Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Duy Minh

Bình Luận của Duy Minh

Nhiều lần đọc những bài viết của nhà văn, biết bác người xứ Đông cháu cũng cảm thấy đồng cảm như người đồng hương. Liệu có một ngày nào đó, Hải Dương và Hải Phòng có thể nhập lại làm một, cái tên Hải Đông có lẽ thích hợp hơn cả. Thật buồn là đến giờ nhiều người ở VN (bao gồm không ít người có uy tín trong các ngành văn hóa, giáo dục, sử học) và cả những người Việt sống ở hải ngoại vẫn cho rằng nhà Mạc ra đời là một sai lầm của lịch sử VN và Mạc Đăng Dung cắt đất cho ngoại bang! Hành động hạ mình có vẻ thái quá của Thái thượng hoàng nhà Mạc (lúc này ông không còn làm vua nhưng nhiều người không quan tâm chi tiết lịch sử này) sau này vua nhà Lê trung hưng lặp lại thì lại được sử quan triều Lê-Trịnh cho qua! Giờ đang sống trên mảnh đất Nam bộ vốn là đất cũ của Chân Lạp, cháu tự hỏi không có thế kỷ 16 với những biến động lớn thì liệu dân Bắc Hà chúng ta chỉ có mỗi cái chốn Hà Thành để tranh giành quyền cai trị lẫn nhau hết đời này qua đời khác thôi sao?
Nguyễn Việt Long

Bình Luận của Nguyễn Việt Long

Chi tiết "lãnh tụ cực tả của QDĐ Lão Trung Kha" viết sai tên. Chả có ai là Lão Trung Kha cả, đó là Liêu Trọng Khải.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Tôi không rành về Lào cho lắm, nên không hiểu chế độ hiện nay như thế nào? Nhiều khi thấy thế giới phân loại các quốc gia cộng sản gồm 5 nước thì có Lào. Nhưng đọc một văn bản của Cộng đồng Châu Âu xếp loại 4 nước cộng sản trên thế giới thì không có Lào. Nghe nói, họ còn bảo VN sang mà đưa tượng ông cụ về đi.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Truyện Ngắn
Đi chợ hoa đêm

Gà gáy te te, bỗng Thoan tỉnh giấc. Canh mấy? Quờ tay sang bên, Thoan động phải nửa gường trống toang. Rồi Thoan không sao ngủ được. “Con” này đi đâu nhỉ? Thoan cứ trằn trọc, muốn ngủ lại không ngủ được. “Sao lâu thế không biết? Mấy lần chui ra khỏi chăn, Thoan lại ập vào. Rét. Rét quá. Ngoài trời gió u u. Nghĩ đến vợ thấy thấp thỏm mà bực. Cũng nên xem “nó” làm gì chứ? Nếu cảm kiếc thì khốn. Mẹ kiếp, làm mất cả giấc của ông.

Thoan muốn cáu um lên, nhưng còn lại một mình trong nhà, nói ra thì mình nghe ích gì nên thôi. Nhìn sang con bé Hải, vẫn thấy nó ngủ ngon lành. Không thấy vợ đâu, Thoan tìm loanh quanh trong nhà ngoài sân, rồi bật đèn, mới hơn ba giờ sáng. Bụng Thoan phân vân lắm, có nên tìm nữa không? Đi đâu không bảo gì ông thì biết đâu mà tìm. Rồi về ông cho biết tay. Thoan hậm hực lại chui vào chăn. Nhưng nằm lúc lâu vẫn thấy lạnh. Đúng là có vợ nằm bên, tự nhiên cứ ấm sực lên. Đàn bà lạ thế, sờ vào da thịt mát lạnh mà hơi ấm cứ ở đâu lan toả, đốt cháy cả thằng đàn ông. Bây giờ Thoan vẫn cứ mắt chong chong, bực quá.

Thoan nghĩ vẩn vơ, nó có thể đi đâu nhỉ. Hay là… Có khối chuyện đang đêm, chồng ngủ say tít mù, vợ bò dậy đi với người tình, nhưng đó là chuyện phim ảnh, chuyện thành phố, chứ vợ Thoan “chân đất mắt toét”, lớn lên ở cái làng này Thoan còn lạ gì. Thoan vẫn biết vợ mình gái một con, tuổi băm nhưng nhìn vẫn màu mỡ lắm, ra đường khối thằng săm soi như cú vọ, muốn ăn tươi nuốt sống. Nhưng vợ Thoan chịu thương chịu khó, quanh quẩn trong làng ngoài xóm chả bao giờ có điều tiếng gì, thương chồng yêu con. Chỉ phải tội Thoan có tính cục, bực lên có động chân động tay, ra điều cái thằng đàn ông trong nhà, nhưng mỗi lần như vậy, vợ Thoan lại “cấm vận” không nói năng, không cho động chạm, đến nỗi lần nào Thoan cũng phải hối hận làm lành. Thà rằng nó khóc lóc hay chửi mắng te tái lên có khi lại dễ chịu, đằng này nó cứ lì lì trơ như đá thì Thoan biết làm sao được.

Thoan nằm đợi vợ, nghĩ vẩn vơ. Thời gian dài khốn nạn, mai rồi biết tay ông… Nhưng lần này sáng mai ra, nhìn thấy vợ, Thoan lại im. Không thể nông nổi sửng cồ lên được, phải tìm cho rõ ngọn nguồn đi đâu, làm gì, với ai. Thoan không hỏi vợ, vợ cũng không nói. Được, cứ để đấy…!

Buồi chiều hôm ấy, thấy con mặc áo mới xí xa xí xớn, Thoan lừ mắt hỏi: “Ai cho?”. Con bé tròn mắt: “Mẹ mua cho con”. A à… Tiền đâu mua? Vợ Thoan điềm tĩnh: “Hàng thùng đấy mà, đáng gì?”. Thoan bắt đầu nóng mắt: “Đua đòi”. Vợ Thoan nói: “Nếu không phải trả nợ cho anh, còn có thể…”. Chát! Thoan giáng cái điếu cày xuống bàn. Khinh ông à? Chỉ một vụ vỡ hụi, Thoan phải bán đổ bán tháo đồ đạc đi trả nợ, rồi Thoan chơi đề… Suýt nữa Thoan trúng mấy vụ hàng trăm triệu nhưng chỉ lệch có một hai đơn vị. Thế mà lại đay lại? Thoan định quát lên cho hả giận, nhưng lại thôi. Mẹ kiếp, cái đêm qua ông còn đang nuốt giận đây, nóng bực lên hỏng bét mọi chuyện.

Bữa cơm dọn ra thịnh soạn. Lâu lắm rồi vợ Thoan mới tiêu pha hoang thế này. Lại có cả rượu. A, hay là nó nịnh chồng đấy? Xem kìa, miệng nói ngon nói ngọt… Người ta vẫn bảo, ngoại tình là hay về chiều vợ chiều chồng lắm. Nhưng Thoan vẫn không cưỡng được bữa rượu ngon, đánh liền mấy chén. Rồi lên gường, ngủ quay một mạch đến sáng. Khi tỉnh nhìn ra ngoài đã thấy màu trắng loá phía thềm hắt vào. Thoan ngật ngưỡng dụi mắt ra sau nhà, lại đi ra cửa, lẩm bẩm: “Biết ngay là nó biến”. Lại một đêm nữa vợ Thoan trở dậy đi đâu?

Thoan ra đầu ngõ, gặp ngay ông Thân. Ông này long đong. “Tớ ra phố chuẩn bị cho anh em ngược, chuyến này ký mấy công trình cũng được lắm”. Ông Thân nhận thầu công trình xây dựng, làm anh B mấy phẩy, tập hợp anh em đi xây tứ chiếng như vậy nhiều năm nay. Thoan cũng ở đội ông Thân, nhưng tháng nay bỏ bê công việc nghỉ ở nhà giải quyết hậu quả việc công nợ khốn đốn, lục đục nội bộ, bối rối đối phó với bên ngoài chủ nợ, rồi điều tiếng, rồi hai bên nội ngoại cằn nhằn… Thoan còn bụng dạ nào xây với xiếc. Ông Thân đi rồi, còn ngoái lại bảo: “Chuyến này mày đi không, tao xếp?”. Thoan còn ậm ừ, ông Thân đã lại nói: “Đi đi… Mày để vợ phải lặn lội bán hoa đêm mà chơi được hả?”

Cái gì? Thoan giật mình định hỏi lại, lại thôi. Mặt phừng phừng, Thoan cấm cảu: “Để xem thế nào”. Bán hoa đêm? Chuyện ấy thế nào mà ông Thân nhấm nhẳng nói thế nhỉ? Ông đếch hiểu tôi đang khốn nạn, cũng lại trách cứ? Chưa đâu vào đâu thì lại phải lo lắng chuyện vợ thế này. Bán hoa đêm? Sống lâu mới biết đêm dài, ối đứa hiếu thảo hiền lành, bỗng đâu đổ đốn ra trong một phút. Bán hoa thật thì vất vả lắm, lò mò dậy sớm… Nhưng ông Thân nói thế thì bán hoa gì? Thoan thấy ngứa ngày hết cả người lên.

Đêm… Vợ Thoan dậy, nhẹ nhàng như con mèo, mặc quần áo, dắt xe đạp ra ngoài không tiếng động. Thoan nhẹ nhàng theo sau.

Tiếng động lịch kịch ngoài ngõ. Tiếng con Đào. Con Đào mắt lúng liếng, môi mọng đỏ có tiếng là đĩ rơi đĩ rụng. A chà, đi với cái con hư hỏng này hả. Đào đèo cái gì lù lù đằng sau xe đạp. Giá tiến lên gần hơn tí nữa thì mới rõ, nhưng Thoan không dám vì sợ lộ.

Gió… Thế mới biết là rét. Thoan run cầm cập. Lạnh từ ngoài lạnh vào, lạnh từ trong lạnh ra. Rét mướt thế này, hôm nay ra đây mới biết nhiều người khổ thật. Mà con vợ mình cũng khổ thế chứ… Thoan muốn điên lên, nó làm gì, và mình đang làm gì? Vô lý hết sức. Thoan đạp theo vợ, cố giữ một khoảng cách. Làm thám tử cũng khó chứ không dễ như xây trát.

Chẳng mấy chốc đến làng Đìa. Mấy năm nay làng này sinh sự trồng hoa, nhiều nhà trồng hoa, cây cảnh giàu lên. Ra là vợ mình đi buôn hoa? Đây là nhà lão Tính giàu nhất làng. Vợ Thoan và Đào đi vào nhà ông Tính. Nhưng nghĩ đến thằng con lão Tính đã có thời tán tỉnh vợ Thoan, Thoan lại muốn sôi lên. Thằng này đẹp trai, có ô tô chạy, làm gì đó ở trên phố, nghe nói chơi bời gái mú khiếp lắm. Đi chợ hoa à? Rồi cũng có thể chuyện nọ xọ chuyện kia, tiên sư nó… Khối đứa nhà khó khăn đâm ra phải lòng những thằng giàu có, đồng tiền đâm toạc mọi thứ, thằng ấy mà tán nó thì không biết thế nào. Ông thì bắt được ông cho chúng mày một là chết hai cũng là chết. Thoan bắt đầu thấy máu bốc lên đầu…

Đèn nhà lão Tính thắp sáng trưng ở sân. Lũ chó hộc hộc, Thoan không sao tiếp cận được. Có con dâu lão Tính nữa. Chúng nó xếp hoa vào rổ sề, buộc sau xe đạp. Thôi thế là… Chúng nó mang hoa đi chợ phố… Chợ hoa đêm họp ở đầu ô, Thoan biết nhiều người bán hoa ở đó, ai còn chút hoa ế thì gánh bán rong vào phố, cũng là nhân thể mua bán chút gì… Mấy năm trước, chỉ có những làng gần phố trồng hoa, bây giờ những làng ấy lên phố, ruộng hoa ngày càng di chuyển xa phố, nhưng như thế lại càng gần làng Thoan. Thoan núp kín nhìn vợ và con Đào lai hai xe hoa có những cái rổ to tướng phóng về phía phố, tư nhiên thấy trong lòng trống rỗng, chả còn rét mướt gì nữa, buồn chán toàn thân.

Bây giờ trở về cũng dở, Thoan bèn đạp theo đến chợ hoa. Đấy là lần đầu tiên Thoan có ở chợ lúc trời còn chưa sáng. Người ta mua cất, bán cất. Tiếng người rì rầm như tiếng đất. Hoa âm thầm sẫm sậm dưới ánh đèn. Người bán hối hả, người mua cũng vội vã như sợ trời sáng. Tụi xe ôm ngồi chờ những người mua thì làm việc đưa hoa vào phố, ngáp dài, chuyện vẩn vơ, thấy Thoan đi lòng vòng, một tên bảo: “Ông anh đã đạp xe không, bán đỏ thế?”

Thoan đứng lại tán chuyện với bọn xe ôm, mắt vẫn không rời bóng lưng của vợ thấp thoáng phía xa: “Đỏ gì đâu. Tớ đi chơi thôi”. “Ông anh cứ nói đùa, có ai đi chơi chợ đêm này? A hay ông anh đi mua, mua đi rồi chúng em chở về nhà cho”.

Từng anh xe ôm lần lượt biến đi. Có một bà đến gọi xe ôm, lẩm bẩm: “Hai con bé điên, tôi bảo mua cho nó hết, chúng nó lại tiếc mang vào phố bán rong. Thêm một vài đồng mà vất vả thế không biết”. Thoan hỏi ngu ngơ: “Sao lại cứ phải mang hoa bán rong vào phố?”. Bà gióng giả: “Anh này ở đâu rơi xuống thế? Bán rong thì được đắt hơn một chút, nhưng mà đi rạc cả cẳng ấy chứ?” Anh xe ôm cười toác miệng, nói: “Đấy là các cô ấy muốn phục vụ nhân dân thành phố đấy chứ, sáng ra, mở cửa ra nhìn thấy gánh hoa, ai chả muốn mua, công nhận không. Các cụ bảo mua hoa sáng của những cô tươi giòn là đựoc vía may lắm”. Thoan nhìn lại phía vợ, thấy vợ và Đào đang lên xe, đạp vào thành phố, phía sau rổ hoa chỉ còn một ít hoa. Tên xe ôm nói thế, nhưng khi lục sục buộc hàng vào xe, lại ca cẩm: “Mẹ cha cái kiếp bán hoa, vợ tôi cũng đã từng bán hoa tôi biết. Thức dậy từ sớm rét mướt, bán được còn đỡ, không thì ỉ eo chán lắm. Của hàng hoa, ế con hoa nào coi như chết con ấy. Người ta nói bán hoa có duyên mới được, ông công nhận không”. Thoan hỏi: “Sao bây giờ vợ anh lại thôi?”. “Thôi rồi. Vợ tôi không có duyên bán hàng. Với lại bất đắc dĩ mới phải lặn lội bán hoa đêm, tôi bảo thôi tôi cố một tí còn hơn mụ ấy, mình cái thằng đàn ông, công nhận không, phải cố chứ không nên để đàn bà nó khổ. Ông công nhận không?” Bà mua hoa càu nhàu: “Buộc kỹ kỹ vào, mà không được nát hoa…” “Ôi giời, tôi buộc hoa có nghề, bà đừng lo. Được một bông hoa, bao nhiêu người khổ cho một người sướng. Người khổ là trồng hái, khổ nhất là mang đi bán, bà này đi mua cũng khổ rét mướt đêm hôm, bán câu dầm, người sướng là người mua mang cắm ở nhà, mang tặng nhau… Ông công nhận không?”

Thoan cười. Biết nói gì với anh ta. Thoan chỉ là một anh vô công rỗi nghề lạc đến đây. Anh ta lại vẫn nói thao thao: “Cầu cho giời cứ rét nữa, rét quắt tai quắt dái vào”. Bà bán hoa mắng: “Ơ cái nhà anh này, rét nữa thì chết hết hả, cầu gì không cầu lại cầu rét hại”. Anh này cứ tay làm, miệng nói: “Lũ chúng em có muốn khổ đâu, nhưng mà rét đậm thì hoa hiếm, hoa hiếm thì mới có giá, đi lại lặn lội đêm hôm cũng bõ… Vợ tôi đã bán hoa, tôi biết”. “Phỉ phui cái mồm anh. Tội gì phải khổ thế. Mua đuổi bán đuổi, rét hay ấm cũng thế”. “Đuổi đuổi gì, ấm áp hoa nở đầy trời, người mua như bà chị sướng, nhưng người trồng hoa và người bán hoa đêm có mà mếu, anh công nhận không?”. Lúc đó Thoan mới buông một câu: “Tôi đi xây xa, tôi đã nhìn thấy người ta xây nhà kính to san sát, lúc đó dù có rét quắt dái nhà ông cũng có hoa, nhá”. Thoan đứng nhìn tay xe ôm há hốc mồm ra, rồi quay xe.

Thoan lịch kịch trở về. Đạp thật chậm… Thoan quành xe qua nhà ông Thân. Lại đợi. Đợi chán ông Thân mới về. Thoan bảo ông Thân: “Cho cháu đi ngay chuyến này”. Ông Thân cứ khủng khỉnh, chần chừ chưa nói. Thoan sốt ruột, nói: “Ông có cho cháu đi không thì bảo một câu, cháu đi với đội thằng Tý”. Ông Thân cười: “Mày cứ nóng không đâu. Tao đang nghĩ sao bỗng hôm nay mày lại chăm đột xuất thế thôi” “Hôm qua ông nói đúng, vợ cháu phải đi bán hoa. Cháu không muốn nhưng nó cứ trốn đi, lần này cháu về cháu cấm”. Ông Thân bảo: “Sao lại thế? Nó làm cũng như mày làm”. Thoan thở dài: “Đi lại rét mướt mà lắm chuyện”. Ông Thân nghiêm mặt: “Tao nghĩ mày thương nó rét mướt thì được, còn lắm chuyện là thế nào? Nó cũng nghĩ mày đi làm xa lắm chuyện thì còn ra sao”. “Đàn bà khác. Cháu chỉ đề đóm thế thôi, còn nó…” Ông Thân nhìn tận mặt Thoan, quát: “Mẹ kiếp, tao mà như nó tao bỏ mày lâu rồi, đẹp như nó lấy đâu chả được thằng chồng giàu có tử tế. Không biết lại còn vẽ…” Thoan ngồi câm như bồ thóc.

Khi Thoan về nhà, thì đã lại thấy vợ đang giặt giũ. Gói xôi còn nóng để phần trên bàn. Thoan không nói gì, vợ Thoan bình thản làm. Thoan ăn xôi. Như không hề có chuyện đêm qua. Lát sau, Thoan nói gọn lỏn: “Tôi đi làm với ông Thân đây”. Rồi Thoan bước ra ngõ, còn nghe thấy tiếng vợ nheo nhéo: “Ơ thế không mang thêm áo ấm vào này?”

Chưa có bình luận nào !
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : l90fd4
Bài viết khác