Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Duy Minh

Bình Luận của Duy Minh

Nhiều lần đọc những bài viết của nhà văn, biết bác người xứ Đông cháu cũng cảm thấy đồng cảm như người đồng hương. Liệu có một ngày nào đó, Hải Dương và Hải Phòng có thể nhập lại làm một, cái tên Hải Đông có lẽ thích hợp hơn cả. Thật buồn là đến giờ nhiều người ở VN (bao gồm không ít người có uy tín trong các ngành văn hóa, giáo dục, sử học) và cả những người Việt sống ở hải ngoại vẫn cho rằng nhà Mạc ra đời là một sai lầm của lịch sử VN và Mạc Đăng Dung cắt đất cho ngoại bang! Hành động hạ mình có vẻ thái quá của Thái thượng hoàng nhà Mạc (lúc này ông không còn làm vua nhưng nhiều người không quan tâm chi tiết lịch sử này) sau này vua nhà Lê trung hưng lặp lại thì lại được sử quan triều Lê-Trịnh cho qua! Giờ đang sống trên mảnh đất Nam bộ vốn là đất cũ của Chân Lạp, cháu tự hỏi không có thế kỷ 16 với những biến động lớn thì liệu dân Bắc Hà chúng ta chỉ có mỗi cái chốn Hà Thành để tranh giành quyền cai trị lẫn nhau hết đời này qua đời khác thôi sao?
Nguyễn Việt Long

Bình Luận của Nguyễn Việt Long

Chi tiết "lãnh tụ cực tả của QDĐ Lão Trung Kha" viết sai tên. Chả có ai là Lão Trung Kha cả, đó là Liêu Trọng Khải.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Tôi không rành về Lào cho lắm, nên không hiểu chế độ hiện nay như thế nào? Nhiều khi thấy thế giới phân loại các quốc gia cộng sản gồm 5 nước thì có Lào. Nhưng đọc một văn bản của Cộng đồng Châu Âu xếp loại 4 nước cộng sản trên thế giới thì không có Lào. Nghe nói, họ còn bảo VN sang mà đưa tượng ông cụ về đi.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Truyện Ngắn
Mưa trước hiên nhà.
Nhà chú tôi như có đám. Cả một tuần nay, người người mệt mỏi. Chú tôi xọm đi trông thấy, tóc bạc thêm rất nhiều. Thím tôi thì vốn béo tốt, chỉ sợ béo thêm, chiều chiều đi tập thể hình rất chăm, một tuần nay chả tập tành gì, bỗng thấy hình thể không còn nặng nề nữa, có điều mặt mày hốc hác hơn một chút. Mọi chuyện là do Hoà gây ra cả. Hoà bảo tôi: "Anh ơi, nhà em chiến tranh liên miên cả tuần nay. Anh chưa được trưng cầu ý kiến gì à?". Tôi bảo chưa. Quả là tôi chưa được chú thím nói gì, mọi chuyện được biết là do vợ tôi nói lại. Hoà kêu lên: "Thế thì càng chứng tỏ anh rất quan trọng. Một lời của anh có thể mang lại hoà bình. Em mệt mỏi quá rồi". Quả thật, Hoà bơ phờ. Một đứa con gái thế kia chỉ có thể mệt mỏi từ tâm hồn mệt ra.
Chung quy là tại vì chuyện yêu đương của Hoà. Hoà không đẹp rực rỡ, nhưng có vẻ đẹp rắn giỏi, thông minh của một đứa con gái mới lớn được học hành đến nơi đến chốn. Hoà nói chuyện hoạt, nhiều bạn. Chính cái duyên con gái đậm đà phát tiết khi nói chuyện khiến cho Hoà có sức lôi cuốn rất mạnh. Chú thím tôi rất tự hào vì cô con gái yêu, có mấy ông bà bạn nhà có con trai hay đến đùa đùa thật thật dấm dứ làm thông gia. Mùa hè vừa rồi, một ông Tổng giám đốc bạn thân cứ nhất định mang xe con đến, dàn xếp cho cả hai nhà đi nghỉ mát, dĩ nhiên là nhà ấy thì mang theo cậu con trai, chú thím tôi thì mang cô con gái. Kỳ nghỉ kết thúc, thím có vẻ bằng lòng mỹ mãn, khen thằng con ông Tổng giám đốc luôn mồm. Ba tuần sau, thì ông một Vụ trưởng cũng bạn rất thân, cũng có con trai, lại rủ đưa con đi nghỉ mát. Lần này chú thím đều khó nghĩ, bàn đi tính lại mãi, cuối cùng hỏi tôi "anh thấy thế nào". Tôi bảo cháu chả thấy thế nào cả. Thím bảo anh nhà báo mà cũng ba phải. Tôi tung tẩy bảo, bởi vì chú thím không chăm chú vào việc đi nghỉ, nên mới khó nghĩ, mới thấy "thế nào", phải bắt đầu từ em Hoà chứ, nếu chú thím không nghĩ đến cái "thế nào" ấy thì sự việc có gì phải nghĩ, cứ phải hỏi em Hoà xem nó có thích đi không, rồi có cách mà trả lời người ta. Chú phẩy tay, kêu lên thằng nhà báo té ra nó có cái lý của phương tiện thông tin đại chúng. Gọi Hoà đến, Hoà vỗ tay reo lên, đi nghỉ thì bao nhiêu chả được. Thế là cả nhà đi. Khi về, cả nhà lại vui, thím lại khen con ôngVụ trưởng chả khác gì khen con ông Tổng giám đốc. Còn Hoà thì ranh mãnh bảo mẹ, mẹ ơi còn bác nào bạn bố mẹ có con trai rủ nhà ta đi nghỉ nữa không? Bà mẹ chửi yêu cha bố cô, khi tôi bằng tuổi cô bây giờ, đã lấy bố cô rồi đấy, con gái con đứa cứ phải việc đầu tiên là nghĩ đến cái nơi chốn.
Ấy thế mà cuối cùng cái nơi chốn mà cô con gái yêu của chú thím tôi lựa chọn lại gây "sốc" lớn cho chú thím. Đó là ai? Đó là một anh có thể gọi là hàng xóm. Vợ tôi cung cấp thông tin vắn tắt: Thằng ấy hơn Hoà đến hơn mười tuổi, hình như chưa từng học đại học, đang "làm ngoài". Trời ơi, trong chờ đợi của chú thím tôi, một anh chàng như vậy không thể có chỗ dù chỉ trong tưởng tượng. Nên hai ông bà này phát hiện ra Hoà "dính dáng" đến anh ta, khác nào bom nổ bên tai. Chưa hết, vợ tôi bảo, vấn đề là "thằng kia" còn có một đứa con ba, bốn tuổi. Tôi giật mình. Thôi thế là bom nguyên tử giội vào chú thím tôi rồi.
Hoà bảo tôi: "Em không vận động anh ủng hộ em, chỉ mong anh khách quan. Vì anh có ủng hộ hay không cũng thế rồi". Tôi bảo thế là thế nào? Hoà nói dứt khoát: "Cũng yêu rồi". Tưởng gì, tôi cười kha kha, đừng mang yêu ra doạ anh, mà em cũng đừng thánh hoá cái gọi là yêu, đến lấy nhau có mấy con, người ta vẫn có thể bỏ nhau được, yêu là cái gì? Hoà im. Lát sau buồn bã nói: "Trước mắt chỉ mong hoà bình. Tự nhiên mệt quá".
Ơ hay, tôi bảo chả có gì tự nhiên cả... Vợ tôi bực, bảo chết thật, chết thật, con Hoà nhà mình giỏi giang xinh đẹp thế mà vội vàng va vào một đám chả ra gì? Khi Hoà về rồi, tôi bảo vợ, em thật hồ đồ, một đứa như cái Hoà, dù có việc gì cũng nên đặt vấn đề tỉnh táo, rằng nó không thể chọn lựa một cách dễ dãi quá được. Thế mới là tôn trọng nó. Còn lo cuống lên bảo đám ấy chả ra gì, thì cầm bằng coi em mình cũng ra gì? Vợ tôi không đồng ý, gắt tướng lên. Tôi bảo hoá ra chiến tranh lan cả sang nhà mình à. Vợ tôi bèn im, nhưng vẫn tức lắm, bảo anh thật là người ba phải.
Tôi bèn quyết tìm hiểu cho ra nhẽ. Làm một cái phóng sự điều tra không đăng báo thôi vậy. Muốn thế, phải xục đến tận đối tượng, chứ không thể cứ ngồi nghe mà kết tội người ta. Chả mấy khó khăn để biết anh chàng kia làm gì, ở đâu. Anh ta có một cái cửa hàng bán vật liệu xây dựng. Tôi đến ngắm nghiá chán chê. Anh ta dáng vẻ khắc khổ, có miệng cười là tươi tắn kéo lại, cười từ mắt cười ra. Người như thế bán hàng có duyên. Tôi bảo nhà tôi có cái vòi nước gật gù của Trung Quốc bị hỏng, nay muốn mua bộ mới. Anh ta hỏi hỏng thế nào. Nó bị chảy nước, tôi nói đại thế, bởi vì vòi nhà tôi có hỏng đâu. Anh ta xởi lởi bảo, ái chà, thế thì việc gì bác phải mua cái mới tốn tiền, cứ thay cái lá van. Bác cứ về, vặn cái tay gật ra, xoay cái ren này này, bác nhấc cái củ ra, một là hỏng lá van. Thằng Trung Quốc làm cái lá van bằng nhựa, nhà mình dùng quen nồi đồng cối đá, nên nó bị giập, anh thay cái lá van khác, giờ mình có loại lá nhựa, cũng có loại lá gang dùng một đời ta không hết một đời nó. Hai là cả cái củ của bác bị hỏng, bác phải thay cái củ khác, thế thôi. Tôi bảo anh bán hàng mà không định bán được nhiều hàng, lại đi bày vẽ cho khách tiết kiệm? Anh ta cười ha ha, khách cũng là mình, mình chân thật thì sẽ lại có nhiều khách. Tôi sang bài khác, bảo trông cậu quen quen, a phải rồi, hôm nọ tôi thấy cậu đi chơi với em thằng bạn tôi. Anh ta cảnh giác, ngẩng lên: "Anh là bạn anh Bình à?" Tôi gật gật, bạn của Bình hồi đi học đại học, đúng hơn là Bình kém tôi mấy lớp, giờ Bình dạy đại học, tôi vẫn quan hệ, thế thôi. Tôi nói thêm Bình có cô em tên là Hoà. Anh ta nhìn tôi nghi hoặc, cười: "Bác đòn em". Tôi hơi chột dạ: "Thế không phải à?". Anh ta nói dứt khoát: "Không phải. Em với Hoà yêu nhau, nhưng đã đi chơi với nhau bao giờ đâu". "Sao vậy?" "Thì thế". Tôi mới thoáng nghĩ ra rất nhanh, mình cũng khờ, hai đứa yêu nhau, thằng này có nhà riêng, cha mẹ lại đang cấm đoán, nên dại gì ngênh ngang đi đâu. Tôi bảo: "Tớ nhìn nhầm, nhưng cũng đúng là cậu và Hoà yêu nhau. Bao giờ thì cưới?". Anh ta nheo nheo mắt: "Chả biết bao giờ. Là bởi vì hai ông bà bên ấy chưa ưng". Tôi hỏi thế Bình có ý kiến gì? Anh ta nói: "Hoà bảo anh ấy thường thương em, chắc là không đến nỗi không đồng tình". Tôi không nói gì nữa. Anh ta lại hỏi xem tôi thay cái củ van không, tôi bảo phải về xem xét đã. Anh ta bảo: "Em tên là Thường, thỉnh thoảng có thay thế hay mua mới đồ, mời anh ra đây".
Ấn tượng chung của tôi đó là một người đàn ông rất dễ mến. Tôi kể chuyện với vợ, vợ tôi ngấm ngúyt: "Anh lập trường chả ra gì, cho anh một món lợi như cái củ van, anh khen liền". Tôi định cho vợ một câu đích đáng, thì chú thím tôi đến.
Ngồi chưa ấm chỗ, thím nói ngay, hôm nay chú thím phải đến anh, nhờ anh một việc. Vợ tôi vội bảo, nhà em biết rồi. Tôi bực, bảo vợ, anh biết gì đâu, mời thím nói cháu nghe xem nào. Đúng là vợ tôi đàn bà trẻ người non dạ, sâu sắc như cơi đựng trầu. Bà thím phải được nói, nói cũng là một quyền của bà ấy, và bà ấy cần có cái thú có người nghe bà, thế mà vợ tôi lại định lấy đi cái quyền ấy, cho bà ấy một cảm giác chưng hửng là không thể được. Thế là thím nói, đúng là chuyện về Hoà. Sau câu chuyện của bà thím, tôi cũng phải bảo thế ư, thế à, lại ra thế ư... Thím ca cẩm: "Cháu thấy như thế có chết cho chú thím không cơ chứ. Chết đến là chết. Nuôi con bao nhiêu năm giờ nó chả nghe, công lao đổ xuống sông xuống biển hết". Chú tôi ngồi, bấy giờ mới lên tiếng: "Mình nói khó nghe thật. Khuyên con để nó nghe, lại cứ quằng sang công lao với nuôi con bao nhiêu ngày". "Thế không à?...". Thím bèn gắt lên, giọng tấm tức, nước mắt đã lưng tròng. Tôi ngồi yên. Vợ tôi giục: "Anh nói gì đi chứ, giúp chú thím với chứ". Đấy, lại thế. Tôi mặc kệ vợ, cứ gật gù, gật gù. Bà thím nguôi nguôi, bảo: "Anh giúp chú thím, phân tích cho em Hoà nó hiểu, bỏ thằng kia đi. Nó coi anh "uy tín" lắm, nghe anh lắm. Mà nếu nó không nghe, anh áp dụng biện pháp gì mạnh mạnh vào cũng được". Tôi cười xoà: "Biện pháp gì mạnh mạnh hở thím". "Là thím cứ nói thế. Đàn ông với nhau, cókhi anh doạ cho thằng kia một trận chằng hạn". "Doạ? Ối giời ơi". Bà thím cũng phì cười: "Dân báo chí các anh thiếu gì cách. Thằng kinh doanh bây giờ chỉ cần chính quyền và báo chí doạ là nó rét ngay. Cắt đường sống thì yêu đương gì". Chú tôi lúc ấy mới lại nói: "Mình lạ nhỉ? Ta chỉ nói chuyện với cháu, để cháu nó nói chuyện với con Hoà, có thể với cả thằng Thường, nhưng không được vi phạm pháp luật. Chúng mình đều là nhà có học". Bà vợ quay sang chồng, nói tướng lên: "Ông chả ra gì, cứ hiền như đất ấy, nhờ gì. Ông có thấy bọn nó năm bảy tầng nấc đến doạ doanh nghiệp, mà thằng doanh nghiệp cứ phải nhũn như con chi chi, kể gì cái cửa hàng của thằng ấy. Anh chỉ cần quen một ông thuế thôi, là được. Hành cho tới nơi là thằng làm ăn kinh ngay". Ông chú tôi cũng tức, quát lại: "Hay nhỉ? Cứ tưởng thế là hay? Chuyện con cái thì là con cái, sao lại cứ quằng chuyện doanh nghiệp vào. Phải để người ta sống mà làm ăn chứ, và còn phải...". Chú tôi đang nói hăng hái, không nói nữa. Tôi cũng không nói ngay nữa. Kinh nghiệm của tôi là trong trường hợp như thế này, im lặng là vàng. Hai ông bà đều thân thuộc quý mến cháu, cháu bênh ai cũng dở, cháu lại không thể hỗn mà làm trọng tài dàn xếp cho bề trên được. Thôi thì cháu nghe, phải nhăn nhó mặt mày đầy đau khổ vậy. Lát sau, chú nói tiếp, giọng đã trùng xuống, nhỏ nhẹ: "Tôi nói thật với bà câu này, còn để đường mà rút, nhá. Vạn bất đắc dĩ con mình nhất nhất không nghe thì bà tính sao? Bỏ nó à? Thằng kia có gì xấu nào? Không đại học đại hoè thì sao? Không cán bộ cán bèo thì sao? Hồi tôi lấy bà tôi là gì nào? Một thằng lính chân đi dép cao xu quai xanh quai đỏ, chả có đồng tiền nào trong túi, ông ngoại bà ngoại thằng Bình con Hoà lúc đầu cũng chống quyết liệt là gì...". Bà thím tôi ngồi lặng lẽ khóc sụt sùi. Tôi lúc đó mới thập thò vũ khí mềm: "Thím cứ để cháu lựa thử xem thế nào...". Thế là kết thúc cuộc thăm viếng đầy hy vọng của chú thím tôi.
Vợ tôi bảo: "Anh chả ra gì. Lúc cần nói thì cứ ngồi im như chết". Tôi cười. Chả lẽ tôi bảo tôi đang cười vợ. Lại im là hơn cả. Nhưng vợ tôi không vừa, gặng hỏi: "Anh nhận lời, phải làm gì đi chứ?". Tôi bảo vợ: "Hồi xưa chúng mình yêu nhau, cũng bị các cụ cấm, đúng không?". Vợ tôi ừ. Tôi bảo: "Em đã nói nếu các cụ mà không cấm có khi lại bỏ nhau rồi, đúng không?" Vợ tôi lại ừ. Tôi cười ha ha: "Dễ thôi, muốn cho chúng nó bỏ nhau, cứ việc bảo chúng yêu nhau đi, yêu nhiều đi, là khắc chúng bỏ nhau ngay mà xem". Vợ tôi trợn mắt lên, nhưng không thể cười được, thị đang suy nghĩ rất nghiêm túc đấy, nói nhỏ: "Có thể thế, nhỉ". Còn nhỉ cái gì nữa. Chúng tôi ngày xưa yêu nhau, hay cãi nhau nhưng khi nghĩ đến mọi người cấm đoán, chỉ có hai đứa hiểu nhau, yêu nhau, nên lại hay bỏ qua cho nhau, nếu mà không có ai cấm, có lẽ bỏ nhau rồi.
Được vợ ủng hộ, được lời nhờ của chú thím, tôi công khai "quan hệ ngoại giao" với Hoà và Thường mà không sợ mang tiếng "mất lập trường". Một hôm Hoà đến, mang theo một đứa bé ba tuổi rất xinh xắn, tên là Hoa. Nó là con của Thường. Rất lâu rồi, bao nhiêu năm nay rồi tôi chưa có dịp gần gũi Hoà. Trong tâm trí tôi, Hoà chỉ là một cô bé, nhỏ bé rụt rè. Đó là đức tính thích nhất của chú tôi đã truyền cho con bé. Chú tôn sùng sự khiêm nhường, rèn mình và học trò đức tính hiền nhân bề ngoài giống như ngu, ngu ngoại hình nhưng minh triết trong tâm trí. Trong căn nhà chú, ngự trị một không khí tĩnh lặng của học giả, khi có thím thì được bổ sung vào cái nếp sống căn cơ cẩn thận của một bà chánh thanh tra có thâm niên. Chi li đến cái tơ cái tóc, xưng hô và nói năng không bao giờ thừa. Con bé Hoà lớn lên trong không khí gia đình như thế, nên khi vào Đại học, bản tính tinh nghịch của nó chỉ được dịp phát lộ khi ra khỏi nhà. Tôi đã thấy nó đá bóng trong đội bóng sinh viên. Nó van vỉ: "Anh bảo với bố mẹ em thì em chết". Tôi phì cười. Không có ai đá bóng chết người. Thế là tôi giấu biến. Và bỏ qua, coi như một sự tếu táo thời sinh viên, lớn lên vất vả lo toan sẽ khác. Nhưng hôm nay, tôi mới để ý thấy lạ, đến nhà tôi một cô Hoà khác xa với hình bóng đứa bé trong nhà chú thím, vẫn không khác mấy con bé cầu thủ quậy tung sân. Hoà đĩnh đạc, đường hoàng, vui tươi. Khi con bé Hoa gọi mẹ, Hoà cũng xưng mẹ. Từ trong ánh mắt Hoà, có một tia sáng rất lạ, ngời ngợi, trong vắt. Đó là thứ ánh sáng của hạnh phúc mấy khi có trong đời. Con bé Hoa là một đứa nghịch ngợm kinh khủng. Giá nóù là con trai thì đúng hơn. Nói luôn mồm, hát luôn mồm, chạy nhảy không ngừng. Nó chạy rũ tung chăn màn của tôi, rũ tung sách vở để tìm sách có con ếch. Cứ khi nó lục xong, Hoà lại đi theo xếp đặt. "Mẹ Hoà, hát với con", Hoà hát. "Mẹ Hoà, múa với con", Hoà múa. "Nhảy với con", Hoà cũng nhảy. Hai mẹ con làm cho căn phòng của vợ chồng tôi ầm ĩ, sôi sục lên. Hoà bảo: "Ở nhà anh thích thật. Hai mẹ con em tự do". Tôi hỏi Hoa: "Ở nhà cháu thì sao?" Con bé đang nhí nhảnh bảo nhà cháu có con chó bông, con mèo, con vịt, có gường bố Thường cháu nằm bên này, mẹ Hoà cháu nằm bên kia... Hoà cười khanh khách, bảo: "Ở nhà cháu thích lắm, nhưng nay phát hiện thêm ở nhà bác cũng thích, còn thì ở đâu cũng buồn". Vừa lúc đó vợ tôi về. Với chú thím, vợ tôi là một tín đồ nhiệt thành. Với Hoà, vợ tôi là một nhà tình báo. Nhà tình báo nhìn thấy con của Hoà thì cười nhưng trong bụng thế nào cũng có ý nghĩ hình roi vọt. "Ra bác bế nào". Cháu ra bác bế, trong khi mẹ Hoà nó vào bếp, thì nó bắt đầu bị bác gái nó nhồi sọ. Cô Hoà vô duyên này, cháu có thấy váy cô Hoà mặc đẹp không nào, đó là do bác bạn của mẹ Hoà tặng đấy. Ứ phải cô Hoà, mẹ Hoà cơ mà. Mẹ Hoà có duyên, váy của mẹ mẹ mua mới được váy đẹp thế. Bác bảo này, mẹ Hoà của cháu rất nhiều người yêu, nhiều chú yêu mẹ Hoà. Ứ phải, đứa bé không thể tin những gì không trực quan, nó ứ chơi với bác này nữa. A, con này ghê gớm thật, cái gì mẹ Hoà nó cũng là nhất. Mà mẹ mẹ cái gì... Con bé bắt đầu hãi, sắp khóc. Tôi bèn can thiệp, kéo vợ đang xù lông nhím vào buồng, bảo em bịa ra chuyện nói con Hoà chẳng ra gì để làm gì. Vợ tôi xưng mặt lên, mặc kệ em, làm gì được việc thì làm. Về nó sẽ nói với bố nó, là xong. Tôi trợn mắt: Cấm em. Từ đó, vợ tôi kém tiếng, không mặn chuyện nữa.
Khi ăn cơm, có món dạ dày và lòng non, vợ tôi làm bị đăng đắng. Tôi buột miệng kêu đắng quá. Hoà cười, ăn ngon lành, bảo: "Lòng làm quá sạch thì đắng, bởi vì bị mất lớp sinh bào trong cùng của ruột. Đắng nhưng ngon". Tôi bảo: "Thế ra không đắng thì không ngon?" "Không đắng thì ngon kiểu khác. Lòng đắng là người làm chu đáo, lòng không đắng là người làm khôn khéo". Đến món giả cầy, vợ tôi làm không ra cầy, cứ vẫn là mùi thịt lợn. Sao tôi lại có một mụ vợ bướng đến thế. Nhất định không chịu dùng mẻ, kêu kinh và mất vệ sinh. Ai làm cho thì ăn, chứ làm thì nhất định không dùng mẻ. Tôi bảo: "Chả ra gì". Vợ tôi không nhịn được nữa, bảo: "Anh cái gì cũng chê. Ai mà chiều được". Hoà bảo: "Giả cầy không phải cầy. Thế thì tội gì câu nệ cầy hay không cầy". Rồi Hoà chỉ bát nước còn lại, sóng sánh: "Thứ này ninh sình sịch, bổ béo ra cả nước, phải ăn mới được". Rồi húp khen ngon. Hoa vỗ tay reo ầm lên: "Phải ăn nhiều mới bổ, mới chóng lớn, mẹ Hoà nhỉ?". "Đúng rồi, con của mẹ ngoan". "Ai nấu cơm cho mình phải cám ơn và khen ngon chứ nhỉ? Bố bảo thế". "Đúng rồi, con của mẹ ngoan lắm". Vợ tôi phụng phịu: "Đến đứa trẻ con cũng còn biết. Chồng với chiệc". Tôi đâm bực, không nói gì, cô ta càng làm già: "Cái Hoà thế mà được, còn được lời nói. Anh mày ấy à, chả bao giờ chị nghe thấy lời hay ho". Hoà cười ghê: "Anh Thường ấy, không thể nào tức bực với anh ấy được. Em là em bắt chước anh ấy đấy. Hồi đầu, nào em có biết làm gì đâu. Mẹ em làm hết, cứ việc ăn rồi học. Em nấu cơm nhão, anh ấy bảo nhão ăn dễ nuốt, chỉ cần mắm ngon là xong, nấu cơm khô, bảo khô ăn với canh cá thật đúng. Đúng đúng cái gì đâu, nhưng mà mình ngượng, lần sau làm được".
Tôi thật không có cái đức nín nhịn của Thường. Trời sinh ra mình thẳng ruột ngựa, vốn cũng xuề xoà thôi, nhưng mà vợ đã dốt lại ngang thì không chịu được.
Về chiều, chợt nghe thấy ngoài trời nổi gió ào ào. Tôi mở cửa nhìn ra, một bầu mây xám nặng. Gió lành lạnh. Năm nay mùa đông đến muộn, thu đã qua lâu rồi, hôm nay mới có triệu chứng đợt lạnh đầu tiên. Hoà tíu tít tìm túi, kêu ầm lên cái túi của em đâu, cứ như mất của. Hoá ra tìm áo mặc cho con bé Hoa. Hoà bảo hôm qua em nghe ti vi báo gió mùa đông bắc trời trở lạnh, may lúc mang con bé đi đến đây lại nhớ nên sắp sẵn áo quần cho nó. Tôi nhớ có lần Hoà đi học đại học năm thứ tư, trời lạnh mà thím tôi còn cẩn thận mang áo đến trường cho con. Thật là mẹ nào cũng nghĩ giống nhau cả. Nhưng thím tôi mang nặng đẻ đau, sinh ra Hoà mới có tình mẫu tử vô điều kiện như thế, còn Hoà có đẻ ra con Hoa này đâu. Tôi ngờ rằng sợi dây vô hình níu kéo Hoà với con bé này, với bố con bé này hẳn là đã vô cùng sâu đậm. Hoà bảo: "Mẹ em ấy à? Lúc nào cũng nghĩ em còn bé tí, ai lại có bận trời trở lạnh, vẫn mang áo len đến tận cơ quan cho em. Anh xem, giả sử có lạnh thật, em chịu một bữa có sao. Hôm nay biết em ở đây, thế nào cũng kêu ca áo iếc đấy".
Ngoài trời đã lắc rắc mưa. Không gian xao động. Gió lành lạnh. Sao mà lại có cơn lạnh đột ngột đến thế. Vợ tôi hỏi Hoà: "Cô có bảo bà là đến đây với con bé này không?" Hoà bảo: "Em có bảo đến anh chị, nhưng không nói đi với con Hoa". "Cô định giấu đến bao giờ?" "Em không biết...". Vừa lúc ấy có chuông điện thoại reo, tôi nhấc máy. Đó là thím. Trời thì lạnh mà tôi lại cảm thấy được sức nóng truyền qua ống nghe. Thím sa sả bảo cái con Hoà ngu dại ấy sao lại khoác bận bịu vào người. Khi đi, thím biết ngay là nó vòng đến nhà thằng kia mang theo con bé con đến nhà cháu. Tôi không kịp nói gì, cứ dạ dạ hoãn binh, ẫm ờ "dĩ bất biến" xem sự thể thế nào. Bà thím thì cứ xả một mạch, lập trường cháu như thế nào hả, đáng lẽ nó đến đuổi nó về, hay báo ngay cho thím, thím đã bảo cháu phải dùng biện pháp mạnh, cái con Hoà ngu dại thế có chết không. Chết thật đấy, chết thật... Tôi cứ u ơ như đứa mới tập nói. Hoà hỏi mẹ em à. Tôi chỉ gật gật. Mãi mới bỏ ống nghe xuống được. Hoà cười cười, em đoan chắc là mẹ em lại giục em mượn áo chị mặc ấm hãy về chứ gì. Tôi không nói gì, không lắc, không gật, chỉ cười như là một thằng bé hỏng thi. Chắc lúc ấy trông tôi vô hồn lắm. Hoà nhận thấy sự khác thường, gặng hỏi mẹ em lại kỳ kèo gì rồi. Tôi chậc lưỡi bảo thím kêu chết thật, chết thật, kệ thím có ai chết đâu. Hoà nói tưng tửng: "Ngày đang sống là ngày đang chết. Ngày chết đi, ta sống lâu thêm". Tôi lạ, bào Hoà gì cũng đùa được? Hoà cười khanh khách, em mà ra điều với mẹ có mà ngồi buồn cả ngày. Mẹ em lúc nào cũng ca cẩm chết thật, chết thật. Lúc đầu em cũng buồn, sau nghe anh Thường bảo: "Có khi người này quan niệm là chết, người kia nhìn ra đó là sống. Tốt nhất là nhìn thấy sống trong chết. Cuộc sống lúc nào cũng ở hai đầu sống chết", thế là em thấy hết buồn. Vợ tôi có vẻ chưa chịu, bảo: "Thế ra lạc quan tếu. Cô cảnh giác đấy nhé, không nên cái gì cũng nghe người ta". Hoà cãi: "Ai cũng bảo ngày ngày mình đang sống. Nào, có phải thế không? Em thì bảo đó là mình đang chết. Ai cũng có từng ấy ngày sống trên đời, vậy thì càng sống thêm, tức là càng chết thêm chứ gì. Nói ngày chết đi ta sống lâu thêm chả đúng hay sao? Thế mới biết quý những ngày sống". Tôi bảo: "Lại anh Thường bảo thế chứ gì?". Hoà thản nhiên: "Đúng đấy". Chuông cửa kính coong. Có khách. Khách là ai? Thường! Vợ tôi bất ngờ, mắt cứ tròn thô lố ra. Tôi ra mở cửa, mời anh ta vào. Thường cười tươi tắn, điệu bộ tự nhiên đường hoàng như là không cần biết vợ chồng tôi có ủng hộ chú thím tôi hay không. Sau màn chào hỏi, anh em, bố con, chủ khách... thì Thường nói luôn: "Anh mang cho em áo len đấy". Hoà bảo: "Ơ, sao anh có áo em nhỉ?" Nói rồi cô em tôi cười bẽn lẽn đỏ cả mặt. Vợ tôi lườm nguýt mới ghê chứ, mắt thị tự nhiên trắng đục và húp híp lắm. Tôi bảo: "Anh em chúng tôi đang nói về lý thuyết ngày đang chết ngày đang sống của cậu". Thường ngượng: "Có gì đâu, em nói liên thiên cho vui ấy mà. Khi nào mời anh sang em uống rượu". Ái chà, rượu thì được đấy, chắc là tay này biết tôi ghét bia, uống nhiều nặng bụng.
Khi cả ba người mặc áo mưa ngồi ôm nhau trên cái xe máy chuẩn bị đi, Thường bỗng hỏi: "À cái củ van của anh đã thay chưa?" Tôi ớ ra: "Củ van nào?". Thường cười không nói gì. Tôi chợt nhớ ra, bảo: "Thay rồi, thay rồi". Khi cả ba phóng vào màn mưa, căn nhà tôi trở nên yên lặng. Vợ tôi không nói gì. Tôi thấy lòng chống chếnh. Nhìn ra trời mưa phùn, bỗng thấy màn mưa trở nên trong vắt như một tấm gương bao la. Tôi nhìn thấy hai kẻ yêu nhau đang vi vút trên đường chả coi ướt lạnh là gì. Mình cứ ngồi trong nhà yên ấm, đơn điệu, mưa ngoài kia vẫn mưa như đã từng mưa, cứ tưởng mưa bây giờ cũng giống mưa hôm qua, mưa năm ngoái... sao đến một lúc mới thấy là trong mưa nhiều âm điệu lạ?

4/2001

Chưa có bình luận nào !
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : cjbrb5
Bài viết khác