Tôi biết Trần Quốc Toàn trước hết qua thư từ. Hồi đó khoảng năm 1994 gì đó. Tạp chí Thế giới mới có tổ chức cuộc thị truyện ngắn 1.000 chữ. Tôi gửi 2 cái truyện dự thi. Trần Quốc Toàn gửi cho tôi cái thư chữ viết rất tháu, bảo là có truyện thì gửi tiếp, anh khen cái truyện “Big Bang” của tôi. Vài ngày sau, anh lại gửi cho tôi một thư nữa, trong đó có một tấm phim dương bản hình minh họa truyện ngắn này, anh nói là để tôi giữ làm kỷ niệm. Khi đó tôi đang làm kỹ sư ở Nhà máy, trước đó tôi mới in một truyện ngắn trên báo Văn Nghệ, nên có truyện in báo chí là thích rồi, lại có tý kỷ niệm như anh Toàn gửi cho thì cảm thấy rất mãn nguyện. Sau này đi làm báo, tôi mới biết đó là tấm phim dương bản của bản đen “mi trang”, sau khi in báo, có thể vứt đi. Nhưng anh Trần Quốc Toàn đã bóc ra, gửi cho tôi cái tấm phim đó.
Rồi sau này, tôi thành phóng viên, thành biên tập viên, thư ký tòa soạn rồi phụ trách cả một bộ phận tòa soạn, tôi mới ngày càng thấm thía ý nghĩa sâu sắc việc làm của Nhà thơ Trần Quốc Toàn. Viết một bức thư, dù chữ rất tháu gửi cho một cộng tác viên chưa quen biết, lại gửi cho một tấm phim “mi trang” làm kỷ niệm… trong khi công việc biên tập, thư ký cứ cuốn đi ào ào và lại phải đọc hàng núi bản thảo, thì quả thật không phải bao giờ cũng làm được. Do đó, mỗi khi có ý định động viên một cộng tác viên, tôi lại nhớ đến anh Trần Quốc Toàn. May mà sau này điện thoại phổ biến hơn, nhấc máy có thể liên lạc đuợc. Nhưng cái sự nhận điện thoại không thể so với việc nhận được một lá thư.
Như vậy, tôi coi Trần Quốc Toàn là người thày đầu tiên dạy tôi bài học đầu tiên về nghề báo. Bài báo đầu tiên tôi viết, cũng là đăng trên tạp chí Thế giới mới trong cuộc thi “Tài trí Việt Nam”. Đó là câu chuyện về một giáo sư làm thủy tinh. Trần Quốc Toàn gọi điện cho tôi về nhà máy, hướng dẫn cách viết. Anh nói báo chí khác văn chương thế nào, các nhà văn thường mắc lỗi gì khi viết báo và anh động viên tôi, tôi chưa phải nhà văn, là một kỹ sư thì viết báo hy vọng sẽ không đi vào con đường mòn tả mây tả gió mà chú ý kết cấu, chú ý sự kiện, chú ý cấu tứ, chú ý cái gì nói trước, cái gì nói sau. Đó lại là một bài học nữa về chuyện viết báo, sau này tôi biết tài liệu cách viết báo diễn tả bằng hình ảnh “tam giác lộn ngược”… Như thế, sau khi làm thầy văn của tôi, Trần Quốc Toàn một lần nữa lại dậy tôi bài học đầu tiên của nghề làm báo.
Trần Quốc Toàn hồi đầu những năm chín mươi ở trong một hẻm sâu hút ở quận 3. Khi kết thúc cuộc thi “truyện ngắn 1.000 chữ”, dù cho chỉ được giải khuyến khích, với 2 triệu đồng còm, tôi vẫn quyết định vào Thành phố Hồ Chí Minh, mà nguyên nhân chính là để gặp Trần Quốc Toàn. Một người đã liên lạc, động viên tôi mặc dù trước đó không hề biết tôi, điều đó không phải lúc nào cũng gặp được trong đời. Và, cho đến nay, tôi vẫn cho rằng, đó là quyết định sáng suốt nhất của tôi.
Thực ra, lễ lạt cũng giản dị, không có gì ầm ĩ. Trần Quốc Toàn vướng vào sự vụ, bạn bè quây quanh cũng nhiều. Tôi chỉ gặp anh loáng thoáng, nói mấy câu chuyện rồi cũng nhanh chóng chia tay. Có lẽ anh cũng đoán tôi muốn nhiều hơn thế, nên cho địa chỉ nhà. Tôi có đến nhà chơi, thấy có cậu con trai cởi trần học bài. Nhà cửa sơ sài hết sức. Không có bàn tay đàn bà. Khi tôi hỏi “chị ấy” thì được biết vẫn còn công tác ở tỉnh ngoài TPHCM. Có thể thấy rõ đời sống của anh cũng vất vả, không có sự ổn thỏa thường tình… Tôi chơi với anh một lúc rồi về.
Nhưng chuyến đi ấy bắc cầu cho chuyến đi sau. Trần Quốc Toàn bảo tôi: “Báo Người lao động” thi truyện ngắn chủ đề “Chân dung người lao động”, Hưng đang trực tiếp làm ở nhà máy, nên viết cái gì đó”
Trần Quốc Toàn nói thế, tôi nghe rồi quên đi. Về Hải Phòng, công việc bận bịu. Dạo đó tôi làm Phó quản đốc Phân xưởng Thủy tinh của Nhà máy Thủy tinh. Phân xưởng hơn 200 công nhân, một ngày ra lò gần 25 tấn sản phẩm. Đó là phân xưởng chính, quả tim của Nhà máy. Các phân xưởng khác chỉ là phục vụ (cơ khí, nhiên liệu, nguyên liệu…). Bẵng đi khá lâu, một hôm anh Toàn gọi điện giục gửi truyện. Tôi buông máy nghĩ: Mình đã hứa, hứa với ai thì thôi, chứ hứa với anh ấy thì phải làm, thôi thì đánh liều viết vậy. Viết gì? Viết chính về cuộc đời, cuộc tình của một người thợ thổi. Viết như là chỉ làm tròn lời hứa với anh Trần Quốc Toàn. Nhưng sau đó truyện của tôi được giải nhất. Hồi đó, một giải văn chương 15 triệu đồng là lớn lắm. Đô la có 8.000 đồng/USD. Vàng thì 400.000đ/chỉ. Khi Trần Quốc Toàn báo tin, tôi thấy ngượng, vì nghĩ mình viết lách vớ vẩn sao lại được nhất, nên bảo anh: “Anh có tác động gì không?”. Vì câu ấy, tôi đến bây giờ vẫn ngượng với anh. Bởi vì lúc đó tôi chưa hoàn toàn hiểu con người Nhà thơ, nhà giáo Trần Quốc Toàn. Anh bảo tôi: “Không có chiếu cố gì cả. Rồi Hưng sẽ thấy và tin tưởng là có những việc chân chính”.
Kỳ thi ấy, Ban giám khảo có các nhà văn Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, Lê Đình Kỵ, Vu Gia… Cho đến nay, đọc lại những truyện được giải, gặp nhà văn Vu Gia, nhà văn Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng, tôi càng thấy trân trọng Trần Quốc Toàn. Vào thời điểm tôi chập chững viết văn, Trần Quốc Toàn đã truyền cho tôi một niềm tin mạnh mẽ vào cuộc sống, tin ở con người, sống vì tình người đàng hoàng, đĩnh đạc. Anh chỉ có việc tìm kiếm bài vở giúp “bên ấy”. Một cuộc thi không có giải nhất xứng đáng thì không thể coi là thành công được. Anh chỉ làm cái việc đó thôi.
Sau này, tôi đọc thơ anh, mới hiểu Trần Quốc Toàn là một người Hà Nội yêu Hà Nội hơn ai hết. Cuốn sách những bài học sư phạm của anh nói những chuyện bình thường, với giọng văn nhẹ nhàng, thủ thỉ, mà thấm thía. Đọc văn anh, thấy rõ chất văn hóa thanh lịch, thâm trầm của một người Hà thành, cho dù anh ở phương Nam. Ở văn anh, có chút gì đó giống với hơi văn của những người con yêu “thương nhớ đất Thăng Long”, như Vũ Bằng chẳng hạn… Dù cho tôi có đọc bao nhiêu bài thơ anh, tôi vẫn cứ tưởng tượng ra anh là một nhà giáo mô phạm, một người thày hơn là thi sĩ, một tâm hồn Hà Nội trong vóc dáng phong trần của người đàn ông lang bạt vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Rồi có mấy lần tôi qua lại TPHCM, đến tòa soạn gặp anh, lúc đó chuyện văn chương đã vãn. Có lẽ anh thấy tôi nhanh chóng quá trở thành một tên nhà báo thì có điều đáng chán. Anh nói: “Cuộc sống báo chí giúp nhiều cho người làm văn. Nhưng hãy coi chừng…” Rồi đến khi gặp anh ở Hà Nội khoảng năm 2005, nghe tôi về làm báo điện tử, Trần Quốc Toàn nói: “Cậu vướng vào sự vụ báo chí, hay là làm quan báo là làm chết văn rồi”. Quả đó là một lời tiên tri ngắn gọn và chính xác. May mà tôi rời xa chốn trường văn trận bút ấy sớm.
Nếu không vướng vào văn chương, thơ phú, thì Trần Quốc Toàn là một nhà giáo mô phạm, nhưng dù có dấn thân vào văn thơ, anh vẫn là một người thày. Mảng thơ anh viết cho thiếu nhi quả là sự lựa chọn chân xác, nó là cái tạng mạch của tâm hồn anh, xuất phát là thày, và mãi mãi yêu quý những con người học trò nhỏ bé. Bản chất “hối nhân bất quyện”, dạy người không mỏi, khi cất lên tiếng thơ khiến người ta rung cảm, quên câu chữ mà nhớ đến hồn người. Có lẽ, việc viết văn thơ cho thiếu nhi, với anh là vẫn tiếp tục nghề sư phạm, nhưng với một hình thức khác.
Với Trần Quốc Toàn, tôi mãi mãi nhớ anh như một trong những người thày đầu tiên. Anh không chỉ dạy tôi nửa chữ hay một chữ, anh đã là một người thày thực sự, vô tình tác động đến một trong những lựa chọn có tính khắc nghiệt nhất của tôi, đó là dấn bước viết văn. Bài giảng của anh với tôi là bằng nhân cách và tâm hồn anh. Bài thực hành của anh là cuộc đời thơ văn và báo chí của anh. Tôi đã từng nhìn làng văn qua một nhân vật là anh và tin tưởng ở lựa chọn của mình. Làng văn có nhiều tai tiếng, có đen bạc và vất vả, nhưng bù lại lại có những con nguời chân chính, có những tâm hồn thấm đẫm tình người… Cho đến nay, tôi vẫn muốn tin điều đó…
- Hoàng Thế Sinh hoang dã cùng Yên Bái (12/05/2013 | 08:43:00)
- Nếu không vướng vào văn- Nhà thơ Nguyễn Hữu Hà (02/12/2012 | 01:03:00)
- Nếu không vướng vào văn- Nhà văn Đào Quang Thép (11/10/2011 | 12:05:00)
- Nếu không vướng vào văn- Nhà văn Hà Phạm Phú (17/03/2011 | 11:30:00)
- Nhà thơ Đỗ Trung Lai- Thi sĩ hát thơ (10/10/2011 | 11:28:00)
- Nhà văn Tô Đức Chiêu- Bạn vong niên (10/10/2011 | 11:36:00)









