Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Duy Minh

Bình Luận của Duy Minh

Nhiều lần đọc những bài viết của nhà văn, biết bác người xứ Đông cháu cũng cảm thấy đồng cảm như người đồng hương. Liệu có một ngày nào đó, Hải Dương và Hải Phòng có thể nhập lại làm một, cái tên Hải Đông có lẽ thích hợp hơn cả. Thật buồn là đến giờ nhiều người ở VN (bao gồm không ít người có uy tín trong các ngành văn hóa, giáo dục, sử học) và cả những người Việt sống ở hải ngoại vẫn cho rằng nhà Mạc ra đời là một sai lầm của lịch sử VN và Mạc Đăng Dung cắt đất cho ngoại bang! Hành động hạ mình có vẻ thái quá của Thái thượng hoàng nhà Mạc (lúc này ông không còn làm vua nhưng nhiều người không quan tâm chi tiết lịch sử này) sau này vua nhà Lê trung hưng lặp lại thì lại được sử quan triều Lê-Trịnh cho qua! Giờ đang sống trên mảnh đất Nam bộ vốn là đất cũ của Chân Lạp, cháu tự hỏi không có thế kỷ 16 với những biến động lớn thì liệu dân Bắc Hà chúng ta chỉ có mỗi cái chốn Hà Thành để tranh giành quyền cai trị lẫn nhau hết đời này qua đời khác thôi sao?
Nguyễn Việt Long

Bình Luận của Nguyễn Việt Long

Chi tiết "lãnh tụ cực tả của QDĐ Lão Trung Kha" viết sai tên. Chả có ai là Lão Trung Kha cả, đó là Liêu Trọng Khải.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Tôi không rành về Lào cho lắm, nên không hiểu chế độ hiện nay như thế nào? Nhiều khi thấy thế giới phân loại các quốc gia cộng sản gồm 5 nước thì có Lào. Nhưng đọc một văn bản của Cộng đồng Châu Âu xếp loại 4 nước cộng sản trên thế giới thì không có Lào. Nghe nói, họ còn bảo VN sang mà đưa tượng ông cụ về đi.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Truyện Ngắn
Bến xuân

 1

Tiến sĩ Nguyễn Duy Hiên về nước, anh đến tôi hàn huyên một hồi, hỏi lâu rồi cậu có về Thưa không? Tôi thú thực quá lâu rồi chưa có dịp nào về đó. Thế là bao nhiêu năm rồi? Nguyên thời gian anh làm luận án Tiến sĩ rồi giảng dạy ở nước ngoài đã gần chục năm, tôi nào có dịp tính đến chuyện trở lại cái nơi trọ học cấp Ba ngày ấy. Hiên nói:
 
- Mình ở nước ngoài lắm lúc tự thầm trách mình. Hà Nội về Thưa có gần trăm cây số, sao mãi không về. Thời nay, nghỉ cuối tuần có thể đi xa hơn thế để nghỉ ngơi.
 
Thưa là một làng ven sông Luộc đã gói cả tuổi trẻ của chúng tôi những năm đi học cấp Ba, bậc học sau này gọi là trung học phổ thông. Mười sáu tuổi, không còn bé nhưng chưa lớn, nhưng đã xa nhà quấn túm nhau ở một cái lớp học lạ kỳ đó. Trước đó chưa có lớp học nào như thế, sau này cũng chả có lớp nào như vậy. Chúng tôi là một lớp người lớn lên và vào trường đại học giữa những tháng năm đất nước thống nhất. Cái gì cũng thấy tươi mới.
 
Chúng tôi đã đến đầu làng Thưa, nhận ra cái giếng làng. Giờ đây nó chỉ là một cái giếng cạn rêu phong đen xỉn, lòng giếng là một lớp bùn nước đen xì, trên đó nở lác đác đầy hoa súng. Hiên đứng lặng hồi lâu rồi nói:

- Hồi ở bên kia, mình thường nhớ đến cái giếng này, nước trong. - Hiên nhìn quanh- Và cỏ xanh thoáng đãng...
  Bây giờ, nơi này hàng quán giăng kín. Hàng quán đã mọc trên những bãi cỏ xanh ký ức của Hiên.
 
Chúng tôi đi trên con đường vào làng, hai bên là đồng lúa đang lên xanh. Con đường này đã tôn cao lên, rải đá, chứ hồi xưa đi học trời mưa đất thịt trơn nhẫy, chúng tôi ngã oành oạch. Còn đồng lúa này thì lúc đó thực sự chỉ là một đầm nước rất lớn.

Tôi và Hiên ngỡ ngàng trước nhà chủ cũ. Dấu tích cái thành giếng hồi xưa đến ngực chúng tôi, thì giờ đây chỉ là một vòng gạch cao đến kheo chân. Ông Tý chủ nhà già quá, mặt đen xạm, tóc bạc phất phơ lại có màu vàng quạch như khói, nhìn tận mặt chúng tôi hồi lâu, reo lên:
- A, cậu Thành, cậu Hiên. Bao nhiêu năm rồi lại về...
  Chúng tôi bối rối mất mấy phút ban đầu. Bao nhiêu năm rồi lại về? Đó là một câu hỏi hay là một tiếng reo vui? Chuyện trò một lát, bà Nhàn bảo:
 
- Các cậu về đây, dứt khoát là phải ăn với hai bác một bữa cơm. Đừng chối. Bây giờ khá rồi chứ không vất vả như hồi ấy đâu. Nhà quê nó thế đây, cứ là phải ăn cơm đã.
Thật mau mắn, chỉ nửa giờ sau, mâm đã dọn ra, chủ khách nâng chén. Ông Tý bảo:
  - Các cậu năm nay bao nhiêu, ba mấy?
Cả tôi và Hiên cười khoái quá:
- Hai mấy chứ ạ. Bác chắc vẫn nghĩ chúng cháu trẻ con như ngày xưa chứ gì?
Bà Nhàn nói:
- Phải gió nhà ông này, bao nhiêu năm... Các cậu ấy phải ngoài bốn mươi cả rồi.
- ừ nhể- Ông Tý gật gù- Thì nhìn chúng nó trẻ quá. Cơm gạo thủ đô nó khác nhà quê ta. Ngày các cậu ở đây, chúng mình còn ít tuổi hơn các cậu ấy bây giờ. Nhể?
Hiên bảo:

- Giờ nghĩ lại thấy lạ, sao lúc đó cháu thấy các bác tuổi bác đều có vẻ già dặn thế nhỉ?
- Chúng tớ phải lo cuộc sống- Ông Tý nói- Vất vả chứ đâu được như lũ chúng nó bây giờ. Lứa tuổi các cậu ở làng cũng trẻ hơn chúng tớ, chỉ không trẻ bằng các cậu thôi.
Bà Nhàn bảo:
- Ông Tý nhà tôi hay lang thang, đàn đúm bạn bè và uống rượu. Nay đi trông vó bè thuê, mai lại theo chúng bạn đi xây thuê, ngày kia lại đã thấy đi làm lò gạch... Tôi với ông ấy hay khằn khò nhau, ông ấy bảo: "Có đám ruộng bằng cái mẹt, tao ỉa một cái là hết"
Đúng là Thưa ven sông ít ruộng, ông ấy nói thế, mà tôi chưa thấy ông ỉa ở cái đám ruộng ấy bao giờ. Không có con Nhung thì đến chết, nhưng lúc ấy thì nó phải lo nhà nó chứ. Nói xong thế là ông ấy lại hếch mặt lên trời cười, loáng một cái đã thấy đi đâu mất rồi.
Ông Tý ngồi ăn, nghe bà vợ nói vậy, cười khơ khơ vui vẻ:
-Bà ấy kể tội tôi đấy. Tội gì thì tội, đếch bỏ được. Nhể?
Bà Nhàn lại nói rì rầm như nói với chính mình:
- Tôi tên Nhàn, sao số chả ra gì. Con Nhung nó hay bảo tôi mẹ cứ để con làm, bố con đi làm ngoài thế lại hay chứ sao, hợp tác thì... Thằng Nhân thì may sao lại không có tính đàn đúm như bố nó.

- Em Nhân bây giờ làm gì?

- Làm Phó chủ tịch. Khoá này là hai.

 - ái chà...
Bà Nhàn nói:
 - Còn Nhung nó vẫn vậy, hai con đã lớn chưa đứa nào lấy chồng lấy vợ. Hồi các cậu ở đó chỉ mới có con bé Đào, nhỉ? Còn thằng chồng nó hy sinh năm bảy nhăm, sau nó không lấy ai nữa.

Tôi ở nhà, những lúc không phải cắm vào học thì hay chơi với thằng Nhân. Ngoài ra hay tót sang nhà chị Nhung. Chị Nhung lấy chồng cùng làng Thưa, làm nhà cũng cùng làng nhưng khác xóm, ở ngoài đê. Lúc đầu Hiên ở nhà anh Chính chị Nhung, sau anh Chính đi bộ đội thì Hiên chuyển về ở cùng với tôi ở nhà ông bà Tý, còn thằng Nhân bị "điều" ra ở với chị. Mấy ngày đầu, Nhân cứ phụng phịu đòi về, ông bà Tý mắng ầm ĩ lên là mày không thương chị. Đâu được một tháng gì đó, thì đứa em chồng sang ở với chị Nhung, Nhân lại trở về nhà.

Tôi nói:

- Chị Nhung cũng chỉ hơn chúng cháu hai ba tuổi chứ mấy, anh Chính thì hơn bọn cháu gần chục tuổi. Năm ấy chị này mười tám mười chín, đã có con bé Đào một tuổi. Cháu nhớ mãi nhà chị Hiên đơn sơ. Hồi ấy bao nhiêu nhà khác làng mình đều đơn sơ. Vách trát, mái giấy dầu, ở đầu nhà có một cái thuyền nan úp vào chân vách, đó có lẽ là tài sản đáng giá nhất.

 Hiên tiếp chuyện:
- Chị Nhung hay bồng bênh trên cái thuyền ấy vớt rong ở sông Khoai. Tháng chạp rét ngọt, thế mà chị đi chân không, có xà cạp quấn đến đùi, nhưng thường là kéo được thuyền rong lên bờ thì tay chân ướt sũng. Anh Chính lúc đó làm lò gạch, cứ trưa về lại kêu ca: "Đã bảo để đó anh đi lấy cho, em cứ hay tranh làm". Thế mà bà chị cười rất tươi: "Vâng, nhưng làm lúc nào. Anh giống bố thật. Nhưng thôi cũng được câu nói".


Bà Nhàn bất chợt cúi xuống, mắt chớp chớp, nói nghẹn ngào:


- Giờ chả còn sông Khoai nữa. Thằng Chính mà còn con Nhung sao khổ như giờ...

Không khí có vẻ trầm, ông Tý hô lên:
 - Hầy, cuộc đời biến đổi, đến sông Khoai còn phăng teo, nhể? Nào uống, hôm nay tao vui quá. Mai tao kể khắp làng là chúng mày về thăm. Tý nữa tao dẫn sang nhà chúng nó chơi.

Nói rồi ông Tý tợp một hớp, cười ha há:

   - A mà cậu Hiên có muốn gặp con Thắm không?
   - ối... - Hiên kêu lên như bị bắn trúng.
  
- Thắm nào nhỉ? - Bà Nhàn ngẩng lên hỏi- Có phải Thắm đẹp đẹp nhà Đỏ xay xát?
  
- Đấy đấy- Ông Tý reo lên
  
- Chứ không phải Thắm nhà Hùng?

- Chứ gì? Hồi ấy các cậu này hay ra quán nước bà Đỏ lắm. Con Thắm cũng vào nhà mình luôn luôn. Có lần nó đến không thấy chúng mày ở nhà, hỏi tao có mái chèo ở nhà không. Tao chả biết tỏng. Nhìn thấy thuyền không ở nhà, hỏi mái chèo làm gì. Lúc sau khiêng thuyền về, tao tính bảo thằng Nhân mang mái chèo sang cho nhà nó, nhưng nghĩ lại thôi không nên trêu con trẻ. Ha ha...

Hiên nhìn tôi, nháy mắt, rồi quay sang nói với ông Tý:
  
- Nó sang gặp cậu Thành à?
  
Tôi chưa kịp phản ứng, thì ông Tý nói:
 - Gặp mày đấy. Tao đoán không sai.
  
Bà Nhàn cười, nói rất hiền từ:

- Có lẽ đúng. Tôi thấy cậu Thành hiền, chỉ cắm cúi học, còn cậu Hiên láu cá nhanh nhẹn hơn, mà lại hay đi chơi với thằng Nhân hơn.
  
Tôi bảo ông bà Tý:
  
- Thế mà kết cục bây giờ anh Hiên lại là Tiến sĩ rồi, còn cháu thì chỉ là anh kỹ sư quèn thôi. Ngu nên mới học nhiều, chả còn thời gian đâu mà chơi. Anh này học ít được nhiều, được cả con gái yêu.
  
Hiên mặt đỏ bừng bảo:
  
- Yêu theo nghĩa bây giờ cũng chẳng phải. Đại khái quý mến nhau. Nó hay hỏi bài vở mình. Mình cũng thích gặp nó. Có hẹn nhau gặp nhau vài lần ở bãi ngô, cầm tay nhau thôi đã run rồi. Rồi cứ nhìn thấy nhau là thầm liếc nhau thế thôi. Hồi ấy sợ người lớn biết chứ.
 
Bà Nhàn bảo:
  
-Quái lạ, sao tôi vẫn chưa nghĩ ra, có phải là cái Thắm nhà Đỏ không? Nhà Đỏ mãi sau này mới làm xay xát.
   Ông Tý gật gù:
  
- Bà nói đúng rồi. Sau này nhà nó mới sang bên Cồn Thoi. Nhưng hồi ấy nhà nó ở gần nhà con Nhung nhà mình, ở ngay bến Xoan ấy. Nhưng thực ra cũng chưa phải là nhà, chỉ là cái quán nước, trước cửa có những cây xoan, bến gọi là bến Xoan luôn đấy mà.
  
Cái bến Xoan chỉ của riêng làng Thưa qua lại sông Khoai đã sống trong tâm trí chúng tôi bấy nhiêu năm. Từ đây người ta đi thuyền nan sang Cồn Thoi. Thuyền nhà ai nấy dùng. Ngày mùa thu hoạch ngô hay gieo trồng thì chiều đến buộc thuyền vào cọc hay gốc xoan bờ sông. Với Hiên, chắc là nó còn hiển hiển lung linh trong tâm trí anh hơn tôi, vì chính chỗ này, anh chàng gặp cô nàng, hẹn hò tình tứ với nhau. Tôi đã trông thấy hai người trên ruộng ngô Cồn Thoi. Anh ta nắm tay cô ta, chả hiểu họ nói nhau cái gì mà cô ta cúi mặt xuống, chân di di trên luống ngô. Khi tốt nghiệp cấp Ba, Hiên có nói với tôi, Thắm chia tay Hiên đã khóc:
 
- Bảo đó là mối tình đầu cũng được, mà bảo không cũng được. Yêu nhau à? Chưa đứa nào nói anh yêu em, em yêu anh. Chưa từng hôn nhau, nhưng đã ôm mặt nhau nhìn mãi vào mắt nhau rồi. Ngày ấy lạ thế. Trẻ con thế. Nhưng mà sau này mình cứ bị ám ảnh mãi, nhớ mãi. Mà lại không vượt qua được. Mình đi đại học thì nghe tin Thắm trượt đại học ở nhà làm ruộng rồi lấy chồng. Thắm đã có lần nói, dù có thi đỗ thì nó cũng không thể đi học được vì mẹ ốm liên tục, nhà lại nghèo khó thế. Khi đó nếu mình về tìm Thắm thì mình có gì nào, một cô vợ đẹp ngoài ra tương lai mù mịt lắm liệu có sống được với nhau không mà cái chính là mình còn bao nhiêu kế hoạch...
  
2.
  
Ông Tý bảo dẫn chúng tôi đến thăm chị Nhung và Nhân. Ông Tý lui cui đi trước. Cái dáng lưng gù gù, đôi chân đi như nhảy nhảy vẫn không thể sai so với thời trẻ. Hồi bố tôi dẫn tôi đến đây, nhìn thấy ông Tý đã bảo người dáng đi thế không thể sướng được, vất vả lắm nhưng chắc là tấm lòng tốt, mau mắn với người ngoài. Đúng như vậy. Bố tôi cũng như những vị phụ huynh khác, khi đưa con đến đây, chỉ tự hỏi han dân xóm mà gửi con chứ nào có quen biết gì trước đó đâu.
 
Ông Tý bảo:
   -Đến nhà con Nhung trước.
   Tôi và Hiên đều bị ông lôi đi, hai thằng đều nhìn ngó xung quanh, mới chỉ kịp nhận ra con đường đi qua đê, xuống dốc, ngày ấy đất nâu đen gan gà, giờ đây đổ bê tông bạc phếch, thế là đã ở trước một ngôi nhà xây nhỏ nhỏ, vườn bao xung quanh, cửa giả trống toang. Ông Tý đi vào nhà, gọi ơi ới Đào ơi, Cường ơi nhưng chả có đứa nào. Ông bảo chắc lại tót đi chơi rồi. Tôi và Hiên thật ngỡ ngàng.
   Hiên nói:
  
- Hồi ấy từ đây trông ra trước mặt ngằn ngặt xanh là bãi sông trồng ngô, rồi nhìn thấy mặt sông Khoai bàng bạc nước.
  
Ông Tý bảo:
  
- Thực ra đoạn sông gọi là sông Khoai chỉ là một nhánh phụ của con sông chính bao quanh Cồn Thoi hồi ấy nổi giữa lòng sông. Nhưng lâu dần trồng cấy, bồi lấp dần mà mất hẳn sông Khoai đi rồi. Mất đã gần chục năm rồi. Giờ chỉ còn một cái mương, một cái cầu mãi ngoài kia.
   Ông Tý chỉ tay về phía trước lô xô mái nhà.
  
Tôi bất giác tiêng tiếc. Bao lâu nay, mình muốn về nhìn lại cảnh xưa hoá ra không thể nào gặp lại. Sông như một người thân đã từ giã cõi đời rồi. Cảm giác như thể chúng tôi đang trở về cắm một nén nhang cho dòng sông Khoai. Hồi đó, mùa thu hoạch đay xong, ở đây có thể nhìn thấy dòng sông chính bên kia cồn Thoi lấp loáng ánh bạc có những ống khói của tàu bè cắm cờ di động xuôi ngược. Còn bây giờ thì thấy gì? Nhà và nhà. Thấy cả một phố làng ngự trị trên dòng sông Khoai ký ức của chúng tôi.
  
Hiên vào nhà, ra sau nhìn quanh rồi bảo:
  
- Thay đổi nhiều quá. Ngày xưa từ đường lên nhà rất cao, từ nhà xuống cầu ao cũng rất cao. Cháu mỗi khi đi rửa bát mà ngày mưa lần được xuống cầu ao là sợ khiếp lắm. Bây giờ đường cao hơn nên nhà cũng thấp xuống.
   Ông Tý cười:
  
- Ngày xưa ngoài đê, nhà nào cũng làm nhà nền cao tướng, muốn vậy thì phải đào ao lấy đất, nên ao cũng rất sâu. Sau này cứ tôn đường, nên giờ như thế.
  
-Sức người khiếp quá- Tôi nói.
  
- Mẹ kiếp, thế này cũng chết đấy- Ông Tý vung tay nói tướng- Tao đã bảo thằng Nhân chính quyền xã chúng mày lo cho dân thế nào, xây nhà mua xe máy, mua ô tô tao không biết. Làng này nhiều nhà sắm ô tô nhá. Nhưng mà giờ có cái đếch bằng ngày xưa. Xưa thì lũ lụt lên không vào đến nền nhà, các cậu còn nhớ chứ, nhể? Giờ động lũ là cả làng ì ọp nước, lội tứ tung, lưng nhà nước.
  
Hiên có vẻ đăm chiêu, anh nhìn ra xa trước mặt, không nói gì cả. Tôi tiếp chuyện ông Tý:
 
-Đến mùa nước, hồi ấy không còn nhận ra con sông Khoai nữa, cũng không còn thấy bãi sông. Đâu cũng là nước mênh mông. Cồn Thoi cũng chỉ còn bé tí như cái sân vận động nổi trên mặt nước. Những lúc ấy, đi từ nhà chị Nhung đây lên đường đê vào làng chỉ có cách đi thuyền.
  
Ông Tý gật:
  
-Đấy, tao nói có sai đâu. Tưng ấy nước mà bây giờ tức nước thì vỡ bờ chứ. Đê cứ mấy năm lại vỡ một lần mà năm nào xã cũng hò hét đắp nhá. Trước đây nó là cái bối, bây giờ bắt nó làm cái đê chính thì sao chịu nổi.
  
Ông Tý lại dẫn chúng tôi đi tiếp. Đi thế này là đi tiếp ra ngoài đê ngày xưa, đi về phía Cồn Thoi cũ. Nhà Nhân ở khu vực giữa Cồn Thoi, cao ráo. Ông Tý bảo:
  
- Nhà này thì dù có nước nổi cũng chả bò đến được. -Ông nháy mắt- Cán bộ bây giờ thế mà, cứ sướng thì chúng nó hưởng trước, nhể?
  
Nhân cao lớn, để ria mép, trông như một cầu thủ bóng rổ. Mấy lần trước tôi về thăm ông bà Tý đều không gặp Nhân, tôi không thể ngờ một thằng bé gày gò, trắng trẻo lại biến thành một ông cán bộ có dáng phong trần thế này. Nhân reo to:
  
-Anh Hiên, anh Thành. Cha cha, vẫn còn nhớ đến nhà quê chúng em a? Chị Nhung ơi, ra đây.
  
Chạy ra một người đàn bà to béo mà ngày xưa chúng tôi gọi trìu mến là chị Nhung. Chỉ còn đôi mắt, miệng cười là vẫn như trong ký ức của tôi, còn người đàn bà xồ sề này là một người khác, không thể là chị Nhung thanh mảnh ngày xưa. Chúng tôi hỏi chuyện chị, cố không nhắc đến chồng chị, nhưng chị thì kể chuyện như không:
  
- Hồi Hiên ở nhà chị, chị cứ nhớ cái lần ấy cậu Hiên hỏi anh Chính làm sao lại ra ngoài đê mà ở khổ khổ là... Chắc quê nhà các cậu chả có lụt lội hả? Anh Chính mới bảo ngoài này khổ nhưng dễ sống, ở trong kia thì chỉ có mà ăn cám, đất chật người đông. Hiên cứ ngẩn tò te ra. Anh ấy liền bảo rồi đến lúc còn kéo nhau ra Cồn Thoi mà tranh nhau ở ấy chứ. Thế mà thật. Anh Chính thiêng thế nhỉ. Người ta bảo người thông minh hay gặp rủi ro chết sớm.
  
Hồi xưa, tôi có ấn tượng là chị Nhung lúc nào cũng vui tươi, nhưng không biết chị nói nhiều như bây giờ. Chị vẫn nói:
  
- Giờ thì cháu Cường nhà chị cũng hơn tuổi các cậu ngày ấy rồi. Chị giục con Đào lấy chồng mà nó đã buồn nghe đâu. Nó bảo chả lấy chồng làng Thưa như mẹ, đất chật, người đông, quanh năm lụt lội. Buồn con cái quá đi mất. Chị thì bây giờ bán hàng ở chợ loanh quanh thôi. Được cái giờ buôn bán cũng dễ. Cả làng trồng quất, trồng hoa, nhưng nhà chị không làm được, phải có người ở nhà, có nhân công và cái chính là chí thú cơ. Nhà chị không có anh ấy, như cái nhà không có nóc...
  
Ông Tý đứng lên bảo:

   - Các cháu ở đây chơi với em, lúc nào về bên bác nhá. Chiều nay phải đi động thổ một cái nhà, chúng nó mời đến giờ rồi.- Ông Tý hoa tay làm một động tác cầm bay xây trát - Tao già rồi, nhưng lũ trẻ theo tao còn là mệt.
 
Ông Tý đi rồi, chị Nhung bảo:
  
- Chị vẫn bảo ông làm cho vui thôi, nhưng ông càng già càng chăm, lắm hôm làm đến tối mít.
   Nhân bảo:
  
- Kệ ông cụ. Tính thế. Thích thì làm, chả thích lại nằm nhà chơi cả tháng. Người già cứ khuyên can thẳng thắn quá cũng không được. Em mà nói thế với ông cụ thế nào cũng ăn quát.
  
Nhân quay sang chị:
  
- Chiều nay chị có việc gì cơ mà?
  
- ừ việc. Con Bình nó rủ đi ăn chung một chuyến "hàng công".
   Hiên hỏi:
  
- Hàng công...?
  
Chị Nhung cười toá lên:
  
- à, đó là hàng quần áo đồ cũ hình như hàng viện trợ bằng công-tơ-nơ. Thuyền lên Bến Xuân, từ đây đánh đi các nơi nữa chứ.
 
Tôi thắc mắc:
   - Bến Xuân nào?
  
- A Bến Xuân mới giờ ở bên sông cơ, chứ không phải bến Xoan trước cửa nhà em Thắm của các cậu ngày xưa đâu. Bến Xoan ấy chìm xuống đất rồi. Lúc đầu làm bến cũng gọi là bến Xoan, nhưng sau ông Chủ tịch xã bảo có xoan đâu mà xoan, nên gọi là Xuân. Suốt ngày tít mù thuyền bè, xuân cái của khỉ, cứ như cái bến Xoan vắng ngày xưa lại hay.
   Nhân bảo:
  
-Thôi chị đi đi kẻo muộn đấy.
  
Chị Nhung quay quả đi, cái dáng đi bì bạch vịt bầu kia thì tôi không thể tài nào đoán ra được, chị chào mời chúng tôi tối nay đến chị ăn cơm. Nhân cười ha hả:


- Đúng là một mụ đàn bà nhà quê một cục. Đấy, nhà cao cửa rộng, không trồng cấy nữa cứ bảo thoát không phải nhà quê, mà hoàn toàn vẫn nhà quê. Làm cái gì cũng dềnh dàng, nếu em không giục thì chị ấy cũng chả nhớ, mai lại cãi nhau với bà Bình chí choé. Đi là đi, lại còn mời mọc các anh ra vẻ lắm. Cứ đãi bôi mà chả phải xấu bụng. Ôi giời...

Chúng tôi hỏi chuyện Nhân. Nhân kể:


- Em cũng đi bộ đội. Rồi về xã làm công tác đoàn. Rồi đi học đại học kinh tế. Rồi lại về xã. Sáu năm nay làm Phó chủ tịch...


Nhân kém chúng tôi vài tuổi. Hồi ở đây, Nhân là một cậu bé thiếu niên, rất quý Hiên, vì Hiên chịu đi chơi hơn tôi. Tôi không biết thả diều, không biết đánh bi, đánh khăng vì nhà tôi không làm ruộng và bị bố mẹ ốp học suốt ngày. Hiên với Nhân thì hay lang thang thả đó, tát cá, lại hay ra đê thả diều... Hiên kể:


- Thằng Nhân làm liên lạc. Mỗi khi muốn gặp Thắm, tao lại bảo Nhân chạy ra bến Xoan, có khi Thắm ra đê, có khi không ra được thì gửi cho tao cái kẹo cái bánh. Hai anh em chia nhau ăn, Nhân có vẻ khoái chí lắm.


3.


Chúng tôi lên sân thượng nhà Nhân. Lại bày đặt nào lạc rang, nào nem chua với rượu. Tiếp khách quý bây giờ uống chén nước trà dường như cũng thấy đạm bạc quá hay sao ấy. Có phải mời được bữa cơm mới thấy an lòng?

Trước mặt chúng tôi hiện lên xóm Cồn Thoi giờ đây như là một bán đảo có dòng sông Luộc đỏ quạch từ xa uốn cong ôm lấy. Trời chiều nắng quái. Mặt sông xa hắt lên thứ ánh sáng vàng xuộm. Xóm làng ít màu xanh, chỉ thấy nổi bật những cột ăng ten ngất ngểu, khô khẳng.


Hiên nói:

- Không ổn rồi.

- Cái gì thế- Tôi hỏi.

Hiên kéo Nhân ra, chỉ tay về phía con đê:

- Cậu Nhân trông kìa? Con đê chỉ như một cái bờ sông thông thường, đi liền mép nước, thế thì nguy. Các cụ mình ngày xưa đắp đê, cách xa lòng sông, làm thành những bãi sông rộng mênh mông. Có thế mùa nước mới an toàn cho thân đê, dòng chảy mới thoát được nhanh chóng. - Hiên bỗng đứng lên, tay vẫn cầm chén rượu giọng hùng biện- Rồi phải xem xét lại cái việc cho dân có nên sinh sống ngoài đê nữa không? Có thể canh tác nhưng ở mức độ nào, chứ không thể lấn sông được.

Nhân nói:


- Vấn đề anh nói đúng đang là cái ách tắc nhất của thôn Thưa, của cả xã. Cách đây hơn mươi năm, đã có ông Điện đại tá về hưu góp ý, em cũng thấy phải, nhưng không ai nghe, cứ bảo ông Điện điên. Khi đó đang bàn có nên bắc cầu sang cồn Thoi hay lấp quách sông Khoai đi. Cuối cùng Nghị quyết của xã là lấp sông. Dự án thấy nhiều cái lợi khi lấp sông quá mà. Nào là dư quỹ đất, nào là không phải cầu đò gì, chỉ phải gia cố đê bối thành đê chính. Nhưng rồi xây dựng tràn lan, thoát nước tuỳ tiện, ao chuôm lấp hết cả, không cứ mùa nước nổi, mà thường ngày thoát nước thải cũng là vấn đề tắc tỵ. Đến khi em lên làm Phó chủ tịch, lại đưa ra xem xét lại vấn đề này, các ông ấy đều gạt đi cả. Cả đảng uỷ, cả ban lãnh đạo toàn các bố già, chỉ có em thuộc hạng con cháu, nói cũng chỉ có mức độ thôi. Gần đây, mới thấy nhiều chuyện vỡ ra.

Hiên nhìn ra phía sông, bảo:

- Hình như có tàu nạo vét sông kia à?


Nhân gật:


- Đúng đấy. Ngày xưa thì cả sông Khoai cũng có tàu nạo vét thường xuyên. Rồi bẵng đi chả có tàu nào lai vãng đến. Rồi năm thì mười hoạ mới thấy về nạo sông lớn. Đầu năm, xã kêu huyện, huyện kêu tỉnh mới được một dàn nạo vét về, nhưng xã cũng phải đóng góp ghê lắm. Chúng em đã bàn, phải nghĩ cách khác thôi.

Xung quanh Cồn Thoi, thấp thoáng những mảnh ruộng màu màu nâu đất. Dường như rất ít màu xanh. Nhân bảo:

- Thu nhập chính ở đây bây giờ là ươm hoa cây cảnh. Giờ đang cữ ươm nên các anh không thấy cây cối. Còn hoa quả thì đã dần thôi mấy năm nay.


- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đấy hả?- Tôi hỏi.

- Tự phát thôi. Từ ngày tôn đê bao, mùa nước không ngập nữa thì đất cũng kém dần, trồng cây không được quả như xưa nữa. Dân bắt đầu xoay làm các việc. Nhà ông bà Đỏ ngày xưa nghèo thế, mà từ ngày Thắm lấy chồng, được cái chồng nó cũng năng động, làm dịch vụ điện nước rồi mua máy xay xát, thế là khá lên. Nhiều người học làm theo nhưng "chết" cũng lắm, cuối cùng quay về ruộng, chuyển sang làm cây hoa cũng tạm.


Tôi nói:

- Tí nữa sang cô Thắm nhỉ?


- Để em gọi nó sang đây- Nhân bảo.



Hiên phân vân:


- Ai lại thế. Phải sang nhà đàng hoàng.


Nhân bật cười:


- Có nhà đâu. Nhà ấy giàu mà thế mới lạ. Mà thế mới giàu. Nhà và đất làm xưởng hết. Có cái nhà đang ở cũng cho thuê, cho công nhân xưởng may thuê rồi. Cả nhà đang tá túc ở bếp nhà ông Đỏ. Hình như đã mua một đám đất đang sắp làm nhà.- Nhân vỗ đùi- Thôi chết, thế mà em không nghĩ ra. -Bố em bảo đi động thổ xây nhà cho ông Hoa, ông Hoa là anh chồng Thắm. Hôm qua gặp ông ấy cứ cười, bảo có phải nhà tao đếch đâu, tao chỉ cho mượn tuổi thôi. Đó là ông ấy để đất ấy cho nhà Thanh Thắm. Thảo nào thấy ông Thanh chạy lăng xăng quanh đấy.


Hiên nói sang chuyện khác:


- Bây giờ xã có hướng gì chưa?


Nhân gật:


- Đã có, nhưng mới bàn hẹp, sắp tới đang định mang ra cho dân bàn. Chúng em định mở rộng con mương Khoai. Nói trắng ra là đào lại sông Khoai. Đào lại sông bây giờ thì không khó, máy móc làm tuốt. Nhưng khó là lại phải di dân. Song cũng đã tính cả.


Tôi thấy Hiên gật gù. Nhân tiếp:


- Chúng em tính đã vận động di dân thì di luôn thể, di nhiều chứ không chỉ di có vệt đào sông. Sẽ làm một khu du lịch ngay trên cồn Thoi. Quy hoạch lại thoát nứoc và cấp nước. Quanh đây mọc lên khu công nghiệp và nhiều xí nghiệp lắm rồi, thiếu chỗ ăn chơi, mình có cảnh quan đẹp tội gì không làm. Trước sau thì vùng này cũng bị đô thị hoá. Bây giờ phải làm từng bước, một là thuyết phục dân, nhưng dân thì dễ thôi, họ thấy lợi là ưng liền với xã, nhưng khó là thuyết phục quan. Dự án phải qua tỉnh, qua Bộ, lợi ích cho Thưa thì rõ rồi, nhưng lợi ích của các vị ấy thì phải làm rõ mới được.


Nhân cười ha ha, nhưng con mắt thì đượm buồn. Tôi bảo:


- Anh Hiên đây nghiên cứu về môi trường và thuỷ lực, tham gia nhiều dự án, sao cái dự án cho làng Thưa lại không tham gia?


Hiên gật:

- Từ lúc Nhân nói ra, mình cũng tính sẽ phải làm gì giúp các cậu.



Hiên và Nhân hỏi thăm nhau những địa chỉ mà dự án chạy qua. Họ đều biết những người có liên quan cả. Nhân vui lắm:


- Nào ngờ đúng là tôm gặp được rồng.


Vừa lúc đó thì có tiếng một người đàn bà:


- Thế em là tép có được gặp rồng không?

Thắm! Tôi nhìn thấy một người đàn bà dáng rất gọn ghẽ, vẫn là hình ảnh cô Thắm ngày xưa nhưng các nét đều đậm đà hơn, sắc sảo hơn. Thắm bảo:


- Các anh còn nhớ làng Thưa là quý lắm rồi, em phải đến chứ.


Tôi thấy Thắm nhìn Hiên, Hiên nhìn Thắm, ánh mắt như là có lửa. Hiên lúc thường hùng biện lắm, nhưng lúc đó chỉ cười cười, chả nói được gì cả. Tự nhiên tôi cứ lẩn thẩn tự hỏi giá như không có cô Thắm này thì Hiên có sốt sắng về lại Thưa hay không? Một chút vấn vương đượm màu ngây thơ ngày ấy giờ đây mới hiện lên vẻ lung linh rất lạ mà tôi không thể có được. Số phận mỗi con người cũng như cả cộng đồng làng, có một thời non tơ, có một thời cứ hối hả sống bất chấp tất cả, rồi đến thời nghĩ lại lại thấy đánh mất quá khứ như là ai lấy mất kỷ niệm của lòng mình. Sông Khoai một thời cách trở thuyền đò, tưởng lấp đi là lấp đi cái khổ, nào ngờ đó chính là một phần cuộc sống của người ta mà không biết. Hiên rượu đỏ bừng hay vì gì, rủ rỉ nói:

- Mới có mấy chục năm mà làng Thưa ăn hết một đoạn sông, giờ phải trả giá... Tôi tự coi mình có nợ với Thưa.


Nhân nói:
 - Cả làng Thưa không nhận nợ của anh. Nợ với ai anh trả người đó.
Thắm lúng liếng mắt, đỏ lựng cả hai má:
- Có cái nợ chả trả được.
Nhân lại nói:
- A không nhận? Thì cả làng Thưa lại nhận thay vậy. Em và anh Hiên còn gặp nhau nhiều nữa đấy nhá.
Thắm nói thác không đưa tiễn chúng tôi. Khi chúng tôi ra đến gần con đường đê cũ, đúng chỗ bến Xoan, đang nhìn ngó thì gặp ông Tý đi về. Ông Tý chỉ chỏ bảo:

- Chỗ này bến đây, chỗ này có rặng xoan này, nhể... Còn nhà ông bà Đỏ thì bây giờ trong kia, vì người ta làm nhà ra ngoài này mà.
Ông Tý chỉ mãi vào phía trong một lối ngõ. Tôi và Hiên chỉ biết thế ạ, thế ạ. Rồi đây đào lại sông Khoai, chắc sẽ có nhiều cầu, bến sông xưa vắng vẻ chiều hoa xoan chắc chỉ còn lại lung linh huyền ảo trong ký ức của chúng tôi...

Chưa có bình luận nào !
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : dbcr3h
Bài viết khác