Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Nguyễn Việt Long

Bình Luận của Nguyễn Việt Long

Chi tiết "lãnh tụ cực tả của QDĐ Lão Trung Kha" viết sai tên. Chả có ai là Lão Trung Kha cả, đó là Liêu Trọng Khải.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Tôi không rành về Lào cho lắm, nên không hiểu chế độ hiện nay như thế nào? Nhiều khi thấy thế giới phân loại các quốc gia cộng sản gồm 5 nước thì có Lào. Nhưng đọc một văn bản của Cộng đồng Châu Âu xếp loại 4 nước cộng sản trên thế giới thì không có Lào. Nghe nói, họ còn bảo VN sang mà đưa tượng ông cụ về đi.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
nguyen thi cam tu

Bình Luận của nguyen thi cam tu

cac ban oi cho minh y kien nhe. vay tom lai ho quy ly duoc xem la anh hung hay gian hung
Sách của tôi
Hoa Lư
Bộ Tiểu thuyết ‘Bình minh Đại Việt”- Hiểu sâu tư tưởng Việt

Nguyễn Xuân Hưng đang có kế hoạch xuất bản bộ tiểu thuyết gồm 3 cuốn: 1/ Hoa Lư, 2/Thảo Đường. 3/Trúc Lâm. Hiện nay đã in tập “Hoa Lư”, chuẩn bị đưa in tập “Thảo Đường” và đang sửa tập “Trúc Lâm”.

“Hoa Lư” kể về giai đoạn người anh hùng Đinh Bộ Lĩnh từ niên thiếu, làm vua kẻ chăn trâu đến khi lên ngôi Hoàng đế. Từ xưa, sử liệu về 12 sứ quân còn lại rất ít ỏi, việc dựng lại, tiểu thuyết hoá chiến cuộc đánh dẹp các sứ quân để thống nhất đất nước được tác giả miêu tả rất kỹ. Theo tác giả, Đinh Bộ Lĩnh đã liên kết quân với Trần Lãm, một mình sang dụ hàng Phạm Bạch Hổ, rồi tung quân đánh triều đình Cổ Loa, diệt 3 anh em Nguyễn Siêu, Nguyễn Thủ Tiệp, Nguyễn Khoan. Các tướng chỉ huy trận này là Lê Hoàn và Nguyễn Bặc và Nguyễn Huy, chính các tướng này đã đánh Kiều Công Tiễn, Kiều Thuận ở vùng Bạch Hạc, Phong Châu. Sau đó, Bộ Lĩnh cho quân vây Đỗ Cảnh Thạc ở Động Giang. Giai đoạn này chiến cuộc đã gần kết thúc, Đinh Bộ Lĩnh đã dùng kế hôn nhân, thông gia để thu phục Ngô Xương Xí và Ngô Nhật Khánh, những hoàng tộc, hậu duệ của Ngô Quyền. Diễn biến tình hình chiến trường gần đúng như sử liệu. Nhưng cụ thể lời ăn tiếng nói, chiến trận đánh dẹp thế nào, thì từ xưa chưa ai dựng lại  được một cách tường tận. Nay, với tư duy của một nhà biên kịch, tác giả đã dựng lại chiến trận xưa với từng chi tiết và thoại rất độc đáo.

Trong tiểu thuyết, tác giả xử lý mối quan hệ giữa Dương thị với các nhân vật lịch sử cũng có điều đáng nói. Thân thế Dương thị cho đến nay vẫn còn nhiều thuyết khác nhau. Những nhà nghiên cứu địa phương Ninh Bình cho rằng, Dương thị là thủ lĩnh một đội quân nữ ở vùng gần Hoa Lư, xuất thân thường dân. Có thuyết lại cho rằng, Dương thị là người hoàng tộc của triều Ngô, có quan hệ bà con với họ Dương của Đình Nghệ. Tác giả cho Dương thị là “nghĩa tử”, tức con nuôi của Dương Tam Kha, rồi chạy theo triều đình Ngô Xương Xí. Có như vậy, diễn biến hôn nhân giữa Đinh Bộ Lĩnh với mẹ Ngô Nhật Khánh và Dương thị mới phù hợp với việc thu phục 2 hoàng tộc họ Ngô này.

Tuy nhiên, toàn bộ chiến cuộc dựng lên trong tiểu thuyết cũng chỉ là cái nền gươm đao, để tác giả nói chuyện khác, chuyện chính yếu của tiểu thuyết này. Đó là sự hình thành tư tưởng con người Đại Việt, với khởi đầu từ sự kiện Ngô Quyền xưng vương, đặt nền độc lập. Nhân vật Ngô Xương Tỷ, tức nhà sư Thích Chân Lưu đã xuất hiện thành một đường dây xuyên suốt cuốn truyện. Những ghi chép hư cấu của Chân Lưu và một phần của người thày địa lý Tàu, đã dẫn dắt độc giả hướng về một phía khác của sự kiện Đinh Bộ Lĩnh xưng đế. Qua đó, nhân cách và tư tưởng Chân Lưu dần được lột tả. Sau này, Chân Lưu được Đinh Tiên hoàng phong là Quốc sư, hiệu Khuông Việt (phò trợ nước Việt) quả là hết sức ý nghĩa. Chân Lưu quan tâm đến văn hoá, tư tưởng, tự ý thức được là một ông vua không ngai cai trị tâm linh. Chân Lưu uyên thâm và biết thời thế, từ chối ngôi vua Ngô đáng lẽ vào tay ông, ông đã đặt nền móng cho sự hình thành tư tưởng con người Đại Việt, sau này Thảo Đường và Trúc Lâm Đại Đầu Đà đã tiếp nối và nâng lên tầm cao chói lọi trong khoảng gần 300 năm sau.

Nguyễn Xuân Hưng viết cuốn tiểu thuyết lịch sử đầu tiên về thời kỳ Nguyễn Hoàng mở nước và được giải của cuộc thi tiểu thuyết Hội Nhà văn năm 2004. Lần đầu tiên, Nguyễn Hoàng và những người theo chúa Nguyễn được nhìn nhận với con mắt khác với quan niệm chính thống lâu nay vốn bất công với nhà Nguyễn. Văn phong tiểu thuyết lịch sử của Nguyễn Xuân Hưng không kể lể, tự sự, mà thiên về dựng truyện, thoại nhiều, tiết tấu nhanh.

Trong tiểu thuyết “Hoa Lư”, Nguyễn Xuân Hưng dùng lại thi pháp kể chuyện của người trong cuộc và cũng như tiểu thuyết trước, đã dựng lại diễn biến các sự kiện một cách chi tiết, trực quan. Nếu có thể dựng thành phim, thì đạo diễn không cần phải chuyển thể mất công nhiều lắm, có lẽ việc là một nhà sản xuất phim đã ảnh hưởng đến cách viết của tác giả.

Nhưng, qua tiểu thuyết Hoa Lư, Nguyễn Xuân Hưng cũng bộc lộ một số khiếm khuyết. Đọc diễn biến chiến cục dẹp loạn 12 sứ quân, có những lúc tưởng như đọc Tam quốc, song các nhân vật trong Hoa Lư chưa nổi rõ số phận, khó có thể nhớ Đinh Điền hay Lưu Cơ, Nguyễn Bặc. Trong số các tướng, có vẻ tác giả dành thời gian cho nhân vật Trịnh Tú hơn cả. Có lẽ người ta chỉ nhớ đến Nguyễn Huy, lại là nhân vật tướng hư cấu. Tác giả có chăm chút cho Lê Hoàn, Đinh Liễn, nhưng đáng tiếc đến cuối lại “thả” cho các nhân vật này “đi mất”. Đoạn đầu nói về Đinh Dự, Bộ Lĩnh và Thày Trương rất có không khí, nhưng lại không được liên tục đến cuối. Có lẽ vì chính quan niệm của tác giả đặt ra là chú trọng sự hình thành tư tưởng, nên đã dụng công xây dựng nhân vật Thích Chân Lưu chứ không phải là các tướng Hoa Lư. Dù sao thì Chân Lưu dần dần hiện lên qua các trang tự sự, cũng đạt yêu cầu là ông vua không ngai, người đặt nền móng cho tư tưởng người Việt. Thiền phái Vô Ngôn Thông mà Chân Lưu làm tổ thứ 5 đã góp phần quan trọng cho ổn định xã hội, hình thành ý thức độc lập dân tộc và văn hoá Đại Việt. Với 2 cuốn tiếp theo: “Thảo Đường” và “Trúc Lâm” hy vọng nhiệm vụ đặt ra của tác giả là dựng lên đường dây lịch sử tư tưởng con người Việt, sẽ trọn vẹn. Theo tác giả, nhân vật chính trong “Thảo Đường” cũng không phải chính Thảo Đường, mà là vua Lý Thánh tông, vị tổ thứ 2 của Thiền phái Thảo Đường, còn các nhân vật quan trọng của “Trúc Lâm” là 3 vị tổ của Thiền phái Trúc Lâm.

Nguyễn Xuân Hưng đã có thời gian vài năm làm biên tập, thư ký quan trọng cho Tạp chí Phật học của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cùng với Thượng toạ Gia Quang và Đại đức Đức Thiện cải tổ tờ tạp chí này. Việc hiểu biết về Thiền học chắc chắn giúp ích rất nhiều cho việc sáng tác bộ tiểu thuyết “Bình minh Đại Việt” với ba quyển Hoa- Thảo- Trúc. Theo tác giả: “Lịch sử Phật giáo Việt Nam gắn bó kỳ lạ với lịch sử dân tộc. Tìm hiểu lịch sử tư tưởng của người Việt, không thể không tìm hiểu lịch sử Phật giáo”. Ba tập Hoa- Thảo- Trúc chính là cuốn sách về con đường hành đạo gắn bó với đời của các Bồ Tát kiệt suất trong lịch sử dân tộc.


Chưa có bình luận nào !
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : cxtkxu
Bài viết khác