Nhà văn Hà Phạm Phú nguyên là kỹ sư súng pháo. Ông là học viên sĩ quan pháo binh, theo học ngành súng pháo tại Trung Quốc. Ông Hà Phạm Phú là một mẫu người tiêu biểu trưởng thành từ những năm sáu mươi, bảy mươi, trong đầu có bóng dáng của hai nền văn minh Nga và Trung. Ông Phú có thể nói và hát tiếng Nga như người Nga và giao dịch tiếng Bắc Kinh như người Trung Quốc. Vốn kiến văn Trung Hoa của ông đã giúp ích cho ông rất nhiều trong con đường văn học. Từ một tác giả truyện ngắn, tiểu thuyết, ông chuyển sang dịch văn học Trung Quốc, những bản dịch của ông Phú in đậm chất văn uyên bác, thông thái của một người hiểu biết.
“Nếu không viết văn, ông ấy có thể đã thành tướng...” Điều đó có thể lắm chứ. Ông Hà Phạm Phú đã từng là giáo viên trường Đại học Quân sự, một chuyên gia về súng pháo. Con đường trở thành giáo sư quân sự, hay cán bộ quản lý hoặc chỉ huy quân sự, hoàn toàn có thể. Nhưng ông Phú lại viết văn, viết truyện ngắn đăng trên Tạp chí Văn nghệ quân đội. Thế là có thủ trưởng một đơn vị bỗng cho rằng ông Phú viết về họ. Không dám nói công khai, đàng hoàng, nhưng cứ âm ỉ, dè chừng... Có một anh viết văn ở quanh mình, không thể không cảnh giác...
Ông Phú bỏ trường đại học quân sự để đi làm báo quân đội. “Đúng vào thời chiến, lại làm báo quân đội, nếu không viết văn mới là lạ”. Ông Phú không nói chính xác như vậy, nhưng ý chính là thế. Văn chương khiến cho những bài báo có chiều sâu, báo chí khiến cho văn chương có hơi thở của cuộc sống. Ông Phú đuợc ông sếp ở báo quân đội khi đó, là hậu duệ của Phạm Phú Thứ, chú ý. Ông lên hàm, lên chức. Nếu không viết văn, có lẽ ông cũng sẽ làm quan báo, rồi cũng có thể lên đến tướng. Có thể lắm chứ.
Nhưng ông Phú lại ham văn, ông sang Bộ Văn hoá, rồi chưa ấm chỗ thì về làm Chánh Văn phòng Hội Nhà văn, sau đó làm Phó giám đốc, rồi Giám đốc Hãng phim Hội Nhà văn.
Ông Phú có một quê hương văn chương in bóng trong các tác phẩm của ông. Đó là làng Hạ Đoan, thường lấp lánh trong những câu chuyện ông kể. Một ngôi làng trung du, bên sông Hồng. Nơi ấy họ Hà tổ tiên ông đã thiên di từ một vùng miền Trung rồi đỗ lại đó sinh cơ lập nghiệp. Tôi đã đến nơi đó. Một vùng quê thuần hậu. Các cụ tiền nhân họ Hà đã chọn được một chốn an cư rất đắc địa nếu xét về phong thuỷ. Ngôi nhà tựa lưng vào núi, nhìn ra cánh đồng rộng lớn. Có lẽ chính vì lớn lên ở một nơi non nước hữu tình như thế nên cái hồn quê cứ tự nhiên vận vào ông. Những người như ông Phú, không trường viết văn nào dạy được bằng trường đời quê hương yêu dấu.
Một mảng đề tài mà ông Phú rất am hiểu nữa, đó là mảng đời sống của một bộ phận cư dân Trung Quốc. Ông Phú đã gắn bó những năm tuổi trẻ ở một trường súng pháo ở Trung Quốc, ông sống với người dân bên đó, nói ngôn ngữ của họ, hiểu đời sống dân dã, lại đọc được lý luận của nền văn minh khổng lồ ấy bằng chính thứ chữ rậm rì rắc rối. Với trí thức Việt Nam, hàng nghìn năm nay, nguồn kiến thức trước hết là Nho giáo và văn hoá văn minh Trung Quốc từ cổ đại. Bây giờ, thế hệ gạch nối của 2 cuộc kháng chiến, như ông Phú, tuy không được học Nho học trong trường, nhưng ông đã kịp bổ sung kiến thức từ tự học. Tự học có cái dở là không hệ thống, không có bằng cấp để trưng diện, nhưng sự tự học có cái hay, nói dân dã, là học ngấm vào người lúc nào không biết, học những thứ thiết thân, thiết yếu. Ông Phú đã đi từ lĩnh vực sáng tác sang dịch thuật một cách tự nhiên, từ một anh lính công chức trở thành một trí thức văn sĩ uyên thâm, là do tự học không mệt mỏi, đó là phẩm chất cổ nhân nói là "học nhi bất yếm"
Có lẽ đoạn đời am hiểu Trung Quốc đã để lại ấn tượng khá sâu sắc trong tính cách con người nhà văn Hà Phạm Phú. Cách nghĩ lớn, làm lớn, làm đến nơi đến chốn và làm quyết liệt. Nếu không có tác phong ấy, sao có thể với một hãng phim bé tý mà làm được những phim rất lớn. Ông Phú cũng giống như nhiều người Trung Quốc mà tôi gặp, đó là ăn to nói lớn, nếu có chuyện gì thì nói một mạch, nói gay gắt rồi thôi. Tôi trọng phẩm chất đàn ông đàng hoàng ấy ở ông Phú. Đàng hoàng, đĩnh đạc, không chấp nhặt. Ông là một mẫu đàn ông hào hoa và lang bạt. Có lẽ chính vì vậy mà ông trẻ rất lâu…
Tôi đã đọc câu chuyện Hồ Lô Cô của ông Phú, tự nhiên cứ ao ước được một lần đến cái hồ ở một vùng Đại Lý hẻo lánh, với một tộc người mẫu hệ, con gái đàn bà đẹp nhiều như đá núi. Có lẽ, chính từ kinh nghiệm ở chốn xa tít bên dãy Tây Tạng hùng vĩ và bí ẩn, ông Phú cũng đã tìm thấy một vương quốc nữ nhi của ông rồi. Trong thơ ông thấp thoáng những bóng giai nhân…
Thời kỳ làm ở Hãng phim Hội Nhà văn, ông Phú đã viết kịch bản phim truyện “Vượt qua bến Thượng Hải”, dịch kịch bản ấy sang tiếng Trung mà học giả Trung Quốc cũng phải công nhận là “sư huynh”. Ông là nhà sản xuất 2 bộ phim nổi danh “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông” và “Hà Nội, Hà Nội”. Ngoài ra, ông Phú còn tham gia làm bộ phim “Ông cố vấn” thời còn Nhà văn Hữu Mai làm giám đốc. Ông Phú đóng vai Trưởng trại giam, hồi ấy tôi chưa quen biết ông Phú, cứ thắc mắc, sao Trưởng trại gì mà hiền thế.
Do nghiệp văn mà ông phiêu lưu vào nghề báo, nghề phim. Có thể nói, nếu không có nghiệp văn, ông Phú sẽ nghỉ hưu với cấp hàm cao và tiền nong rủng rỉnh, mà lại chìm lấp giữa đời. Nhưng bây giờ ông Hà Phạm Phú là nhà văn, ông chu du trên cái ô tô xoàng xĩnh rồi viết văn, dịch sách. Ông được nhiều bạn bè nhớ đến như một nghệ sĩ đa tài đích thực. Văn chương làm cho cuộc đời ông quanh co, rồi lại trả cho ông sự thăng hoa nhẹ nhàng ở cuối đời...
- Hoàng Thế Sinh hoang dã cùng Yên Bái (12/05/2013 | 08:43:00)
- Nếu không vướng vào văn- Nhà thơ Nguyễn Hữu Hà (02/12/2012 | 01:03:00)
- Nếu không vướng vào văn - Nhà thơ Trần Quốc Toàn, nhà giáo, ngườ thày... (12/10/2011 | 08:10:00)
- Nếu không vướng vào văn- Nhà văn Đào Quang Thép (11/10/2011 | 12:05:00)
- Nhà thơ Đỗ Trung Lai- Thi sĩ hát thơ (10/10/2011 | 11:28:00)
- Nhà văn Tô Đức Chiêu- Bạn vong niên (10/10/2011 | 11:36:00)









