quân Trung Quốc”. Ông Trường Thanh đáp: “Tớ có tài liệu, đó hoàn toàn là thật. Đây là một tài năng hiếm có của dân tộc ta, chỉ có ông ấy là người duy nhất làm sĩ quan cho cả hai phía Trung Quốc”. Tôi cũng không hỏi kỹ chuyện tư liệu nữa, vì sau đó, tiểu thuyết “Hoa bất tử” được in, nên tôi yên tâm dùng chi tiết này vào kịch bản phim “Hoàng Văn Thụ”

2.    Duyên nợ với Phùng Chí Kiên.

Gần đây, ông Trường Thanh có phần yếu, nhưng tâm hồn nhà văn thì vẫn trẻ trung, nhiệt tình. Mỗi khi có bạn văn, tôi thấy ông như trẻ lại. Nhà văn Hà Phạm Phú, nhà thơ Đỗ Trung Lai và tôi có lần lên Lạng Sơn thăm ông, ông than vãn: “Không có dịp nào đi chơi, buồn lắm”. Thế rồi không ngờ, ông cũng hăng hái đòi đi lên Mẫu Sơn, chỉ để “ngắm gió ngắm mây”. Chính những chuyến đi như vậy, ông Trường Thanh có nhiều chuyện dốc bầu tâm sự.

Từ lâu, ông Trường Thanh đã tự đặt cho mình một nhiệm vụ, đó là lao vào viết về thời trước cách mạng tháng Tám, một giai đoạn lịch sử cách mạng hào hùng, nhiều sự kiện xảy ra ở vùng miền núi phía Bắc. Khi đó, các lãnh tụ cách mạng lấy khu vực dân cư Tày, Nùng và các dân tộc của Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên làm khu căn cứ để cứu nước. Ông có vợ là người Tày, lại là con gái của một người chỉ huy du kích thuộc thế hệ Lương Văn Tri, Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Thụ, nên ông cảm thấy có một sợi dân tâm linh vô hình thôi thúc ngòi bút của mình.

Khi hoàn thiện tiểu thuyết về Hoàng Văn Thụ, ông Trường Thanh đã tìm tư liệu để viết về Phùng Chí Kiên. Một cách tự nhiên, đó là vị tướng quân đã dẫn dắt đoàn quân cảm tử đi từ Bắc Sơn, trong đó có bố vợ của ông, và các ông ấy đã hy sinh lẫm liệt. Ông cặm cụi vào tận quê của Phùng Chí Kiên, đi một đoạn xa xôi gian khổ nhưng rất vui, để tìm hiểu về Phùng Chí Kiên.

Gần đây, có những tin tức lạ lùng về mối liên hệ giữa ông và vị tướng đầu tiên của quân đội nhân dân Việt Nam, đâu như nhà văn Trường Thanh chính là người con trai bị lạc của tướng quân Phùng Chí Kiên. Tôi đến Lạng Sơn, nói chuyện trực tiếp với ông Trường Thanh. Ông Thanh rất trầm tư. Hóa ra ông Thanh biết hết mọi chiều dư luận. Có người tin đó là sự thật, có người không tin, cho rằng mọi người lầm lẫn cả, vì thời gian quá lâu rồi, các bạn chiến đấu của Phùng Chí Kiên tại sao không lên tiếng? Có người nói vòng vo, ý nhị, rằng ông Thanh hơi… nhiêu khê. Ông Trường Thanh bảo tôi: “Tớ chẳng sống được bao nhiêu, thêm cái danh con của cụ Phùng Chí Kiên để làm gì? Tớ cũng suy nghĩ nát cả óc ra, cậu ạ. Thôi thì tôi lập bàn thờ cụ…”

Hóa ra ông Trường Thanh có cuộc đời lạ lùng. Ông bị mồ côi từ tấm bé, không biết mặt cha mẹ, được người bố nuôi nuôi lớn lên, lấy vợ như được sắp sẵn… Rồi ông kể về ký ức của những người nuôi mình, vẫn kể bố ông mỗi khi về nhà thăm mẹ ông như thế nào… Tôi bảo ông: “Em viết báo nhá, kể chuyện của bác”. Ông Thanh bảo: “Để làm gì? Người ta đang bảo tớ háo danh kia. Thôi tớ cứ tùy tâm, còn thì để đến lúc tớ chết, ai viết gì thì viết”

Hôm nay, ông đã lên đường về bên kia thế giới, linh hồn ông chắc hẳn đã gặp những Hoàng Văn Thụ, Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Hán… Chắc rằng ông đã mãn nguyện rồi.

3.    Số phận trắc trở

Nhà văn Trường Thanh không nổi danh trên văn đàn, nhưng là người nổi tiếng vì bị phiền hà khi vướng vào văn. Khi ông làm việc ở Hội Văn nghệ Lạng Sơn, ông đã rơi vào một vụ án kinh tế, khiến cho ông bị án treo. Hội Nhà văn Việt Nam khi đó đã làm thủ tục khai trừ hội viên đối với ông, sau đó lại kết nạp lại. Nhiều người nghĩ, khi đã vướng vào chuyện tụng đình, có lẽ máu mê viết lách của ông phai nhạt. Nhưng thật ngạc nhiên, sau thời kỳ khó khăn đó, ông trở lại viết lách hăng hái hơn, nhiệt thành hơn, tập trung miêu tả một thế hệ tiền bối cách mạng, thế mới lạ lùng.

Về chuyện này, suy nghĩ của ông Trường Thanh cũng rất hồn nhiên, độ lượng. Sau này, khi Nguyễn Việt Chiến, Phạm Viết Đào vướng vào lao lý như ông, mà Hội Nhà văn Việt Nam không hề đặt vấn đề khai trừ hội viên, ông Trường Thanh nói với tôi: “Đó là tinh thần của thời đại, mỗi thời một khác, nhận thức về tư cách hội viên Hội Nhà văn có tiến bộ lên thì mình mừng chứ”

Ông Trường Thanh có thể là người đại biểu cuối cùng của một thế hệ hồn nhiên tin yêu cuộc sống. Một lòng tin tưởng vào chế độ, kính phục các vị tiền bối cách mạng, đến mức thực tiễn cuộc sống có phũ phàng đến mấy thì niềm tin ấy vẫn bộc lộ một cách kins ddaos vaf hồn nhiên. Tôi đã gặp khá nhiều ông bà thân cận với lãnh đạo, đi đâu gặp ai cũng khoe chụp ảnh với ông nào ông nào. Còn ông Trường Thanh, trong nhà không hề có tấm ảnh nào, nhưng quả thật vợ chồng ông là người thân gần gũi với những vị khai sinh ra chế độ, thường xuyên gặp gỡ họ. Những ông Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Hoàng Quốc Việt, hoặc các vị hoạt động tiền khởi nghĩa ở Cao Bắc Lạng, đến Lạng Sơn, đều hỏi han gặp gỡ vợ chồng ông Trường Thanh. Đó cũng là một điều lạ trong số phận của ông, một người cầm bút đầy trắc trở.

Cuộc sống không như ý, con cái không may mắn, ông Trường Thanh cũng có góc hạnh phúc của riêng ông. Đó là khi ông nói về “bà ấy”, người đàn bà của đời ông. Ít ai có hạnh phúc trọn vẹn với người bạn đời của mình như ông. Cho đến cuối đời, ông vẫn nâng niu và trân trọng, thán phục khi nhắc đến vợ, đó là một phần thưởng hiếm hoi cuộc đời dành cho riêng ông vậy.

Có một lần, ông Trường Thanh nói về cuộc sống, ông nói có phần tổng kết: Nếu không có vợ, mình không là mình ngày nay, nếu không có văn chương, mình cũng đã nhiều phen gục ngã.

Tôi có hẹn với ông khi đến Lạng Sơn bàn về khởi nghĩa Bắc Sơn. Tôi bảo ông, tôi sẽ dựng lại cuộc khởi nghĩa này, ông nghe thế thì vui lắm… Tiếc thay, ông đã vội đi rồi. Người viết văn hồn nhiên cuối cùng đã ra đi…

 

Chưa có bình luận nào !
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : ew6xqq