Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
nguyen thi cam tu

Bình Luận của nguyen thi cam tu

cac ban oi cho minh y kien nhe. vay tom lai ho quy ly duoc xem la anh hung hay gian hung
ngo panbin

Bình Luận của ngo panbin

Khong nen binh luan danh gia cac nhan vat LSU mot cach thieu cong bang. Troi sinh ra kg ai hoan hao. trong cuoc song ban muon lam viec that hoan hao, nhung co bao gio dc kg ??? vi vay lanh dao mot dat nuoc khi hanh dong trong cong viec, cung nhu trong cuoc song doi thuong,co gi do kg hoan toan tot dep,co gi do khiem khuyet, ta cung nen luong thu ma bo qua cho ho, mien sao cai sai kg qua tram trong,cai lam duoc cho dantoc datnuoc de den hom nay chung ta va lich su thay dung dan co ich la qua tot va can ton vinh cong lao do, Cac ban co khi nao lam lanhdao va dung truoc ap luc that su lon chua ??? khi do kho tam lam ban oi !!!
Vay nen toi khuyen cac ban can co tam long bao dung hon voi nhung ai da lam tot, co loi cho datnuoc va dantoc vietnam, Du ho khac ching kien khac quan diem chinh tri voi ban, nhung chung ta la mot me auco sinh tram trung, va bo coi viet nam neu co mat vao tay ke nuoc ngoai ban chac se that su dau long. Con ben CSan hay QGia thi suy cho cung chua phai qua toi te, truoc het la cham dut chien tranh som di doi voi dong nghia su giet choc nhau giua nguoi vnam voi nhau kg con,dat nuoc ven toan mot moi, dan bot lam than kho cuc,Phia ban va phia toi, tat ca la conrongchautien,
Toi kg quan trong cai ten, CN CSan, CN MACLENIN hay chu nghia nao nao di nua, nhung dem lai dieu tot cho dongbao datnuoc vnam la dc, CN nao cung vay neu kg dclongdan, ban kg can thucday kg can dautranh ma tu no cung sup do va dongbao trong nuoc se lam viec do,
Phan Văn Hoàng

Bình Luận của Phan Văn Hoàng

Xin góp hai ý :
1- Tên tờ báo là NÔNG CỔ MÍN ĐÀM (nghĩa : uống trà nói chuyên làm nông và buôn bán). Không phải MÍM ĐÀM.
MÍNH là trà non. Cụ Huỳnh Thúc Kháng có bút hiệu MÍNH VIÊN (vườn trà non)
Người Nam Bộ phát âm -IN thành -INH, nên viết MÍNH thành MÍN.
2- Người ĐỒNG BANG là người cùng chung một nước.
Do người Nam Bộ phát âm lẫn lộn -AN và -ANG nén viết sai đồng BANG thành đồng BAN.
PVH
Truyện Ngắn
Bến sông trăng

Bến sông trăng

-Con Rô dậy chưa?

Tiếng bà cô cười lảnh lót.
Trong giây đầu tiên mở mắt, Hà nhìn thấy gương mặt bố trẻ trung, nữ tính, Hà bất giác đưa tay lên dụi mắt. Cử chỉ ấy của thuở còn là con Rô, cô cố bỏ từ khi trở thành sinh viên, bọn con gái truyền nhau điều răn làm thế sẽ gây toét mắt, rụng lông mi. Nhưng ngay lập tức, Hà thấy đó không phải là bố, mà là cô Huyền. Ai cũng bảo cô Huyền giống bố Hà. Giống cả cái cười, tiếng cười, giọng nói.

Hà uốn éo trở dậy, nói:

-Cứ về đây là cháu lại dậy muộn, hóa ra bao nhiêu năm thành phố không gột rửa được chân quê, cô nhỉ. Hay là tại đồng đất và thời tiết nhà mình?

-Quê gì cô, quê nhà tôi không có rể Tây?- Cô Huyền mắng với giọng thánh thót, không ra giận.-Cô, cháu đã nói nó chỉ là bạn bè thôi.-Bin dậy rồi, đã chạy hùng hục suốt bờ sông. -Cô chỉ ra ngoài cửa.Huyền bật dậy. Bà cô nói, cô mới sực tỉnh hoàn toàn. Lần này Hà về quê, như mọi năm cô thường về nhà bà cô nghỉ hè. Một vài ngày, có năm một vài tuần. Nhưng năm nay có khác, Hà về muộn hơn, mùa hè đã qua. Và, điều đặc biệt nhất là lần này Hà dẫn về theo một người khách. Đó là một anh chàng. Anh chàng cao cao mắt nâu, tóc nâu, nói tiếng Việt ngọng nghịu. Hà giới thiệu với cô đó là Biu Ma-thiêu, cứ gọi đơn giản là Bin, kỹ sư nông học.Bin đặc biệt thích thú cảnh làng quê Hà. Trời chớm thu, qua một tuần mưa rả rích. Sông vừa rút nước, bờ bãi như mới được rửa, phô ra màu tươi mới. Hai người lên khỏi bến đò, đi bộ khoảng gần một cây số trên con đê bao rồi mới rẽ vào cổng làng. Không chỉ Bin, mà Hà cũng chăm chú nhìn những vạt bãi vẫn còn phủ nấm bùn tươi nâu sậm. Cô cứ thấy thiêu thiếu một cái gì? Hồi xưa, cữ này, bãi đâu có phẳng phiu sạch tinh tươm như thế này. Chằng chịt trên bề mặt nấm bùn kia là dấu vết của cá lác, của cua cáy, chúng vẽ nên mặt bùn đang se khô dưới nắng một tấm bản đồ tự nhiên kỳ thú. Khi cô đến, chúng chạy rào rạo, có khi còn tung lên những giọt bùn vấy lên gấu quần cô. Giờ đây, cô đứng lặng, nhìn sông, nhìn bờ bãi. Sông vẫn nước rung rinh, nhưng bãi đã yên tĩnh như vạn vật thủy sinh như còn đang ngủ. Đã có cuộc biến thiên hay là tại ký ức bao giờ cũng ấm cúng hơn, vui tươi hơn, hay là bởi vì con người muốn giữ lấy thời gian mà không được.Đoạn sông Khoai chảy qua làng cô bỗng hai bên bãi phình ra rất rộng. Bố cô bảo, các cụ đã chọn khúc sông này để lập nên làng Nành mình. Làng dựa vào sông mà sống. Sông nuôi làng trù phú quanh năm. Đồng đất làng Nành quá nửa là đồng đất bãi, bố cô kể, ngày xưa cụ Chánh Bụt đi lên huyện về, qua bãi bến sông để quên cái gậy gỗ bồ đề chống xuống đất, thế mà hôm sau đi tìm, đã thấy cái gậy mọc lá mầm xanh tươi. Từ đó cụ Chánh Bụt cho dời bến đến chỗ bây giờ, khoanh khúc bãi dài hai bên Đống Bồ Đề làm ruộng bãi nhất đẳng điền, đó là cổ tích huy hoàng của làng Nành. Khi Hà còn bé, cô đã thấy có một doi đất hơi cao hơn trên bãi, có ba bốn cây bồ đề rậm rạp, một mái đền nhỏ khuất trong tán lá thờ cụ Chánh Bụt. Khi nước lên, doi đất ấy trở thành hòn đảo bé tí, còn những cây bồ đề như là mọc từ dưới sông lên.Sáng nay, Hà tìm thấy Bin đang chạy trên đê, rồi lia máy quay ra phía doi đất Đống Bồ Đề. Bây giờ ở đó chỉ còn một cây bồ đề cổ thụ. Bin chỉ ra xa, nói:-Đắp một con đập thì có thể biến bãi này thành một cái hồ nhỏ. Hồ nuôi tôm cá được mà đảo Bồ Đề trở thành rất đẹp, xây một cây cầu, thật là “thủy mạc”, rồi làm các công trình như bể bơi, nhà hàng…

Hà đứng yên lặng nghe Bin nói, nhưng tâm trí của cô để đâu đâu… Bin quay phim cứ quay, cô thấy cũng là hay. Cô sẽ bảo Bin sao cho một cái đĩa làm kỷ niệm…

Mọi người qua lại, Hà đều chào. Cô đi khỏi làng đã lâu rồi, nhưng về làng nề nếp không thể bỏ. Có người quen, có người không quen, nhưng đi trên đê này thì hầu như không có người làng khác, phải chào chứ không thể khác. Bin thích thú chào theo. Người làng được một ông Tây chào lại cũng thích, ai cũng tươi cười vui sướng.

-Định làm gì đấy hả Hà?

-Nghe nói Liên hiệp quốc cho làng ta dự án hả cô?

Mỗi người một câu gọi là chào lại. Tính người làng cô vốn vậy, bộc trực chả để bụng điều gì. Người nói nhiều mà để giữ gìn nhiều điều huyền bí nhất có lẽ chỉ có cô Huyền. Đến nói cô ấy cũng hay lý sự.

Trai làng Nành ngoài cấy cầy thì đánh lưới, còn gái làng Nành thì lại chuyên cua cáy, trai ốc. Bà cô Huyền đã từng bảo:

-Con gì bơi lội tung tăng là của các ông, con gì chui rúc là phần chúng tôi. Phận đàn bà nó vậy.

-Cá mú chỉ ăn vèo một cái là hết. Cua cáy trai ốc mới có vị, mắm miếc nhớ lâu. –Bố cô nói- Gái làng Nành đắt chồng chỉ vì cái vị mắm cáy, đến chú ấy phải ở rể cũng là vì mắm cáy.

Cô Huyền hay cười, lúc nào cũng tươi tắn. Thế mà hôm đưa tang bố Hà, cô ấy khóc nhiều kinh khủng. Cô Huyền đứng lên lại ngã xuống, gào thét mãi đến khi khản đặc cả tiếng. Cuối cùng, sau khi bố đã an phận, Hà quay ra lại phải an ủi bà cô. Hà đã cố bấm lòng, tự bảo mình phải cứng rắn lên, thế mà khi bà cô nấc lên, nói giọng khào khào:

-Anh ơi, anh đi rồi, ai nếm mắm cho em. Ai biết mắm nào ngon, nào dở…

Thì Hà lại khóc òa không kìm được. Chỉ có Hà, đứa con của làng Nành mới thấu hiểu nỗi lòng thật thà đến độ quê kiểng cơm canh mắm muối như thế.

Hà lại như nhìn thấy bà cô mỗi khi “ngả” một lượt mắm là gọi bố Hà sang. Những cái chum đất nhỏ xếp hàng sẵn, miệng chum chỉ vừa lọt cổ tay người lớn. Ông bố Hà đi một lượt. Đầu tiên ông không nếm ngay mà cúi xuống hít hà tận miệng chum, rồi chỉ từng cái chum, bảo bà cô cái nào ngon nhất, cái nào dở nhất. Có khi cô Huyền cầm sẵn viên phấn, đánh số vào từng vai chum. Sau đó, dường như để kiểm tra khứu giác của mình, ông mới dùng đến vị giác. Mỗi chum, ông cầm một chiếc đũa tre chấm xuống, rồi mút nhẹ vào đầu đũa. Chậm rãi, đủng đỉnh, ngâm nga, gật gù… Trông ông thư thái như là quên mọi sự đời, tận hưởng lạc thú gì ghê lắm. Hà không biết bao nhiêu lần khúc khích cười, đều bị bà cô đuổi chạy ra xa. Lạc thú gì? Chỉ là vị mắm nồng nồng.

Bà cô hỏi:

-Bác thấy thế nào?

-Cái này được- Bố Hà chỉ vào một chum-Nhất hạng thì nó phải thế. Tê tê đầu lưỡi, lắng nghe thấy cả vị ngọt.

Hà chạy ngay đến, chấm một tay vào bát mắm bà cô vừa múc ra. Tê đâu mà tê, ngọt đâu mà ngọt?

-Em cũng đoán thế- cô Huyền nói.

-Cô cứ làm theo cách của tôi, nhờ ruồi tìm hộ, công hiệu lắm.

-Em có bác… Em không làm theo bác được.- Cô Huyền lắc đầu quầy quậy.

Làng Nành làm mắm cáy cả làng, nhưng bao giờ mắm cô Huyền cũng ngon nhất. Người ta làm mắm ăn quanh năm, mang biếu bạn bè, người thân nơi khác, sau này gần đây mới làm để bán. Cán bộ huyện hay xuống tận làng Nành mua mắm đi biếu, toàn lấy mắm của cô Huyền.

Tối qua, Bin ăn rau muống chấm với mắm cáy, cứ gật gật:

-Ngon lắm. Đặc biệt lắm.

Cô Huyền bảo:

-Thịt, sữa nước anh cả thế giới đều ăn. Mắm cáy thì chỉ có làng Nành.

Bin bảo:

-Không, rồi đây thế giới cũng ăn mắm cáy làng Nành chứ. Thế giới hội nhập kinh tế toàn cầu đấy mà. Cũng như cô ăn xúc xích Đức thôi.

Bà cô cười không ra tiếng. Hà biết điệu cười ấy là bà cô chả tin một chút nào.

Bin chợt ngẩng lên, bảo:

-Nhưng cháu chưa nhìn thấy xưởng người ta nuôi cáy?

Lúc này thì bà cô của Hà cười thật sự. Cười sảng khoái. Đang ăn mà bà bỏ bát đứng lên để cười, rồi uống một ngụm nước rau muống luộc. Trước khi uống, cô Huyền còn cẩn thận nhỏ vào đó một tý teo mắm cáy.

Bà Huyền hỏi:

-Anh có muốn làm rể làng Nành không?

-Ô- Bin ngạc nhiên- Nếu ở làng Nành chỉ cần cô hỏi chuyện ấy cho cháu gái, thì cháu đồng ý rồi.

Hà xua tay:

-Đừng tưởng bở, cô ấy nói đùa anh đấy.

-Anh mở trại nuôi cáy thì tôi gả nó cho anh.- Bà Huyền nói, nghiêm trang.

Cô Huyền không cười. Bà chỉ ra hướng sông, nói nhỏ:

-Bãi sông xưa cáy nhiều vô kể. Một cái thuổng trên tay, một cái giỏ bên hông, bao nhiêu đời nay, việc bắt cáy của đàn bà con gái làng Nành cũng đại để như mọi nơi ra vườn hái rau dại vậy thôi. Thế mà bây giờ, đến câu cáy như hồi cách đây mấy năm cháu về nhìn thấy đấy, cũng không còn mấy người. Người khôn người sinh sôi, cáy đi đâu cả…

 

 

**

Chiều hạ tuần, một góc trời vàng óng, không khí cũng màu vàng ươm, từ ban công tầng ba nhà cô Huyền có thể nhìn thấy sông như một tấm gương lấp lánh màu đồng. Gió lồng lộng. Gió mang mùi hoai hoai của rơm rạ mốc sau mưa. Bin đang lắng nghe chuyện của Hà.

-Hồi xưa, tầm chiều này em hay ngồi ở cửa, đón các chị, các cô đi đào cáy về qua. Các bà ấy tranh nhau cho em con cáy to nhất, gọi là cáy cụ, mai gần bằng mai cua, còng đỏ tía. Các bà ấy bảo: Gặp con Rô là y như may mắn. Bố lấy sợi chỉ, buộc con cáy cho em cầm dắt con cáy cụ đi, giả vờ làm người chăn trâu. Chiều nào cũng chăn trâu như thế…

-Anh nghĩ là em rất thích thú…

-Khi người lớn không gọi em là con Rô, thì em cũng không chơi chăn trâu bằng cáy nữa, mà chăn trâu thật. Nhưng lúc đó thì làm cáy, giã cáy cho cô Huyền làm mắm.

-Phải giã ra à?

-Nhiều cách làm, có khi giã, có khi không. Phải cô Huyền mới biết. Cũng vất vả. Phải xé mai cáy ra, bóc yếm đi. Khều lấy gạch ở mai nấu canh, như anh ăn canh hôm qua. Nhưng vui sướng nhất là thỉnh thoảng bất ngờ gặp được con cáy ôm trứng. Trứng cáy cho vào cái trôn bát, làm thành bánh, phơi khô, coi như của hiếm để dành. Ôi, hương vị của nó thì tuyệt trần, không thể tả được đâu.

-Anh nhìn vào mắt em cũng biết tuyệt vời rồi.

-Anh khéo tán… Nhưng có lẽ thời người bắt cáy đào bằng thuổng đã qua rồi. Hồi cách đây mấy năm, em mới tốt nghiệp đại học, về nghỉ hè dài với cô, em đã thấy cảnh người ta câu cáy. Không thể tả được em choáng váng đến thế nào…

Hôm ấy, Hà lên phơi quần áo trên sân thượng, bất ngờ nhìn thấy những hình thù lạ lẫm ở bãi sông. Những hình người, mà dường như là tượng. Bởi vì đó là những dáng người đứng hoàn toàn bất động. Cô căng mắt nhìn. Cuối cùng cũng thấy một bên tay có cử động. Rồi rất lâu sau cũng có người chuyển động ra chỗ khác. Đó là người chứ đúng là không phải tượng. Hà gọi cô Huyền:

-Cô ơi, họ làm gì đấy?

-ồi, câu cáy đấy…

-Câu cáy?

-Chứ sao. –Cô Huyền nói giọng xa xôi- Đời cô chỉ thấy người ta đào cáy, câu cá. Bây giờ thì đấy, câu cáy. Bởi vì bây giờ cáy ít, lại không ở mà như ngày xưa, cáy cũng khôn hơn hay sao ấy, đào cả buổi chả bắt được mấy con.

Hà đã ra đến gần nơi những người câu cáy. Có nhiều người không phải ở làng Nành. Họ đứng gần như bất động. Tay phải cầm cái que như cầm cái đũa dài và chỉ có cổ tay lắc nhẹ. Lắc một cái rất nhẹ, lưỡi câu có con cáy ôm mồi đã vung lên rơi trúng vào vị trí tay trái đón lấy, rồi cũng ngoáy nhẹ cổ tay trái, con cáy đã tọt vào cái giỏ đeo bên hông rồi. Có nhiều khi con cáy rơi ra, thì cũng rơi đúng tầm cái miệng giỏ. Một thao tác điệu nghệ, không thừa, không thiếu. Hà cảm thấy một sự thán phục những nguời câu cáy mà lòng buồn rười rượi. Bờ bãi bắt đầu đang hiếm cua cáy tôm cá. Con người mưu sinh phải đến độ dụng công thế ư? Hôm ấy, cô đã ngồi đăm đắm nhìn rasông, tiếc những chiều êm ả có những đám người đào cáy mà thân thiện với đồng đất bãi…

Bin lắng nghe. Đôi mắt ưu tư nói với cô rằng anh ta thấu hiểu. Anh ta đến từ một thế giới khác, có cách lý giải mọi sự khác với Hà, nói tiếng nói diễn đạt khác, sự đồng cảm chỉ tìm thấy trong ánh mắt. Cũng như việc hôm qua cô Huyền ngả mắm…

Những cái chum nhỏ đựng mắm đậy rất kín, nhưng bao giờ gần đến ngày “ngả” mắm, cô Huyền cũng mở ra một lượt, gọi là “thăm”. Cô Huyền nói:

-Trước kia, còn bố cháu, cô không phải làm thế này, cứ ủ kín một mạch…- Bà cô thừ ra, chắc nhớ đến bố Huyền- Thôi ra ngoài kia chơi.

Cô không cho mọi người xem cô làm thế nào. Lúi húi một mình làm mọi việc, rồi vần từng chum ra để vào chỗ thoáng nhất.

Hà còn nhớ, lần đầu tiên cô nhìn thấy những sinh vật trắng trắng như hạt tấm động cựa trên bề mặt tấm ni lon bao đậy làm nắp chum. Cô rùng mình. Đó là những con dòi mà cô hay nhìn thấy ở hố xí chứ không ở đâu khác. Cô kêu toáng lên: “ối cô ơi”. Nhìn sang mấy cổ chum khác, có chum có những con dòi to, có chum lại có con dòi nhỏ, có chum nhiều, có chum ít, có chum sạch tinh tươm.

Bà cô chạy đến, mặt nghiêm lại:

-Sao cháu vào đấy làm gì?

-Cháu xem…

-Mặc kệ cô. Đi ra.

Nhưng Hà đã nhìn thấy, thì cô không thể đi ra, quyết không ra. Cô Hà lặng lẽ xem xét từng cái chum, quan sát rất cẩn thận, rồi cầm viên phấn đánh số vào từng chum. Cô không có vẻ gì là bất ngờ hay kinh hãi. Rồi sau đó, cô lấy cái chổi nhỏ quét sạch sẽ cẩn thận từng cái cổ chum. Bà cô múc nước mưa, thận trọng rửa sạch sẽ bên ngoài chum, từ vai lên đến miệng chum. Rồi, bà nhẹ nhàng bóc từng lớp bao nút, khẽ mở nắp ra.

-Cháu xem có gì không?- Bà chỉ vào miệng chum, nói với Hà.

Hà cúi xuống. Hình ảnh những con dòi lúc nãy vẫn khiến Hà cảnh giác. Sực lên một hương thơm nồng nồng của vị mắm cáy quen thuộc. Một thứ hương tinh khiết không thể nào chịu được, khiến cho tuyến nước bọt và tuyến dịch vị phải làm việc ngay lập tức. Cô thấy miệng mình dính dấp, ruột gan cồn cào muốn ăn ngay. Hà quan sát cẩn thận phía bên trong miệng chum. Sạch tinh tươm. Cô chỉ thấy màu nhung mịn của da sứ, của hơi nước báo hiệu rằng đã phủ một lớp màng mỏng ẩm từ rất nhiều ngày, từ ngày ướp cáy.

Hà đinh ninh rằng đợt ngả mắm ấy chỉ là một sự cố, nhưng lần sau, lần sau nữa, những con dòi vẫn cứ xuất hiện không tránh khỏi. Hà quen dần. Quen dần cảm giác khi nhìn thấy những sinh vật trắng tinh li ti ấy xuất hiện. Quen dần với cung cách xem xét, lọc lựa đánh số những cái chum nhỏ. Bởi vì mắm cáy cô Huyền vẫn cứ ngon nhất làng Nành. Hà chỉ lờ mờ nghi ngờ rằng hình như cô Huyền cố tình làm thế. Bà cô này tuy hay lý sự, nhưng cũng là một bà già nông thôn, mê tín từ chân tóc. Rụng tóc, nhện sa, máy mắt, cáy ít cáy nhiều… đều cho là những điềm trời.

Hôm qua, cô Huyền bảo:

-Mai cô ngả mắm…

Hà khúc khích bảo:

-Vẫn có những con trăng trắng ấy ở bên ngoài. Cháu chịu cô đấy, không thể chịu được.

-Nông thôn phân gio tứ tung, làm sao thoát được–Bà cô cười

-Nhưng mọi nhà làm có thế đâu. Giữ vệ sinh phải là số một.

-Cô cẩn thận lắm chứ. Cháu thấy đấy, mắm nhà cô cả cán bộ tỉnh về đo đạc tiêu chuẩn nọ kia vẫn cứ nhất làng.

Bin nghe cô cháu nói chuyện với nhau rất chăm chú nhưng không nói gì cả.

Khi bà cô ngả mắm, Hà cố tình rủ Bin đi chơi, nhưng Bin lắc đầu:

-Anh xem cô cho ra sản phẩm mới.

-Sản phẩm nào?- Hà trố mắt ngạc nhiên.

-Hôm qua cô Huyền nói cho anh quy trình làm mắm rồi mà, hôm nay cô bắt đầu…

-Ngả mắm- Hà tiếp lời.

-Đúng rồi- Bin gật.

-Anh đừng xem, việc của cô, rồi trưa về ăn mắm mới là được.

Bin cười, tỏ ý không bằng lòng. Nói mãi Bin vẫn cương quyết đòi ở nhà xem cô Huyền ngả mắm. Hà đành ở lại cùng Bin.

Trong thâm tâm Hà dấy lên niềm áy náy không yên. Khi cô Huyền bắt đầu xem xét những cái bao nắp, trên đó xuất hiện những sinh vật nhỏ tí, màu trắng, nhìn kỹ mới thấy chúng đang cử động, thì Hà vội nói với Bin:

-Trông thế thôi, chúng chỉ có ở bên ngoài thôi mà.

Bin giơ tay ra hiệu đã nghe, khiến cho Hà không dám nói gì nữa. Anh ta cũng cúi xuống xem xét, quan sát rất chăm chú. Một người đi du lịch không có thái độ ấy. Hẳn là máu chuyên môn nông học đang bốc lên trong cái anh chàng kỹ sư Tây này chăng?

Bin quan sát cô Huyền đánh số chum, rồi chăm chăm xem cô Huyền làm sạch bên ngoài từng cái chum. Bàn tay cô tỷ mẩn dùng chổi lông mềm quét từng nếp gấp của bọc ni lông, rồi khẽ khàng dùng một vòi nước, tia rửa toàn bộ phần bên ngoài. Điều này mới đây, hồi xưa cô phải múc nước bằng gáo dừa, bây giờ cô chạy bơm xè xè, ống cao su nhỏ, chùm tia nước xối mạnh…

Đến khi cô Huyền mở từng chum, cô dùng cái gáo nhỏ bằng ống nứa, khẽ nhúng xuống chum mắm, ngoáy nhẹ rồi nhấc lên. Bà cô hít hà hơi mắm, rồi mới dùng thìa nhỏ múc một tý tẹo, nếm. Bà đưa lại cái gáo nứa cho Bin, Bin cũng làm y như thế. Anh ta nhấm nháp, nếm láp trang trọng, cẩn thận, lắng nghe như là tìm kiếm âm thanh nào từ trong cái gáo mắm ấy.

-Anh có thấy chúng khác nhau không?- Cô Huyền nói rồi chỉ từng chum một.

-Có thấy. Cái này nhất- Bin chỉ vào cái chum đánh số 1, rồi chỉ vào một chum khác- cái kia cuối.

-Khác thế nào?

-Chỉ biết thế, không nói được rõ ạ…

Cô Huyền cười tươi vui:

-Anh thật thà đấy. Anh làm người làng Nành được.

Hai người nói chuyện với nhau, coi như bỏ mặc Hà. Lúc ấy, Hà im lặng bỏ lên nhà trên…

Bây giờ, Bin mới hào hứng giảng giải cho Hà:

-Trong phòng thí nghiệm của công ty anh ở Đức, người ta đã nuôi hàng chục loài ruồi, thí nghiệm khả năng chữa trị vết thương của nó. Nhưng một đặc tính đặc biệt là chúng có thể phân biệt mùi vị ở mức rất nhỏ. Hôm nay anh ngạc nhiên thú vị là thấy cô Huyền dùng chúng để phân loại từng chum mắm…

-Thật ư?- Hà tròn xoe mắt.- Em cứ thắc mắc tại sao cô Huyền làm thế.

-Căn cứ vào mật độ hóa trùng mà biết ruồi thích nhiều hay ít mắm ở chum nào… Đó phải là sự kết hợp kinh nghiệm và… -Bin ngắc ngứ tìm từ.

-Trình độ?- Hà nhắc.

-Không. Linh cảm. Đó là một linh cảm đặc biệt.

-Tiếng Việt của Bin khá nhiều rồi đấy.

-Phải sống như những dịp này, tiếng Việt của anh chắc là sẽ khá- Bin cười.

Lúc này trăng đã lên. Trăng trung tuần tỏa sáng trong vắt. Không khí mơ hồ, không gian như tự giãn nở, vạn vật bỗng chốc âm u, mờ tỏ. Hai người đi trên đường đê hướng đến bến sông. Chỗ này có lúc ban ngày Bin đã quay vi đê ô, hình dung một dự án đắp đập làm hồ… Bin bỗng nói:

-Mình nghĩ kỹ rồi, bãi sông này sao không thể khôi phục để con cáy sinh sôi?

-Như hồi xưa?

-Đúng vậy.


Chưa có bình luận nào !
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : tm57rt
Bài viết khác