Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Duy Minh

Bình Luận của Duy Minh

Nhiều lần đọc những bài viết của nhà văn, biết bác người xứ Đông cháu cũng cảm thấy đồng cảm như người đồng hương. Liệu có một ngày nào đó, Hải Dương và Hải Phòng có thể nhập lại làm một, cái tên Hải Đông có lẽ thích hợp hơn cả. Thật buồn là đến giờ nhiều người ở VN (bao gồm không ít người có uy tín trong các ngành văn hóa, giáo dục, sử học) và cả những người Việt sống ở hải ngoại vẫn cho rằng nhà Mạc ra đời là một sai lầm của lịch sử VN và Mạc Đăng Dung cắt đất cho ngoại bang! Hành động hạ mình có vẻ thái quá của Thái thượng hoàng nhà Mạc (lúc này ông không còn làm vua nhưng nhiều người không quan tâm chi tiết lịch sử này) sau này vua nhà Lê trung hưng lặp lại thì lại được sử quan triều Lê-Trịnh cho qua! Giờ đang sống trên mảnh đất Nam bộ vốn là đất cũ của Chân Lạp, cháu tự hỏi không có thế kỷ 16 với những biến động lớn thì liệu dân Bắc Hà chúng ta chỉ có mỗi cái chốn Hà Thành để tranh giành quyền cai trị lẫn nhau hết đời này qua đời khác thôi sao?
Nguyễn Việt Long

Bình Luận của Nguyễn Việt Long

Chi tiết "lãnh tụ cực tả của QDĐ Lão Trung Kha" viết sai tên. Chả có ai là Lão Trung Kha cả, đó là Liêu Trọng Khải.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Tôi không rành về Lào cho lắm, nên không hiểu chế độ hiện nay như thế nào? Nhiều khi thấy thế giới phân loại các quốc gia cộng sản gồm 5 nước thì có Lào. Nhưng đọc một văn bản của Cộng đồng Châu Âu xếp loại 4 nước cộng sản trên thế giới thì không có Lào. Nghe nói, họ còn bảo VN sang mà đưa tượng ông cụ về đi.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Bạn văn
Lê Văn Thảo, người lữ hành lặng lẽ

 1.

Có nhiều người quen biết nhau tình cờ, còn tôi quen biết nhà văn Lê Văn Thảo là do “cưỡng bức”. Cuối khóa Phó chủ tịch Hội Nhà văn của ông Lê Văn Thảo, ông Thảo ra Hà Nội có chuyện phải đi Móng Cái, mà cơ quan Hội Nhà văn lúc đó đang bận bịu gì đó, xe cộ và lái xe đều bị trưng dụng hết, Chánh văn phòng Đỗ Hàn gọi điện cho tôi, bảo anh không bận thì giúp tôi đưa ông Thảo đi Móng Cái. Hôm đó có cả hai ông Hà Đình Cẩn và Tô Đức Chiêu. Ông Thảo thoạt nhìn rất khó tính, nhìn tôi qua kính trễ: Ủa, Nguyễn Xuân Hưng là thằng này? Tôi sợ: Vâng. Ông Thảo nói: Cả khóa vừa rồi, tên mày lúc nào cũng vang lên trong cuộc họp chấp hành. Tôi càng sợ. Khóa đó chấp hành có Hồ Anh Thái, Phan Thị Vàng Anh, chuyện sự vụ ở Hội Nhà văn chắc là khiến các vị chấp hành mệt lắm. Ông Chiêu hỏi: Thế anh bỏ phiếu thuận hay chống cho nó? Ông Thảo lên xe rồi cười: Trong mọi trường hợp, tôi đều bỏ phiếu cho phe nước mắt. Tôi nhẹ lòng, không sợ sệt gì nữa.

Lần đó tôi làm nhiệm vụ lái xe chắc là khá tốt, nên sau chuyến đi,ông Thảo bảo: “Hôm nào tao ra, đi Yên Bái với tao”.

Không thể nào ngờ được, lần gặp gỡ đó giữa tôi và nhà văn Lê Văn Thảo lại là khởi đầu cho nhiều chuyến đi hoang dã khắp mọi miền đất nước. Thời gian  không nhiều, chỉ nhiều hơn một nhiệm kỳ công tác, mà tôi và ông Thảo đã lang thang mười mấy hoặc hai chục chuyến tôi không nhớ nữa. Lần thì có thêm một hai nhà văn, nhiều lần có thêm bạn tôi, cũng có lần chỉ có hai anh em. Ôi, giờ nghĩ lại, thấy đoạn đời lang thang đó lại là thời gian sống vô cùng đáng quý. Ngẫm lại, hóa ra ông Thảo cũng biết mỗi chuyến đi là một chuyến giối già, mà nhiều khi tôi không hiểu hết…

Ông Thảo rất cẩn thận, chuẩn bị ra là điện thoại để tôi thu xếp thời gian. Trước khi đi vòng qua cửa hành rượu, lấy một thùng rượu vang, thế là lên đường.

 2.

Yên Bái là nơi có kỷ niệm sâu xa với ông Lê Văn Thảo. Ông Thảo lên Yên Bái, việc đầu tiên là tìm đến ngôi mộ người anh trai đã nằm lại đất Yên Bái. Anh ấy đã từng là chuyên viên Ủy ban Kế hoạch tỉnh Yên Bái, rồi chết vì mảnh đất núi rừng này, khi còn tuổi thanh xuân chưa lập gia đình. Ông Lê Văn Thảo nhờ ông Ngọc Bái tìm được người bạn xưa của anh mình, người đã lo phần mộ và hương khói cho anh ấy nhiều năm. Chúng tôi vất vả đi qua lối nhỏ trên sườn dốc cheo leo, giờ đây nhà cửa chen chúc. Ông Thảo cúi đầu, mắt ngấn lệ. Lát sau ông nói: “Bao nhiêu rủi ro ổng gánh hết, để cho bọn tui may mắn không à”. Lên xe rồi, ông hỏi tôi: “Về tâm linh, cúng từ xa có được không?” Tôi bảo ông: “Cúng vọng cũng như đến nơi, tại tâm cả mà anh”. Đó là những năm ông Thảo đã thấy mình không được khỏe, mỗi lần đến thăm mộ anh, đi lại rất vất vả. Ông nói: “Hỏi mầy vậy thôi, chứ tao cũng đọc chút chút. Trần Thái tông đã bảo Phật tại tâm. Xét cho cùng, cúng giỗ là cúng cho mình, như là bồi bổ cái tâm của mình, còn người chết thì ai biết được”. Nói thì thế, nhưng ông vẫn muốn đến tận nơi mộ anh, mỗi lần đi qua Yên Bái.

Đến Yên Bái, có hai nhà văn mà mỗi lần đến tôi và ông Thảo thường hay gặp. Đó là Ngọc Bái và Hoàng Thế Sinh. Ông Bái, ông Sinh cũng đồng hành với chúng tôi, trước tiên là đi ngang dọc “tỉnh nhà”. Có khi đi hồ Thác Bà, có khi lên Suối Giàng, có khi đi Mù Căng Chải, Bắc Hà. Mỗi lần đến một địa danh, ông Thảo thường chú ý mua một món đồ kỷ niệm. Một lần đến nhà ông Thảo, tôi đã thấy hai mảnh đá tinh thể saphia như con trai ngậm ngọc bày trang trọng trên bàn khách. Ông nói: “Cái này cứ nhìn là nhớ Suối Giàng”. Ông chỉ từng thứ, từng thứ, rồi giới thiệu lai lịch. Những ngày ông Thảo đau ốm, giọng qua phone còn mạnh mẽ, nhưng đầy tiếc nuối: Khó đi được, phải qua đợt này xem sao. Khi đó tôi cứ tưởng tượng ông Thảo ngồi một mình lặng lẽ ngắm những vật kỷ niệm qua các chuyến đi, mới thấy nỗi đau đớn khôn nguôi của ông Thảo, nỗi đau hơn mọi nỗi đau của những người già yếu bệnh tật thông thường.

 

3.

Nhà văn Lê Văn Thảo đạo mạo, ít nói, thoạt nhìn thấy như là một người khó tiếp chuyện. Tôi còn nghe nhiều người nói quá lên, đó là một người khinh khỉnh và cao ngạo. Xét cho cùng, ông Thảo có thừa yếu tố để cao ngạo. Xuất thân từ dòng họ Dương nổi tiếng, ông Thảo có gia sản tạm ổn, không đến nỗi phải lo cơm áo hay phải “cá kiếm” như mọi ông có tí chức. Và quan trọng là ông Thảo có một sự nghiệp. Cái sự nghiệp mà ông theo đuổi từ thuở hoa niên, cũng có thành tựu. Có phải vì thế mà ông ấy bị cho là kiêu và khó gần? Tôi đã đồng hành với ông Thảo, trên đường thiên lý, chuyện trò không dứt, và tôi cố gắng tìm hiểu cái nguyên do người ta không thể gần được ông Thảo.

Có một lần đang đi trên đường từ Mù Căng Chải đi Ô Quy Hồ, thì ông Thảo nhìn thấy người ta bán măng tre trên đường. Một đống măng đổ đầy, mấy người đếm măng cho lên xe ô tô. Ông Thảo đứng lặng lẽ nhìn ngắm, hỏi han, rồi lại lặng lẽ chụp ảnh. Lát sau ông nói: “Trời ơi, ngày xưa ở R, ăn miết thứ này, thằng nào cũng ốm o xanh lét”. May quá, suýt nữa tôi hỏi một câu vô duyên đại loại anh thích măng thì ta mua nhé. Đó là khoảng lặng mà tâm tư ông ấy cuộn sóng. Thời gian quá khứ trỗi dậy. Rồi sau đó, ông kể về những ngày ở R, giọng vừa vui thích vừa giễu cợt những khó khăn mà ông và đồng đội đã trải qua. Những cái tên nhà văn, nghệ sĩ thường được ông nhắc đến, những Hồng Sến, Quang Sáng, Anh Đức, Thủy Thủ, Giang Nam… Nếu tôi có ý thức ghi chép các câu chuyện của ông, có lẽ đã có hàng ngàn trang sách. Tôi bảo: “Hồi các anh còn trẻ, sống… ghê thật. Bây giờ bọn nhà văn sống nhợt nhạt lắm”. Ông Thảo rất bực: “Nếu nghĩ thế thật thì mầy hỏng. Đó là cuộc sống không nên có. Chiến tranh là đời sống để tồn tại, chứ đâu phải là đời sống để hạnh phúc”.

Một lần đi qua Kiên Giang, qua tượng Chị Sứ, ông bảo tôi: “Mầy dừng, mầy”. Tôi dừng. Ông lôi tôi vào gần đó, chỉ bức tượng, bảo: “Mầy nhớ nhé, dựng tượng một nhân vật, không phải họ tôn vinh ông Anh Đức, mà nhầm lẫn tôn vinh một người khác, hướng đến một chuyện khác, rồi bảo đó là nhân vật của Anh Đức. Anh Đức viết Hòn Đất thế nào, chúng tao ở R ai chả biết”. Rồi ông cười một mình: “Thủ trưởng của ông ấy cấm viết hư cấu, chỉ viết bút kỳ phản ánh cuộc sống thực tiễn thôi. Anh Đức phải viết giấu giếm, đêm ổng che đèn để viết, rồi gửi ra ngoài Bắc”. Tôi chưa bao giờ nghe nói chuyện này. Người thủ trưởng của ông Đức sau đó có làm đến quan tỉnh và giờ vẫn sống, không biết ông ấy còn nhớ không. Có phải tư duy của ông thủ trưởng ấy còn di truyền cho lãnh đạo sau này, cứ khăng khăng chị Sứ phải là một con người nào đó.

Đại loại ông Thảo là một kho chuyện ngày đã xa, mà ông ấy coi cái ngày đó vừa  là vàng ngọc đời người, vừa là rác đáng vứt đi. Cũng như chuyện ông ấy ứng xử với cái thẻ Đảng. Một cậu chuyên viên Thành ủy con của nhà thơ đã quá cố, gọi ông Thảo lên, bảo cuối năm bác làm kiểm điểm, rồi kiểm tra thẻ Đảng. Ông Thảo mang thẻ Đảng lên, rồi kiên quyết không đến lấy. Ông nói với “thằng chuyên viên”: Mầy thấy nó quan trọng thì cứ giữ lấy. Không biết sau này số phận của cái thẻ Đảng của ông Thảo thế nào. Nhân chuyện này, ông Thảo rất ủng hộ chuyện có ngoại lệ ở Hội Nhà văn. Khi tôi kể nhiều nhà văn về hưu vẫn để sinh hoạt đảng ở cơ quan Hội, ông Thảo bảo: Hội Nhà văn không có những ông ấy đi ra đi vào, còn ra cái hội gì nữa. Phải cám ơn các ông ấy, thỉnh thoảng đến Hội đi đi lại lại, mới ra Hội Nhà văn. Ít lâu sau, nhân chuyện gì đó, ông Thảo lại bảo: Giờ đây khắp đất nước này thi hành ngoại lệ, thì còn ra thể thống gì nữa. Tôi hỏi, ông Thảo cười: Nhà văn thì được, nhưng ông chính quyền về hưu rồi, Chủ tịch, bí thư, bộ trưởng cứ đến cơ quan cũ đi ra đi vào còn ra cái thể thống gì.

Khi nói về khoảng thời gian làm Chủ tịch Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, ông Thảo nhăn mặt nhiều. Quan niệm của ông là Tô Hoài có phần đúng. Làm lãnh đạo văn nghệ tốt nhất là không làm gì. Mình có viết thay người ta không? Mục tiêu của anh lãnh đạo ở đâu thì cũng làm cho con người ở đó làm việc tốt. Nhà văn làm việc tốt là có tác phẩm tốt. Thế thôi.

Ông Lê Văn Thảo luôn luôn là người có tư duy tự do, không khuôn phép. Vì ông tự do nên tư tưởng của ông có cơ hội bay bổng, khác người. Ông ấy không đơn giản, nên nhiều người thấy ông khó gần.

*

4.

Mấy năm trước, cứ gần Tết là nhà văn Lê Văn Thảo lại ra Bắc, bao giờ ông cũng ới tôi. Gần Tết khó gọi ai đi cùng, ai cũng bận gia đình, chỉ có tôi tình nguyện cùng ông đi bạt tử. Còn nhớ năm đó, hai ông Lê Văn Thảo và Nguyễn Quang Sáng, đến ngày 25 Tết, còn ngồi ở Hồ Thiền Quang, gọi tôi đến. Nguyễn Quang Sáng đã chậm chạp lắm, nhưng quả tim ông nuôi cơ thể bằng rượu Chi-vat. Ông Thảo có 6 chai nhỏ rượu du lịch, mua ở sân bay dịp đi nước ngoài về. Thế là Nguyễn Quang Sáng uống 4 chai, còn 2 chai về khách sạn uống nốt trước khi đi ngủ. Sáng hôm sau, tôi đón Lê Văn Thảo đi Bắc Cạn, ông Thảo nói: “Nhìn tao đi chơi với mày, tao thấy mắt ông Sáng buồn lắm. Ông ấy thèm đi lắm, nhưng không đi được nữa. Tao thấy ông ấy thế, nên càng muốn phải đi…”

Tôi và ông Thảo đi một mạch lên Hồ Ba Bể, đi thuyền đến một hòn đảo hoang sơ chỉ có dăm ba mái nhà, rồi ăn một bữa giữa thiên nhiên. Khi đó, dường như mình đi về thời gian quá khứ xa thăm thẳm. Ông Thảo lại rủ rỉ kể chuyện, chuyện thời trai trẻ, chuyện ở R với những ông bạn đã đi về miền siêu thoát. Không gian cổ tích, thời gian sống chậm, câu chuyện hoài cổ, tình người đậm đặc. Cứ như mình trôi về huyền thoại…

Trong một lúc tâm tư, ông Thảo có tâm sự chuyện riêng. Rồi ông buông lời như nhắn nhủ: “Mầy hạnh phúc nhất là nếu bên cạnh có người đàn bà luôn luôn đi cùng. Mày hạnh phúc nữa nếu mầy chết trước nó. Cưới xin, giấy hôn thú cũng như thẻ đảng, mầy”. Ông Thảo có một người con trai giỏi giang luôn luôn lo lắng cho bố, nhưng chắc chắn là ông là một người đàn ông cô đơn. Nghệ sĩ vốn đã cô đơn, người đàn ông gà trống nuôi con như ông Thảo càng cô đơn vô cùng tận. Sau tôi hiểu ông Thảo, cứ gần Tết lại cố sắp sếp đi chơi với ông. Nhưng ông Thảo cũng biết điều tế nhị, luôn luôn giải phóng tôi khi gần ba mươi, mồng một.

Lê Văn Thảo là một nhà văn kín đáo. Nhưng đó là một ông già cởi mở. Tôi gặp ông Thảo không phải để bù khú, không phải để cùng tận hưởng kiểu nâng cốc “dô, dô”. Nhưng đi mãi với ông mới biết một người hình dáng thì già, mà tâm tư thì trẻ. Có những phút ông hát như một thời trai trẻ ôm đàn. Năm đó ông ra Bắc, gọi Đỗ Trung Lai, lên Yên Bái gọi Ngọc Bái, rồi đi tuốt lên Nghĩa Lộ, đến nơi có cô chủ quán yêu văn chương tên như đàn ông. Chúng tôi ngồi bên bờ sông uống tí rượu, rồi các ông già hát hò vô cùng vui thú. Hát hết bài thời chống Pháp đến thời chống Mỹ, rồi ông Thảo kể chuyện về Trịnh Công Sơn. Hai người ấy cô đơn mà mỗi người một kiểu. Ông Thảo hát: “Từng người tình bỏ ta đi, ta như dòng sông cạn…” Không hiểu sao tôi muốn khóc.

Nào ngờ đó là chuyến đi cuối cùng của tôi với ông nhà văn Lê Văn Thảo. Tất cả các chuyến đi, tôi đi con Jolie biển xanh 2002 giã cỗi, xóc nẩy, nóng kinh người. Năm nay, gần Tết tôi gọi ông Thảo: Em đã có cái xe mới em ru chở bác đi. Ông Thảo điện thoại, than một câu: Không hiểu sao năm nay không thấy khỏe như năm ngoái. Lúc đó, tôi đã chợt nhận ra, Tết năm nay cũng không vui như năm ngoái. Tuổi chúng ta cứ dầy thêm, Tết cứ khác dần, như những người bạn già dần dần xa chúng ta, cho đến khi ta đi theo họ… Riêng tôi, không nỗi buồn nào so sánh được với việc tôi mãi mãi không được đồng hành cùng ông Lê Văn Thảo trên những chuyến đi…

Chưa có bình luận nào !
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : ma3n42