1.
Đỗ Trung Lai khi tôi mới gặp, quả nhiên anh là thi sĩ của dòng sông quan họ. Trống phách rộn ràng, ca sĩ hát: “Êm êm một khúc sông cầu, sao trời lọt qua mắt lưới, rơi đầy xuống dòng sông sâu…”
Bài hát lắng xuống thì nhà văn Hà Phạm Phú giới thiệu nhà thơ tác giả của những câu thơ ấy. Đỗ Trung Lai đi cùng đoàn với chúng tôi lên Lào Cai, trong suốt chuyến đi anh nói ít, nói toàn chuyện tếu, chuyện tình tang và chuyện vợ ghen…nhưng khi vào cuộc thơ văn giao lưu với văn nghệ Lào Cai này, anh đột nhiên linh hoạt, nói rất nhiều. Anh như cá về với nước. Con cá này lại đang về với dòng sông quen thuộc của vùng quan họ, nơi anh đã được biết đến ở khắp mọi nơi.
Tôi không còn nhớ chi tiết hôm ấy Đỗ Trung Lai nói gì, chỉ nhớ anh đã nói về việc phổ nhạc bài thơ của anh. Rất nhiều người phổ nhạc, nhưng chỉ có Phan Lạc Hoa, một thời đã từng là bạn anh, là người đã làm cho câu thơ anh thành những câu hát được nhiều người hát bây giờ. Dường như để dẫn chứng cho lời mình, Đỗ Trung Lai nói gì đó với ca sĩ, rồi cô ca sĩ liền hát bài hát do một nhạc sĩ khác phổ nhạc. Quả thật, đó là những giai điệu lạ. Vẫn những lời thơ ấy, nhưng không có cái hồn da diết như nhạc của Phan Lạc Hoa đã thổi vào…
Tôi đã đi theo Đỗ Trung Lai đến một số diễn đàn nghe anh đọc thơ. Khi đó tôi có cảm tưởng người viết văn xuôi quá đỗi thiệt thòi. Nhà thơ có lợi là có thể đọc gan ruột mình trước mọi người. Song, nhà thơ Việt Nam không phải ai cũng biết cách đọc thơ trước công chúng. Tôi đã nghe ông Xuân Diệu đọc thơ, đó là vào năm 1971 tại phố huyện Kinh Môn (Hải Dương), khi tôi là một đứa bé học lớp 6, ông Xuân Diệu về huyện nói chuyện thơ ở sân công ty Dược phẩm, chỉ nói về thơ Hồ Chí Minh và Trần Đăng Khoa. Mắt ông nhắm tít, cái đầu ông lắc lư, mái tóc quăn rung rinh theo ánh đèn măng-sông. Mọi người im thít. Có người im vì mê thơ, có người im vì tôn trọng danh hiệu nhà thơ của ông Xuân Diệu, có người im vì sợ mọi người bảo mình không biết thơ là gì. Khi đó, tôi thuộc loại thứ ba, chả biết thơ là gì cả, tôi đang gò lưng học toán để đi thi học sinh giỏi huyện.
Người thứ hai là nhà thơ Việt Nam đọc thơ mà tôi nghe cảm thấy mê mẩn, đó là Hoàng Nhuận Cầm. Khi đó khoảng năm bẩy bẩy, bảy tám gì đó, tôi đang học Đại học Bách khoa, lang thang ra sân sau trường, tức là công viên Thống Nhất, có một đoàn các nhà thơ và sinh viên trường Đại học Tổng hợp đến đọc thơ, rất nhiều nhà thơ đã quen biết với công chúng, nhưng tôi chỉ nhớ Hoàng Nhuận Cầm đọc thơ mà thôi. Dĩ nhiên lời thơ không đọng lại trong đầu tên sinh viên kỹ thuật là tôi khi đó, nhưng cái hồn cốt con người thi sĩ, sự bức xúc trải lòng mình trong từng câu chữ thì cứ ám ảnh tôi mãi. Thơ dường như có một sức mạnh kỳ lạ mà từ lâu tôi không để ý đến. Cử toạ gồm nhiều thành phần phức tạp, chủ yếu đến công viên giải trí, nghe hát, bọn thanh niên sinh viên đến công viên thì để tán tỉnh nhau. Nhưng khi mà Hoàng Nhuận Cầm đọc thơ, tôi thấy mọi người im. Hoàng Nhuận Cầm đọc thơ với cung cách trái ngược với Xuân Diệu. Hoàng Nhuận Cầm vươn cổ gầy, nhìn gân guốc, miệng môi căng hết cỡ. Dường như anh đang làm cái việc cực hình để diễn tả tâm tình bằng tiếng nói, bằng ngôn ngữ âm thanh. Sự chân thành của anh đã đồng cảm đến người nghe. Không ai có thể dửng dưng trước một người mở lòng mình đến thế. Anh khi đó dường như biến thể trong dào dạt âm thanh do anh tạo ra. Con người khi đó chả là gì. Anh bỗng nhiên gày gò thảm hại, chỉ còn tiếng thơ mà thôi. Hình như cái hình hài vật chất của anh đã tan biến để làm thành tiếng thơ anh. Tôi thoắt rùng mình. Một con người có thể làm được như vậy vì cái cái gọi là thơ. Và cái gọi ấy đã tác động đến hồn người.
Rồi đến tận ngày tôi nhìn thấy nhà thơ Đỗ Trung Lai đọc thơ. Không, anh “hát thơ”. Đó có thể là nhà thơ thứ ba của Việt Nam trình diễn thơ gieo cho tôi ấn tượng sâu đậm và đó là ấn tượng sâu đậm nhất.
2.
Đỗ Trung Lai cũng như các nhà thơ khác, hay thích tìm những từ lạ để thay thế những từ đã được nhiều người dùng rồi. Dường như với các nhà thơ, sự nhàm chán đến từ chính ngôn ngữ thường ngày. “Tôi hát bài này, lời thơ là do tôi “chế” ra”. Không phải là “làm ra” đâu. Phải là “chế” ra. Thế đấy.
Cái bài mà anh trình diễn hoá ra cũng chả phải bài hát thông thường. Cũng không phải là đọc thơ. Nó là một loại hát xẩm của riêng anh. Lời mào đầu có hơi lằng nhằng một chút. Đỗ Trung Lai tự cho mình là người thứ ba trong lịch sử thi ca tự hát những bài do mình “chế” ra. Một là Nguyễn Công Trứ, hai là Tản Đà, và ba là… Xếp một chiếu để tự ngồi thứ ba, sau hai vị thi sĩ ngông nghênh khét tiếng, đó là Đỗ Trung Lai.
Đỗ Trung Lai kiếm hai cái đũa, gõ bát linh kinh, rồi hát bằng giọng nam ngang của riêng anh. Đầu lắc lư, mắt lúc như say thuốc, lúc lại như mắt mèo hoang. Người say thơ, người tự say mình, người hát say người… Ai một lần nghe anh hát thơ, chắc chắn cũng trở thành thoát tục. Điều kỳ diệu của thơ ca là khiến cho người ta tạm xa cõi trần tục, và điều đáng nể là Đỗ Trung Lai đã truyền cho cử toạ cảm giác ấy. Ở khía cạnh này, thi ca có phần có mẫu số chung với tôn giáo. Phật tử hằng hướng tới trí tuệ Bát Nhã, nhằm đích siêu thoát ở chân trời Niết bàn. Thi ca đích thực cũng có phần khai sáng trí tuệ và tâm hồn, có điều “vớ vẩn” là không mấy khi nhà thơ đồng thời là Bồ Tát của tôn giáo thơ ca. Nhưng tôi đã thấy những nhà thơ đọc thơ như thể họ đang làm một loại lễ nghi tôn giáo. Ba thi sĩ mà tôi kể trên đây đã là như vậy. Xuân Diệu, Hoàng Nhuận Cầm và người thứ ba làm nghi lễ đọc thơ ấn tượng nhất, đó là Đỗ Trung Lai. Tiếng gõ đũa tinh tang và tiếng nhà thơ ứ hự, khách nghe rượu ngà ngà, không khí trở nên ngây ngất. Hồn chầu văn phảng phất. Do Đỗ Trung Lai đấy nhá…
3.
Có người nói: Nhà thơ thì nhiều mà thi sĩ thì ít thôi… Ngôn ngữ Việt Nam thần tình ở chỗ nó khiến người ta cảm nhận được sự tinh tế trong cách dùng từ. Nếu phải mô tả, có lẽ phải dùng rất nhiều lời. Hoá ra, từ ngữ Việt trong một số trường hợp có điều gì đó gần giống âm nhạc. Thi sĩ cũng đại khái là nhà thơ, nhưng cũng chả phải. Tôi đã gặp và đọc Hữu Thỉnh, Vũ Duy Thông, Bằng Việt, Trần Đăng Khoa và nhiều nhà thơ khác mà tên họ lung linh trên báo, trên sách. Nhưng tôi không gọi họ là thi sĩ. Còn Phạm Tiến Duật, Hoàng Nhuận Cầm, hay Đỗ Trung Lai thì tôi gọi họ là những thi sĩ mà tôi biết. Thi sĩ có gì đó không hoàn chỉnh, có thể ứng xử của họ với người đời có méo mó, nhưng phần cá thể sống ở họ rất mãnh liệt. Trước khi nói đến sản phẩm ngôn ngữ thơ của họ, thì huyền thoại về con người họ đã hấp dẫn người đời. Cuộc sống vốn không toàn vẹn. Thi sĩ có lẽ mang trong mình tính hoang dã tự nhiên mà vũ trụ đã phú cho đời sống con người. Còn các nhà thơ không thi sĩ, có lẽ họ khôn khéo và hoàn chỉnh quá. Khôn khéo và hoàn chỉnh là tốt chứ. Người ta ai cũng muốn vươn đến cái toàn vẹn. Nhưng người ta lại thích sự ngang tàng bạt mạng, một kiểu phá cách so với những khuôn mẫu có tính khế ước trong hành động sống của cộng đồng.
Đỗ Trung Lai thi sĩ có cái tính mà người đời gọi là “gân”. Không phải gàn, không phải tự cao tự đại, mà là “gân”. Trong một đám trà dư tửu hậu, tôi là đứa ít tuổi hơn, ngồi im thì đáng rồi. Nhưng những bác già cũng “tắt điện” luôn. Vì đã có Đỗ Trung Lai đang chỉ chỉ ngón tay và nói. Không phải anh nào cũng có thể nói và nói. Phải có cái gì mới nói được chứ.
(Tạm cắt một đoạn)
Nhà văn Hà Phạm Phú nói với tôi: “Một đức tính cuả thiên tài là “mục hạ vô nhân”, dưới con mắt thơ ta đếch có thằng nào đang sống với ta, tức là cá tính phải rất mạnh. Nghệ sĩ tài đều phải như vậy. Đỗ Trung Lai có một chút phẩm chất ấy. Có thể điều đó làm cho đời anh ta thiệt, nhưng thi ca và cộng đồng thì được lãi”.
Như thế là anh thi sĩ bị trời đày. Phẩm chất thiên tài làm nên thi sĩ Đỗ Trung Lai, nhưng đã làm cho anh long đong. Tôi gặp Đỗ Trung Lai khi anh cởi áo “Đại tá phá khung” để làm báo Tiếng nói Việt Nam. Nhà văn Hà Đình Cẩn đùa với tôi: “Tiếng nói Việt Nam và tiếng nói Đỗ Trung Lai không cùng tông được đâu”. Ông Hà Đình Cẩn quả là một tiên tri. Không lâu sau, thi sĩ Đỗ Trung Lai từ giã chân Phó tổng biên tập để về nhà dịch thơ Đỗ Phủ. Tôi thấy có lẽ như vậy lại may, có đâu một nhà thơ cứ phải sớm tối lọ mọ với mấy trang báo như thế mãi. Cả khi làm báo, anh cũng không tách mình khỏi cái vỏ thi sĩ được, thế là tiềm ẩn sự không bền rồi.
Không có mấy anh làm thơ bỏ một cái chức nhẹ như bỏ tờ báo cũ. Nhưng Đỗ Trung Lai đã làm như vậy. Con người thi sĩ trong anh không thể đồng hành được với con người công chức. Hành xử thi sĩ của anh có thể không hợp thời với kiểu ứng xử bầu tròn của cộng đồng. Nhưng điều đó làm nên sự cao cả trong nhân cách Đỗ Trung Lai. Người khác có thể nói kiểu “ngoại giao”, nhưng Đỗ Trung Lai thì nói thẳng toạch. Thằng đứ đừ. Khi Hữu Thỉnh gợi ý Đỗ Trung Lai làm phó cho một vị ở cơ quan cấp 2 của Hội Nhà văn, anh nói “Bác thế là làm nhục em”. Giá như người khác thì từ chối sẽ khéo lắm, có khi người nghe từ chối mà lại sướng hơn nghe nịnh. Nhưng Đỗ Trung Lai nói thế thôi. Chính xác, ngắn gọn, rõ ràng…
(tạm cắt 1 đoạn ngắn)
Hồi Đỗ Trung Lai làm chủ tịch hội đồng sơ khảo kỳ thi viết truyện cho thanh niên sinh viên do Nhà xuất bản Giáo dục tổ chức, tôi cũng có truyện dự thi, và khi đó đã quen nhau rồi, nhưng chỉ đến khi công bố giải, Đỗ Trung Lai mới biết đấy là tôi. Anh có vẻ rất vui, anh nói: “Nếu mà cậu bảo tớ trước, thì tớ coi cậu là cái rác”. Tôi biết, có một vài vị đã đến ngỏ ý bảo “mình có cái dự thi” và Đỗ Trung Lai đã trừ điểm ngay. Trong xu thế quan hệ phong bì ngày nay, có một người gàn như vậy quả là không nhiều. Sống kiêu hãnh được đâu có dễ gì. Đỗ Trung Lai đã sống kiêu hãnh được.
- Hoàng Thế Sinh hoang dã cùng Yên Bái (12/05/2013 | 08:43:00)
- Nếu không vướng vào văn- Nhà thơ Nguyễn Hữu Hà (02/12/2012 | 01:03:00)
- Nếu không vướng vào văn - Nhà thơ Trần Quốc Toàn, nhà giáo, ngườ thày... (12/10/2011 | 08:10:00)
- Nếu không vướng vào văn- Nhà văn Đào Quang Thép (11/10/2011 | 12:05:00)
- Nếu không vướng vào văn- Nhà văn Hà Phạm Phú (17/03/2011 | 11:30:00)
- Nhà văn Tô Đức Chiêu- Bạn vong niên (10/10/2011 | 11:36:00)









