Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Duy Minh

Bình Luận của Duy Minh

Nhiều lần đọc những bài viết của nhà văn, biết bác người xứ Đông cháu cũng cảm thấy đồng cảm như người đồng hương. Liệu có một ngày nào đó, Hải Dương và Hải Phòng có thể nhập lại làm một, cái tên Hải Đông có lẽ thích hợp hơn cả. Thật buồn là đến giờ nhiều người ở VN (bao gồm không ít người có uy tín trong các ngành văn hóa, giáo dục, sử học) và cả những người Việt sống ở hải ngoại vẫn cho rằng nhà Mạc ra đời là một sai lầm của lịch sử VN và Mạc Đăng Dung cắt đất cho ngoại bang! Hành động hạ mình có vẻ thái quá của Thái thượng hoàng nhà Mạc (lúc này ông không còn làm vua nhưng nhiều người không quan tâm chi tiết lịch sử này) sau này vua nhà Lê trung hưng lặp lại thì lại được sử quan triều Lê-Trịnh cho qua! Giờ đang sống trên mảnh đất Nam bộ vốn là đất cũ của Chân Lạp, cháu tự hỏi không có thế kỷ 16 với những biến động lớn thì liệu dân Bắc Hà chúng ta chỉ có mỗi cái chốn Hà Thành để tranh giành quyền cai trị lẫn nhau hết đời này qua đời khác thôi sao?
Nguyễn Việt Long

Bình Luận của Nguyễn Việt Long

Chi tiết "lãnh tụ cực tả của QDĐ Lão Trung Kha" viết sai tên. Chả có ai là Lão Trung Kha cả, đó là Liêu Trọng Khải.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Tôi không rành về Lào cho lắm, nên không hiểu chế độ hiện nay như thế nào? Nhiều khi thấy thế giới phân loại các quốc gia cộng sản gồm 5 nước thì có Lào. Nhưng đọc một văn bản của Cộng đồng Châu Âu xếp loại 4 nước cộng sản trên thế giới thì không có Lào. Nghe nói, họ còn bảo VN sang mà đưa tượng ông cụ về đi.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Truyện Ngắn
Người chăn dê
1.

Câu chuyện này bắt đầu từ hôm Dương Văn Tốt đến trang trại Cỏ May.

Một vùng núi và đồi. Thật là non xanh nước biếc. Xanh ấm màu cây lá phủ lên những ngọn đồi vàng đỏ. Xanh xậm nhấp nhô đỉnh núi. Còn xa xa là màu xanh lơ rặng núi đá vôi. Vắng vẻ như là lạc vào một chốn đi đày. Thế mà mới bỏ đường quốc lộ có hơn một giờ đi bộ, nếu có xe máy thì có thể phóng vèo một cái đã đến chỗ quán xá, rồi vẫy xe đi tuyến Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương đang chạy như mắc cửi trên đường.

Tốt lưỡng lự nhìn cái cổng có chữ "Thảo Vân Trang", bỗng nhìn thấy những bóng lốm đốm những con vật ở vườn phía trong, lắng nghe thấy tiếng "be... be...", bèn quả quyết dấn bước, hướng đến ngôi nhà mấy tầng tươi rói giữa vườn cây lá, ngôi nhà màu trắng có cái chóp như cái mũi nhọn hếch vô duyên trên gương mặt đẹp.

Ông Trần Thường Tự chủ trang trại là một ông già da dẻ đỏ đắn, tóc bạc già lão, gương mặt rất hiền từ kẻ cả, duy chỉ có cái ánh mắt là tinh quái, như là đôi mắt ông ta vẫn trẻ nguyên thế từ tuổi đôi mươi vậy. Ông nheo đôi mắt chim ưng, hỏi Tốt: Cậu chăn dê nhiều chưa? Dạ. Khoảng hai năm... Hay lắm! Chăn nhiều không? Vài trăm, vài ngàn... Hay lắm... Ông ta gật lia lịa, khen hay lắm, hay lắm, rồi trợn mắt nói: "ở đây toàn anh em, không xưng cháu, nhá".

Vừa lúc đó, người ta lùa dê về bãi. Trên tầng ba nhìn xuống, cứ như người ta đổ một dòng nước tràn vào bãi cỏ rộng rãi này. Đứng ngắm hồi lâu, Tốt thấy thiếu thiếu một cái gì đó. A phải rồi, chỉ có bóng người lui cui, chỉ có tiếng e e, ẹ ẹ mà không có bọn chó lùa dê, thành ra dòng nước dê kia thỉnh thoảng cứ tung toé, mấy tay chăn dê cứ tay gậy chân chạy hối hả. Tốt bất giác mỉm cười. Ông Đạm thấy thế, bảo: "Công việc thì chả có gì nhiều, nhưng đừng cho là vớ vẩn, nhớ". Thấy Tốt không nói gì, ông ta bảo: "Cậu cười gì?" Tốt bảo: "Em đã ở một nơi, đến cười cũng phải xin phép, nên đến đây, nghe ông Đạm nói tự do lắm, văn nghệ lắm". Ông Đạm chính là người đã giới thiệu Tốt đến đây, ông là cán bộ cao cấp về hưu, bạn bè với ông Tự này. Ông Tự cau mặt: "Tao muốn nói cái khác. Đừng nghĩ chăn dê là việc nhỏ. Nhất nghệ tinh. Đi đến cái tinh nghệ thì có cái vinh của nghề. Tô Vũ chăn dê mấy chục năm mà thành bất tử..." Tốt ngây ngô, bảo: "Ông Tô Vũ chăn dê có dùng chó không?" Đến lượt ông Tự đứng ngay đơ, ngạc nhiên một giây, rồi cười: "Tớ cứ hay nói văn nghệ... ý cậu hỏi là ở đây chăn dê có dùng chó không chứ gì?" Ông nói: "Hồi xưa, còn thằng Quân, nó có dùng. Nó chăn xiếc lắm. Cái thằng tuyệt vời. Nhưng nó đi rồi. Bọn chúng còn lại làm ăn như gà mắc tóc. Cậu cần chó thì tớ sắm chó".

Ông Tự lại gật gù: "Hay lắm. Thế là sơ bộ ban đầu hợp ý anh rồi". Bèn phôn đặt chó. Tốt ngạc nhiên, nghĩ bụng mua chó như mua rau, thì chỉ được chó giữ nhà, nhưng thôi, người có tiền làm gì mặc họ, việc đến nói sau. Ông Tự đang có vẻ khoái chí, bảo Tốt: "Vì sao chó chăn dê hay, cậu biết không?". Tốt bảo chỉ thấy thế, chả biết làm sao. Ông này hùng biện: "Người ta cứ rủa chung là loài dê chó, chứ dê ra dê, chó ra chó, nhá. Hai anh này không đi chung với nhau được. Khoản nào anh dê làm hay thì anh chó khó, cái gì anh chó khôn thì anh dê ngu ngơ, nên nó ghét nhau, xung khắc nhau. Cao thủ nhất là con người ta sai khiến chúng nó. A ha ha..." Ông Tự cười váng lên. Thật là cái cười của ông chủ. Thanh thản, ngạo nghễ. Tốt đếch cười như thế được.

2

Tối, cơm nước xong thì ông Tự bảo Tốt phải làm khai báo tạm trú, để mang giấy đến nộp cho công an xã. Ông gương kính lên, mở sổ. Khi Tốt khai họ tên mình Dương Văn Tốt, cả bọn làm công cũng vừa ăn cơm xong, đang uống nước, tán láo, đang dí mắt vào ti vi thì bất chợt cười ha hả. Tốt tròn mắt ngạc nhiên. Một tay gầy gò, cao lêu đêu, gọi là Đắc, nhanh nhảu bảo: "Anh họ Dương, chơi với dê, phải quá". Tốt nghe thấy thế, cũng cười hi hí lên. Tự nhiên, Tốt thấy mình đã nhập bọn được với họ. Một tay béo ục nói: "Mày cùng họ với Dương lão". Tốt vội hỏi: "Dương lão nào?" Cả bọn lại cười nghiêng ngả. Một anh nói: "Thằng Tần nói thế, tức là bái phục cậu đấy". Tốt càng chả hiểu ra sao cả.

Vừa lúc đó, đã thấy người làm vào báo trại có khách. Khách là ai? Đó là Bình công an xã. Ông Tự quay ra, chửi một tiếng: "Mẹ cha thằng cú vọ. Đánh hơi thính thế. Thằng Tốt đến ban chiều, đã mò đến ngay". Vừa dứt câu, Bình đã lù lù đến sau lưng ông Tự. Một thứ tiếng nói ồ ồ phát ra từ cuống họng: "Rủa tôi à, ông chủ?". Ông Tự ngửa cổ cười: "Không dám rủa pháp luật. Khen thôi". "Thế thì được. Anh bạn này mới đến à?" Tốt nhìn cái mặt đầy đầy của Bình, thấy quen quá. Hay là Tốt giật mình, bây giờ nhìn thấy ai công an cũng thấy quen quen?

Ngày đầu tiên làm quen với công việc, Tốt và Đắc đi cùng một nhóm. Đắc đã kể thia lia những chuyện cũ, cứ như một đứa bé được người lớn hỏi chuyện. Tốt hỏi, nghe ông Tự bảo trước đây có người tên là Quân có dùng chó chăn dê, sao lại đi? Thế này, Quân làm "nghệ" lắm, chỉ phải cái hay gái gẩm. Thế là ông Tự cho đi à? Không, không phải, ông Tự bảo chơi nhiều mà làm nhiều thì hay lắm. Đắc cười ré lên: Ông ấy cũng chơi gái bỏ mẹ, nói gì ai, Quân bỏ đi vì chuyện khác cơ. Vì mất con dê đầu đàn. Tốt à lên: "Chăn dê đàn mất con đầu đàn, nói chuyện đếch gì". Đắc bảo: "Chính là con Dương lão đấy". Cái gì? Tốt đang nằm ngả ngốn trên vệ cỏ, ngồi thẳng dậy, trố mắt: "Dương lão? Gọi con dê ấy là thế à?" Ha ha... Đắc cười ha ha: "Ông Tự gọi là thế, lâu dần cả bọn gọi theo. Con dê cụ đầu đàn thì gọi là Dương lão, những con dê cái dành để phối giống thì gọi là Dương phi, Dương phi một, dương phi hai, ba, bốn... đánh số vào lưng, có con đẹp nhất, tốt nái nhất gọi là Dương hậu... Ông ấy có máu văn nghệ mà. Tôi làm với ông ấy từ ngày đầu, về đây là bãi Cỏ May, toàn cỏ may, ông ấy dựng cổng ghi là Thảo Vân Trang. Ô hô..."

Đang tính hỏi về Dương lão nữa, thì Đắc hốt hoảng bật dậy, chạy ù ra xa, chỗ ấy có mấy con dê đang gặm cỏ. Đắc lùa trở lại.

Trở lại ngồi với Tốt, Đắc bảo: "Nhìn lại đi. Anh chớ có để dê ăn qua cái cọc đỏ kia, nhá". Tốt nhìn qua địa phận cái cọc đỏ đó. Một cái gò um tùm như một con rùa khổng lồ. Đằng sau cái mu rùa ấy chắc là thung lũng, bởi vì đổ bóng lên cái gò con rùa này là một dáng núi uy nghi. Những vùng thung như vậy mới là nơi lý tưởngcho cánh chăn thả. Cỏ non, nước trong. Đắc bảo: "Cho dê qua bên ấy, mà quân thằng Hoặc bắt được, thì chỉ có mất, nếu không, thế nào chúng nó cũng xin một hai con, mình chịu". "Thằng Hoặc?". "ừ, nó là trưởng trạm kiểm lâm. Phát xít lắm, đểu lắm". "Thế là thế nào?" "Là thế. Ngày xưa, trước nó là ông Đông làm trưởng trạm. Ông Đông quen thân với ông Tự, cho ông Tự thả dê thoải mái. Bây giờ, ông ấy bị điều đi rồi, thằng Hoặc lên, cấm tiệt. Ngày xưa, cánh kiểm lâm săn bọn bắt gỗ như đánh trận, bây giờ chẳng thấy họ làm gì, thảng hoặc bắt mấy người vận chuyển, nhưng anh nào cũng giàu tướng".

Tốt thở dài, nghĩ bụng sao cái số mình đểu thế, đi đâu cũng gặp một thằng quái đản. Thế là anh chăn thả ở đây, rồi sẽ phải tay bo với bọn chúng à? Tốt bảo Đắc: "Chuyện những thằng như thế ở đâu cũng có. Thôi cậu kể chuyện Dương lão đi". Đắc bảo: "Mất con Dương lão đâu phải tại tất cả anh Quân, ông Tự cũng góp phần. Nhưng khi mất nó rồi, ông ấy tức quá mà mắng thế thôi, nhưng Quân vốn có ý định ra đi, nên đi. Bây giờ mở cửa hàng lẩu dê ở trên đường Mạo Khê, vẫn hay cho người vào đây lấy dê..."

*

3

Dạo đó, con hươu bị xuống giá tệ hại, ông Hoà chủ trại hươu An Quý bèn đánh tiếng thả hươu vào rừng thành hươu hoang, bèn mời cánh nhà báo đến quay phim, chụp ảnh ầm ĩ. Thành ra lại có người đến mua hươu. Một bận, đang đánh chén, ông Đông kích ông Tự: "Tay Hoà thế mà khôn lại ngoan. ích nước lợi nhà". Ông Tự lầm bầm: "Tôi chả dại" Ông Tự đặt thịch cái cốc: "Cái thứ thú nuôi ngu ngơ, thả nó vào núi chỉ ba bẩy hai mốt ngày nó không chết đói thì cũng chết rét, chết nóng. Là bởi vì cái giống đã quen ăn sẵn rồi, cho nó tự do nó cũng chả nuốt nổi, ông hiểu không?" Ông Đông cười: "Thế thì ông chưa hiểu mấy về tiến hoá. Đấy là nói thứ gia cầm thuần dưỡng lâu rồi, là thú ngoan. Chứ những giống thú như hươu, dê, chó, mèo... là thú khôn, cho nó đi hoang là đi luôn" Ông Tự gật gù: "Có thể nó đi được, nhưng ai bảo thằng Hoặc quân của ông không bắt được chúng nó cắt tiết?" Ông Đông giãy nảy lên: "Có đúng thế chứ? Ông chả dám thả dê thì bảo ngay, sao lại nói vội vã thế?". Ông Tự tức: "Ông lại càng không hiểu gì? Hươu sống bầy, dê sống đàn. Nếu không có con đầu đàn, lạc mấy con vào rừng cũng vô bổ". "A ha... Vậy thì ông cho một con vào rừng làm đầu đàn. Chia đàn, lại có con đầu đàn khác" " Ông Tự đứng lên, mắt trợn lên: "Không bao giờ. Không thể thay Dương lão được". Ông Đông cười: "Đến ông và tôi còn thay được. Chủ tịch, bí thư thay được, Dương lão là con dê chứ là gì?". Ông Tự hần hừ: "Nó là tài nguyên, là nguồn lực của tôi". Ông Đông bảo: "Vậy thì tôi sẽ dụ cho con đầu đàn của ông vào rừng. Ông biết không, tôi đã thả bao nhiêu là trăn, nhím, cu li... vân vân thứ con bắt được của bọn buôn lậu vào rừng rồi, chỉ thiếu đàn dê nữa thì rừng mới đúng là rừng...". Ông Tự cáu: "Thách ông đấy". Ông Đông bảo: "A... ông thách tôi...". Hai ông giơ chén rượu lên, chạm chén mà như đập chén vào nhau đánh chát một cái đến toé lửa.

Đắc kể: "Chả hiểu sao, đúng ba hôm sau, Quân đánh mất con Dương lão và tám con khác. Cả bọn đều ngạc nhiên. Quân chỉ nói không phải tại nó. Ông Tự cầm súng săn đi sang núi Mả Bà kia tìm suốt cả ngày. à, quên, bên đó là núi Mả Bà. Hôm ấy tôi không đi, thằng Tần đi cùng. Nghe Tần nói lại nhìn thấy đúng là Dương lão, nhưng không sao bắt được, cũng chả bắn được. Từ đó, thỉnh thoảng lại mất mấy con dê cái. Con dê cụ ấy ghê lắm, nó dụ bọn dê cái. Bọn đàn bà mê nó mà. To khoẻ, đục khoẻ. Ha ha..." Bất ngờ Đắc cười lăn lộn. Rồi nói tiếp: "Hồi còn ông Đông, ông Đông cho đi tìm thoải mái. Nhưng núi Mả Bà âm u, hiểm trở, tìm chả thấy có khi mất người. Ông Tự vẫn cay cú vì con Dương lão. Nhưng đến khi thằng Hoặc lên trưởng trạm, nó cấm tiệt. Ông Tự vẫn thỉnh thoảng chửi nhau với nó, chỉ vì việc đi tìm con dê cụ kia".

4.

Một tuần sau, người ta đã mang đến cho ông Tự hai con chó. Một ta một tây. Con chó tây to lực lưỡng tên là Bốp, con chó ta thấp hơn, nhưng rất tinh nhanh, là Bi. Ông Tự bảo Tốt: "Xem mặt hàng đi". Tốt thật ngạc nhiên, vì đây là hai con chó đã được huấn luyện rất công phu. Thấy Tốt có vẻ chịu quá, ông Tự tự hào nói: "Không thể nói được lời nào chứ gì? Này, nó là học viên trường cảnh khuyển ra cả đấy". Rồi ông chép miệng: "Giao nó cho cậu nhá. Tớ mua hai con chó này bằng tớ thuê bao nhiêu người làm công trong cả năm đấy".

Tốt mang Bốp và Bi đến "làm quen" với con dê đầu đàn. Khi đó, gông cửa vừa rút ra, con đầu đàn đang đứng hiên ngang trấn áp ở cửa. Thật là một thằng đẹp mã. Dáng vóc to lớn hơn bầy đàn, mặt to hơn, tai vểnh hơn bầy đàn. Râu dài, mặt nhẵn. Nó ti hí đôi mắt dâm đãng nhìn các cô dê đang chen chúc ra phía cửa, rồi lần lượt, với từng cô một, nó làm gọn một cái bản năng đực cái. Nó làm cái chuyện cực khoái ấy như là nghĩa vụ, như là không có chuyện ấy thì nó chả phải là đầu đàn hay sao? Trong khi ấy, mấy chú đực non "phó đàn" thì láng cháng luẩn quẩn ở gần đó. Ông Tự lù dù ra chỗ đàn dê, thấy Tốt dẫn hai con chó đứng ngây ra nhìn cảnh dê ra đàn, bèn chỉ con đầu đàn, cười hô hô: "Thủ trưởng đang bận hử? Đợi tý, đợi tý, nhá". Tốt bảo: "Anh có con đầu đàn cự phách đấy". Ông Tự vẫncười ha hả: "Hắn có phong độ không? ái chà, đúng là hoả hán lẫm liệt nhá. Thật là một tay chơi sành điệu". Ông Tự nói xong, liền đi một bài quyền, bài tập thể thao buổi sáng rất ưa thích của ông ta. Lát sau, con đầu đàn đã chan chán, bèn khủng khỉnh bỏ ra ngoài, lúc đó mấy chú đực non mới tranh nhau thế vào chỗ cửa chuồng. Ông Tự chợt dừng tập, nhìn con dê đầu đàn, bảo: "Trông kìa, đĩnh đạc nhỉ? Ra dáng nhỉ? Đồ trai lơ dâm đãng. Nhưng mày thế thôi, làm sao sánh được với Dương lão". Ông quay lại bảo Tốt: "Con này đếch thể nào sánh được với con đầu đàn tớ đã bị mất, con Dương lão ấy. Bên cạnh nó, con này chỉ xứng là Dương gia tướng". Tốt bảo: "Em có biết sơ sơ. Hình như nó chạy vào núi Mả Bà?" Ông Tự gật gật: "Phải, phải... Bao nhiêu năm có khi mới được một con dê như thế. Nhất định tao phải tìm bằng được nó mới được".

5.

Hôm ấy, mặt trời gần đứng bóng, thì bỗng ông Tự xuất hiện ở chỗ thả dê của Tốt, gần ngay núi Mả Bà. Ông đi ủng, đội mũ trùm, nai nịt gọn ghẽ, tay cầm khẩu súng săn. Ông đi cùng Tần, bảo Tốt: "Mày để con Bi lại cho thằng Tần trông dê, dắt con Bốp đi với tao". Đi đâu? Ông Tự khoát tay về phía núi Bà. Tự tròn mắt: "Sao bảo cấm? Nghe nói thằng Hoặc...?". Ông Tự bảo: "Lúc nào cũng sợ, làm được cái gì?". Tốt định cãi, nhưng thôi, lầm lụi dắt Bốp đi. Lúc nãy, Tốt nhìn thấy Hoặc đi đâu cùng với Bình công an xã ngang qua chỗ cửa rừng, đi về phía làng. Tốt im lặng. Ông Tự lại sừng sộ: "Mình đi tìm dê chứ có chặt gỗ đếch gì đâu mà sợ chúng nó"

Đi qua cái đồi mu rùa đã khá vất vả. Nhiều bụi cây sim, mua và cây leo rậm rịt. Chỉ nhậnra đường mòn nếu nhìn kỹ, thấy có một khoảng cách thưa hơi bất thường giữa những bụi cây làm thành một vệt dài. Tốt cứ theo bước ông Tự mà lần theo. Đi rừng lạ, cũng như lội nước, cứ theo sau mà chắc. Qua đồi mu rùa là nhìn thấy một thung lũng rộng và phải vượt qua cái thung ấy mới đến núi Bà. Chà chà... Dường như bắt đầu nếm mùi của rừng rậm nhiệt đới hay sao thế? Từ trên lưng đồi, tịnh không thể nhận thấy một hoạt động của bất cứ sinh vật nào dưới cái tán cây xanh ngút ngát. Khi tụt xuống dưới thung rồi, mới thấy như lạc vào âm u cái thế gian khác hẳn không dành cho con người. Muôn vàn tiếng chim chóc nhí nháu, ve reo ran rát cao tít, sâu bọ và rế nỉ non như từ ruột đất, con gì tác lên gần đâu đây như hoẵng, còn tắc lưỡi xa xăm chính là tắc kè? Và cái nền âm thanhrì rào của gió... Trên đầu thấp thoáng ánh mặt trời, còn dưới chân loáng ướt vẫn những giọt sương còn lại từ đêm. Con Bốp tung tăng, há há mồm, chỉ muốn sủa, ông Tự bảo: "Mày cho nó câm họng đi nhá. Tụi thằng Hoặc chúng nó nghethấy rắc rối lắm". Tốt bảo ông Tự: "Thế giới rừng rú này nguyên lành chả phải cho người. Cứ ở đâu có người là có phá huỷ". Ông Tự bảo: "Chả mấy ai đến cái chỗ âm u này. Tên gọi núi Mả Bà đã nghe chết khiếp. Chỉ có tao và lão Đông là hay lang thang vào đây, bắn con cầy, con dúi, thui tại trận làm vui ngày chủ nhật thôi. Nay cái thằng đểu Hoặc ra cái vẻ giữ gìn, mới cấm thế chứ". Hai ngời bắt đầu leo lên. Ngay cả đường lên cũng phải leo đúng vào chỗ đã có vết người leo lên trước, có khi chỉ có đúng một chỗ đặt chân, đã được tạo ra vì một nhát dao phát cành, chỗ cành cụt đã u lên cục sẹo cây. Tốt bảo tại sao lại gọi là núi Mả Bà? Ông Tự thở hổn hển nói lào phào, rằng hình như ngày xưa có một phu nhân, chồng bị giặc phương Bắc giết, bà liền chạy vào núi này sống qua ngày rồi chết, thành ra gọi là Mả Bà, hay gọi núi Bà đều được. Ai chà... cái cụ bà ấy cũng ghê khiếp, chạy lên đây thì bố thằng nào tìm được.

*

6.

Lên đến chỗ sườn núi cao, lại phẳng như một cái chiếu, ông Tự thở dốc, ngồi phịch xuống nghỉ. Con Bốp bỗng sủa khan mấy tiếng, lồng lên. Ông Tự hỏi Tốt: "Nó bảo gì đấy? ở đây thì sủa thoải mái, bố thằng Hoặc cũng chả nghe được". Ông vuốt mõm con Bốp: "Có mà tru lên như sói cũng được, bõ câm mõm từ lúc nãy nhá". Tốt bảo: "Có dê đấy". Ông Tự đập tay vào nhau: "Tao bảo mà. Thằng Dương lão phen này thoát sao khỏi tay tao? Lần trước đếch có chó đánh hơi, cứ đi loạnxạ, chả đâu vào đâu"

Ông Tự bèn lấy ống nhòm ra quay về hướng chó sủa. Rồi đưa ống nhòm cho Tốt: "Mày tinh mắt nhòm đi. Tao nghe vậy. Hình như có tiếng dê phía này..." Tốt quay ống nhòm theo tay ông ấy chỉ. Cây đan cài nhau trước mắt. Có tiếng chim dú dí.Đây rồi. Một cái tổ chim dù dì. Tốt bảo ông Tự: "Tiến ra kia chút nữa. Có chim dú dí thế nào cũng có dê". Ông Tự luồn cành cây, nói: "Bắt cho tao một đôi chim ấy thì hay quá. Con này ăn cỏ dâm dương hoắc, con đực bé, con cái to, một ngày quại nhau đến trăm phát vẫn tỉnh bơ, vẫn kêu ít ít, cứ dí, cứ dí". Tốt bật cười: "Con dê đực một ngày cũng đến trăm phát, sao ông không ngâm vào bể rượu mà uống". "Mày đếch biết. Mỗi thứ bổ một cách. Tao bắn con Dương lão, chỉ xin lão bộ cà pháo, tẩm với thuốc bắc. Nó thì chỉ được cái của ấy là bổ. Thịt dai ngoách, hôi xì xì. Thỉnh thoảng tao vẫn phải dùng thứ ấy đem cúng". "Cúng?" "ừ, tao thích thì thần thánh cũng thích, có gì lạ?".

Bây giờ thì đã có thể nhìn thấy đàn dê lồm ngồm hơn chục con. Ông Tự soi, lầm bầm: "Chưa thấy Dương lão đâu. Toàn các mụ mông xệ cả. Mẹ kiếp, đúng là dê nhà ta, mà bây giờ lại thành dê hoang của nhà nó. ái chà, Dương hậu bốn đây rồi. Phởn phơ nhỉ? Nhưng gầy lắm con ạ, không như hồi ở với bố mày, nhá. ở đây không đói thì chỉ có mấy mụ, lão Dương quại cho đứa nào cũng ốm o, phải không?". Ông Tự buông ống nhòm, bảo: "Lão Đông bắt dê là ý tốt, thả vào rừng, giữ rừng. Nhưng thằng Hoặc bắt dê của tao là nó chơi đểu tao, tức tao. Kể ra còn lão Đông, tao cho qua, nhưng nay thằng Hoặc thì tao không cho nó được".

Tốt nhìn thấy một con dê to hơn hẳn bầy đàn đang khệnh khạng đi về đàn. Chắc nó rồi. Thật là hùng dũng. Hắn đứng hai chân trước trên một tảng đá, cái đầu ngẩng cao, chòm râu nhọn chìa ra dáng một trang quân tử lắm. ức ngựa, cổ hổ, lưng sư tử, chỉ có cái bụng sau của nó đúng là dê. Cái của mà ông Tự muốn ngâm thuốc bắc bây giờ đang thô lố, nghễu nghện, phô trương quyền lực với bầy đàn và với núi rừng. Ông Tự giằng lấy ống nhòm, đưa lên mắt, reo: "Có thế chứ. Kính chào Dương lão. Đã lâu không gặp, có khoẻ không? Chắc kham khổ lắm? Cả một đàn hàng trăm cung nữ, cung phụng đến nơi thì không ở, ra đây sương gió làm gì? Nhưng ra đi không nói một lời, hôm nay xin đắc tội với Dương lão đây...". Ông Tự nhét ống nhòm vào túi, xách súng, nghển cổ nhìn, bảo Tốt: "Tiến lên một đoạn nữa. Khẽ nhá".

*

7.

Loanh quanh rất lâu, ông Tự mới chọn được một chỗ phục kích kín đáo mà gần mục tiêu. Có thể thấy đàn dê rõ ràng. Bây giờ, cả đàn đã đứng như là nghỉ ngơi, như là thư giãn, túm tụm vào nhau. Dương lão đủng đỉnh đến từng con một, cọ mình vào như là trêu ghẹo. Ông Tự gương súng lên, lầm bầm: "Trai lơ gớm. Lãng mạn gớm..." Cả mấy con dê cái bỗng xúm lại. Con dê đực đầu đàn kia chợt nhẩy quẩng lên, cất tiếng "e he he" vang rền. Rồi nó thực hiện ngay điệu khiêu vũ đực cái của loài dê. Thật khác với cảnh gấp gáp mỗi sáng ở cửa chuồng thả dê của con dê đầu đàn mà Tốt đã thấy. Con Dương lão làm cái việc dê của nó ở đây một cách cẩn thận, đĩnh đạc, trang trọng. Ngẩng cao đầu, kêu một tiếng rền rã, hứng khởi, nó lại tiếp tục. Cả đàn xoay quanh nó, hân hoan. Ông Tự đang ngắm bắn bỗng bỏ súng xuống, ngồi thừ ra. Tốt hỏi: "Thế nào?". Ông Tự chả nói gì, mặt ông đã đỏ lại càng đỏ, đôi mắt lấp lánh thì đã lờ đờ, ông nói: "Chả thế nào. Thôi tao lại nghĩ khác. Kệ mẹ nó". Ông ta đập nhẹ vào lưng con Bốp, Bốp liền sủa ung ủng. Đội Dương lão bỗng chạy nhao nhác. Thoắt đã biến mất như chưa hề có con dê nào. Ông Tự bảo: "Bất lịch sự thế Bốp. Mày tứ khoái thì có ai pháđám không?"

Ông Tự trỏ xuống phía núi đối diện với lúc lên: "Xuống lối này. Xuống dễ nhưng đi về nhà bị vòng một chút. Còn thì xuống lối cũ là tao chịu đấy". Bước đi, ông lại nói:"Nước đời xuống khó hơn lên. Ha ha...". "Lối này dẫn đến trạm kiểm lâm à?"."Không phải. Chếch đằng kia, đây rừng thưa hơn, tất nhiên vào đến đây đều qua trạm cả".

Đang tụt tạt ở sườn núi, bỗng con Bốp lồng lên, sủa ăng ẳng. Mấy phút sau, hai tay kiểm lâm xuất hiện, lăm lăm A ka. ái chà, bố già bố biết quá là rừng cấm, sao còn khó nhọc thế? Tao đi tìm mấy con dê thôi. Đi từ đâu lên? Nhất định phải dẫn bố vềtrạm lập biên bản. Lập cái cứt, tao đi tìm dê chứ có ăn gì vào rừng của quốc gia đâu. Nói rõ xem các anh đi từ đâu? à, từ bố sang anh hả? Chúng tôi thi hành công vụ... Chuyện thành đôi co, hai tay có súng rất cáu, chỉ hỏi hai người đi từ đâu lên, đi những đâu, ông Tự cuối cùng đành xử nhũn, thì thôi, tao không nói gì, tao về thôi... Nhưng cả hai thày trò vẫn bị hai tay kiểm lâm áp giải theo lối qua trạm.

Trên đường về, vẫn còn tức, ông Tự lầm bầm: "Nó phải biết tao chủ trại, tao cần đếch gì trộm rừng. Tao là lâm tặc à? Mẹ cha nó, nó lại cũng coi tao như kẻ thù". Ông Tự đang màn độc thoại thì gặp ngay Bình đeo cái cặp ở hông. Ông Tự kể chuyện đi tìm dê, nói toang toác như là trút giận. Bình ậm ừ, lát sau ngước cái mắt cú vọ lên, nói: "Tức là chúng nó chỉ quan tâm bác đi từ đâu, đi vào đâu, chứ không quan tâm bác và cậu này lấy cái gì chứ gì?". "Chính thế?". "Tức là chúng nó quan tâm xem bác và anh này nhìn thấy gì?". "Hay quá". Bình trố mắt cú: "Bác bảohay cái gì?". "Là mày hỏi hay quá. Tao không nghĩ ra?". Bình cười: "Thế thìnghĩ đi. Có gì mới bác phôn cho tôi nhá".

 

8

Cuộc sống cứ tuần tự như tiến. Sáng lùa dê đi, tối đánh dê về. Bây giờ, ông Tự chả còn cái ấm ức tiếc con Dương lão nữa. Bây giờ, tối tối Tốt không chỉ xem ti vi, đã có thể lần vào xóm cách hai cây số, sà vào quán Quỳnh Hương khà khướt, cái chính là để nhìn thấy bóng đàn bà con gái, cải thiện nhịp sống toàn dê và đàn ông ở Thảo Vân Trang. Nếu trong túi có tiền thì sang quán karaoke hát mười nghìn một giờ, có tiếp viên mười nghìn nữa. Bọn tiếp viên xóm núi ban ngày đi lấy củi, trồng đậu, tay chân thô ráp, đen thủi. Chỉ có cô Quỳnh Hương là ngon lành, nhưng tối nào cũng mấy tiểu đội trai làng lẫn công nhân đến phục như ăn vạ ở quán, trong số đó có Bình công an xã. Bình nhìn bọn thanh niên cái nhìn bắt tội phạm, còn bọn thanh niên thì chăm chăm qua mặt luật pháp. Tất cả đều hiền lành như cành giao với Qùynh Hương.

Tốt chả có ý định cưa cẩm cô Hương, cũng chả khủng khỉnh với Bình. Tốt là một ca riêng rẽ. Quán Quỳnh Hương cần món tái dê và lẩu dê ngon, hay cho người vào tận trại Cỏ May để lấy dê. Mà Tốt là tổng chỉ huy lũ be be, cứ có người quán Quỳnh Hương bảo "chọn cho một em non tơ mười tám" thì chỉ có Tốt chỉ con nào là chính xác con ấy. Thành ra em Hương trắng ngần kia có nể Tốt ra mặt thật.

Có lần, nhìn thấy Tốt đi về ống quần đầy cỏ may, ông Tự bảo: "Quên mẹ nó cái con Hương bạch tạng ấy đi. Thiếu chó gì con gái trên đời này. Nên lấy một đứa làm vợ, mà con ấy không thể làm vợ tốt được. Rồi thì chơi bời nhiều đứa. Mà con Hương ấy lại cũng không thể chơi bời được". Tốt chỉ cười.

Tối ấy, Tốt đang định đi chơi quanh quẩn thì thấy tiếng ô tô pim pim ở cổng. Xe lù lù tiến vào. Xe của kiểm lâm. Trên xe là Hoặc. Và... Thật bất ngờ, nhảy xuống xe có cả Qùynh Hương. "Em tiện đường nhờ được xe vào đây mua dê". Ông Tự nhìnthấy Hoặc và Hương thì nheo mắt quái, nhưng nở nụ cười chủ khách: "Ô hô. Toàn khách quý...". Hoặc ngửa mặt cười, bảo: "Hôm nay tôi làm công cho ông đây". Ông Tự ngạc nhiên. Hoặc bảo lái xe: "Cho xuống đi". Lái xe mở đít xe. Lẳng ụych xuống một con dê đã chết rồi to như con bê. Hoặc ngoác miệng nói: "Ông xem kỹ đi, có phải nó không? Có phải con dê đầu đàn của ông trên núi Bà không nào?". Ông Tự đi loanh quanh con dê, lật lên xem xét. Một vết đạn bắn tứa máu chỗ vùng ức. Ông Tự gật gù: "Bắn được đấy". Hoặc khoái: "Chứ lại không? Kiểm lâm nó tương thì xuya lắm".

Tốt đứng ngay đơ. Hết nhìn con dê lại nhìn ông Tự. Hai người khách này có thể dửng dưng với Dương lão, chứ ông Tự cũng có cái vẻ dửng dưng thế nhỉ? Ông ta đã từng run tay với nó cơ mà? Bây giờ cũng gật gù khoái chí là thế nào? Tốt không thể nào quên được cảnh tượng hoan lạc bầy đàn những con dê núi Bà hôm ấy. NàyDương lão, anh hùng thôi đã sa cơ...

Ông Tự cười khà khà: "Được lắm. Được lắm. Nay xin trả công kiểm lâm chứ nhỉ?" Hoặc bảo: "Tuỳ cụ thôi. Từ nay cụ và đệ tử khỏi phải vất vả". Hương nói: "Thì bác Tự cứ trả anh ấy con dê tơ cho các anh ấy liên hoan". Ông Tự hùng hồn: "Tớ trả luôn hai con. Tần ơi, lấy hai con cho anh Hoặc" Quay sang Hương: "Cô lấy một con chứ gì? Tốt mày chọn cho nó một". Hương cười nguây nguẩy: "Nếu mà bác cho anh Hoặc hai con thì cháu xin anh Hoặc một con, anh Hoặc nhỉ". Hoặc bảo: "Vô tư đi, em xin anh mấy con anh cũng cho". "Phải gió cái nhà anh này, nói ngay thì nghĩ ra queo". Có thể thấy Hoặc rất vui mừng.

Hương đi lại gần Tốt, bảo: "Anh Tốt, chiều mai có bận gì không, ra quán em nhá". "Mai tôi bận rồi...". "Thì cứ ra một lát thôi. Hay là để anh Tần trông dê cho. Em cócái này nhờ...". Tốt chả biết làm sao. Đã lâu rồi không có người phụ nữ nào nói với Tốt giọng rủ rê như thế.

Khi xe Hoặc và Hương về rồi, ông Tự mới đá vào con dê đực chết nằm đó, nổi cáu: "Mẹ cha nó, nó lại lỡm ông à?". Ông ta gọi toáng lên: "Tần, làm con này đi vậy. Cắt hai quả cà cho tao". Khi Tần mang hai quả cà lên cho ông Tự thì ông vừa phôn cho ai, lại sửa soạn đi đâu đó. Tốt định hỏi, nhưng thấy ông hát ư ử, lại thôi. Vừa quát tháo xong, lại hát được, lão già này văn nghệ thật. Ông Tự mặc quần áo xong, để bộ cà dê vào cái túi nhựa, trang trọng đặt lên bàn trước mặt mình, nói: "Thưa đồng chí chủ tịch huyện, đây chính là bộ hộp số con Dương lão nổi tiếng của tôi mà tay Hoặc đã bắn được chiều nay". Tần nhìn ông Tự, cười khúc khắc. Tốt cũng buồn cười, nhưng không cười. Hoá ra ông ta mang nó đi biếu chủ tịch huyện. Tốt đã nghe nói ông chủ tịch huyện có cái tính chả cần rượu ngoại rượu nghiếc gì sất, cứ cái của này hầm thuốc bắc là thịnh nhất. Ông Tự nói với cái túi cà dê: "Kính chúc đồng chí dùng thứ này, tráng dương bổ óc, làm cho huyện giàu, dân lành, rồi thì phát triển trang trại, thì trang trại Cỏ May của tôi cũng có phận nhờ. Xin đồng chí xét đơn xin của tôi thuê năm mươi héc ta đồi Mu Rùa, cái đơn ấy để đã mốc ra rồi". Nói đoạn, đứng lên, xách túi cà dê, bảo người làm: "Xuất phát, nhỉ?".

*

9

Chiều, lùa dê về, Tốt mới nhớ ra chuyện Hương hẹn, bảo Đắc: "Chết tao quên, hôm nay định nhờ thằng Tần hay mày trông cho một lát".

Không hiểu sao, hôm nay, nhìn lên núi Bà, Tốt cứ có cảm giác trống trải, cô đơn, yên lặng, buồn buồn thế nào ấy. Có phải là mọi khi trong tâm tưởng của Tốt, trong bóng núi âm u đồ sộ kia, có câu chuyện thực hư về một con dê đầu đàn tự do nhảy nhót. Rồi sau cái ngày chứng kiến đàn dê, mỗi khi nhìn lên núi Bà, Tốt lại thấy một triều đình hoan lạc ở đó. Ông vua Dương lão với một bầy cung nữ. Còn bây giờ cái triều đình ấy tan tác, ông vua tử trận. ở đâu có người, ở đấy có huỷ diệt, thế à? Trong đầu óc Tốt, chiều nay chả còn chỗ nào cho cái hẹn của Quỳnh Hương, nên quên khuấy đi.

Sâm sẩm tối, vừa cơm nước xong, Tốt đến quán Quỳnh Hương. Cô Hương nhìn thấy Tốt, coi như không nhìn thấy. Tốt nhấm nháp ly cà phê xong bỏ ra về. Tối chả ngủ được, anh ta lần ra ban công đứng. Ông Tự đến đằng sau Tốt, vỗ đùi đuổi muỗi đen đét. Ông ta chỉ lên trời đầy sao đang nhấp nháy: "Đẹp quá chứ nhỉ. Mày có biết sao thần nông không?" Tốt bảo không, bao nhiêu ngày nhìn lên trời sao, song Tốt chả bao giờ để ý sao nào với sao nào. "Thế thì không được. Cánh chăn nuôi phải biết sao thần nông. Kia là cái lưỡi câu. Kia là con vịt. Lão ta chăn vịt đấy. Thế mà thành thần. Bây giờ chăn dê không hơn thần à?". Tốt cười hừ hự, thấy cay đắng. Ông Tự nói: "Mày cứ chí thú ở đây với tao, tao gây dựng cho. Cả một đời công chức, lại là công chức cao cấp đáy nhá, thế mà cuối cùng chỉ là số một. Từ ngày nuôi dê, tao mới được là số chín. Mày bắt đầu từ trai trẻ, chả lẽ không nên gì ư? Nhưng phải học nhiều. Không phải chỉ cắp sách đến trường mới là học, nhá" Tốt biết nói gì? Nhìn lại, đúng là ông ta đang cầm một quyểnsách to, phe phẩy như quạt. Trước ông ấy, anh ta chỉ là con kiến. Ông ta là ông chủ, ông ta thông thái, Tốt chỉ là một thằng thất cơ lỡ bước, chưa nên trò trống gì.

Sáng, chuẩn bị lùa dê đi thì Bình đến. Bình bảo ông Tự gọi Tốt lên, vẻ mặt nghiêm trọng: "Anh phải ra xã khai báo thành khẩn?". Tốt đứng ngay đơ: "Cái gì?". "Có người tố cáo anh có tiền án, nhưng trong khai báo tạm trú, anh không khai gì". Tốt như bị rút hết xương. Thì ra chuyện đó đấy. Ông Tự nhìn Tốt qua cập kính trễ: "Sao mày không nói rõ. Mà cái lão Đạm khi giới thiệu mày cũng chả nói gì cả?". Tốt bình thản bảo: "Tuỳ các anh thôi. Tôi chăn dê được chính là nhờ thời gian ấy đấy". Bình bảo: "Vì có tố cáo, nên tạm thời anh cứ phải theo tôi về xã làmrõ. Có thể mai mới về trại, bác Tự nhá". Ông Tự đứng lên bảo: "Thế là anh bắt người của tôi à?" "Đâu có, bắt phải có lệnh bắt. Đây là mời về xã thôi".

Bình hỏi Tốt rất cặn kẽ mọi chuyện. Không thân tình, không hống hách. Cứ đều đều. Hôm qua chăn thả những đâu? Thấy những ai? Lương ông Tự trả bao nhiêu? Hỏi loăng quăng. Lại hỏi Hương hẹn bao giờ, bảo Tần trông dê hộ à? Tốt nhớnhững lúc Bình đến quán Hương, cũng nhìn Hương bột như thể cái bánh bao lớn ăn được, bèn bảo: "Tôi biết tôi, tôi không chơi chèo vào con bé ấy đâu". Bình chả tỏ thái độ gì, mặt vẫn tỉnh không, rồi bảo: "ở đây chơi chiều về. Yên chí đi". Tốt cáu kỉnh: "Có tiền án thì lúc nào cũng là án à?". Bình lừ lừ, chỉ nói: "Yên chí đi".

Tốt ngồi yên lặng trong gian nhà công an xã, ngẫm lại lúc bị Bình dong qua xóm bao nhiêu con mắt nhìn, thấy chả lẽ đời mình chả bằng con dê. Mình đã trốn chỗ ồn ào phố xá, làm lại cuộc đời, cũng hỏng là sao? Hoá ra người ta thành kiến như nhau cả thôi. Làm thằng chăn dê cũng không xong, còn nói chi làm con dê. Tốt bó gối, mơ thấy mình phiêu diêu như Dương lão, đứng kiêu hùng giữa núi rừng, chỉ xuống bầy đàn, thét một hơi xao xác chim muông, muốn sướng lúc nào được ngay lúc đó. Tuyệt trần đời.

*

10.

Sáng hôm sau, không thấy Bình đâu, một người khác có vẻ rất vui vẻ, đon đả bảo Tốt về, lại bảo mọi chuyện êm rồi, chả có gì phức tạp cả, Tốt cũng có cái sai là giấu một đoạn sự thật cuộc đời quá khứ. Tốt chả nói lời nào, bỏ đi ngay, ngang qua quán Quỳnh Hương, thấy đóng im ỉm, bèn đi một mạch ra bãi chăn thả. Thằng Đắc thì đang nằm dài trên bãi cỏ, mặc kệ hai con chó chạy quẩng xua dê. Hai thằng Bốp và Bi vẫy đuôi chạy lại, nhảy lên cào vào ngực Tốt, lè lưỡi, hực hực. à, Bốp và Bi, chỉ có chúng mày mừng khi thấy tao.

Khi thấy Tốt, Đắc vội hỏi: "Anh Tần đâu?". Tốt ngớ ra. Đắc bảo sau khi Bình đến đưa Tốt đi, thì cũng có tay công an đến đưa Tần đi nốt, tưởng Tốt và Tần bị giữ cùng một nơi. Tốt hỏi: "Thế anh Tần cũng có tiền án à?". Đắc lắc: "Làm gì có. Em cùngxã, biết anh ấy mà". Tốt nằm uể oải. Chán. Đắc bảo: "Chắc họ bắt nhầm còn hơn bỏ sót".
Tốt bảo: "Đắc, mày có biết ông Quân bị mất con Dương lão thế nào không?". "Nói thật nhá. Vì gái". "Thế nào?". "Em đã chả nói Quân ham gái mà. Hôm ấy ông Đông xui mấy tay kiểm lâm kiếm cớ rủ Quân đi karaoke, lại chắc có tý công đoạn z. Trong lúc ấy, Dương lão bị lùa đi. đến lúc về, Quân cứ ấm ứ, đếch nói được gì với ông Tự. Nghe nói trước lúc Quân đi, đến cãi nhau với ông Đông"

Ngồi một lúc, Tốt dắt con Bốp bỏ đi về phía đồi mu rùa. Ngày thường Tốt hay chăm chỉ xem xét đàn dê như thế, Đắc hay bảo lắm khi Tốt bỏ công hơi quá. Hôm nay, Tốt đi vòng ra sau, suỵt con Bốp lùa thằng dê đầu đàn và vài con dê nữa về phía đồi mu rùa, bắt cả chó lẫn dê chạy như chạy giặc. Lát sau, Tốt đã đối diện với lòng thung lũng, núi Bà sừng sững trước mặt.
Hít một hơi dài, Tốt thấy người nhẹ bẫng, rồi xua cả bọn dê chó đồng hành xuống thung lũng. Bọn bay, đến đây mà chơi, lên núi Bà mà ở! ở đâu cũng được, đừng ở với người! Tốt bước đi như theo quán tính, kệ con Bốp kêu hích hích. Vừa tụt xuống thung được mấy bước thì thật bất ngờ, một người hiện ra. Và lại một người nữa. Ông Tự đấy. Và Bình. Ông Tự cầm cái thước dây và một quyển sổ, Bình đeo cặp. Tốt chết đứ đừ tại chỗ.
Ông Tự nhìn thấy Tốt, ông cũng đứng ngay đơ ra, há mồm ra. Rồi cười ha ha ha ha. Tốt
định bảo, bắt được tôi ở đây, ông xử thế nào thì xử. Ông ta nheo mắt nhìn Tốt, đôi mắt lấp lánh như có lửa. Tốt tiến thoái lưỡng nam một vài giây, rồi quay ra, bảo con Bốp xua dê trở lại, leo trở lên đồi mu rùa.
Ông Tự bảo với Bình: "Thằng Hoặc vừa bị toi xong, cậu Tốt cũng đã thoải mái dạo đến đây rồi" Tốt nghe thế ngạc nhiên quá, bảo: "Hoặc sao rồi?". Bình bảo: "Bắt rồi chứ sao?". Ông Tự tròn mắt: "Mày không biết à? Thế vậy thì mang con Dương
gia tướng đi đâu?". Tốt chả nói gì, đừng im thin thít. Ông Tự nhìn tận mặt Tốt, kêu lên: "A, hoá ra cậu lại định thuổng của tớ con đầu đàn này nữa thả vào núi Bà đấy à?". Nói rồi ngửa mặt lên cười ha ha: "Có lão Đông ở đây, có khi lão ấy tuyển mày vào kiểm lâm cũng nên. Ai lại mang dê đi thả vào rừng thế này?". Bình cười khà khà. Ông Tự bảo: "Thế mày tưởng thằng Hoặc lừa được tao, bảo là bắn chết con Dương lão của tao rồi à? Không đâu. Nó là cái thớ gì mà nhi nhoe qua mặt tao, tao nhìn con dê đực to xác ấy là biết ngay. Nhìn vết đạn bắn gần làbiết ngay... Tao đọc vị ra ngay, không muốn cho ai lai vãng đến chỗ có bọn trộm gỗ, ra vẻ canh rừng nhưng không biết gì, lại còn làm bộ bắn hộ con Dương lão..."
Tốt ớ cổ ra. Hoá ra... Xâu chuỗi những sự kiện rời rạc lại với nhau, Tốt thấy sáng ra. Thế
còn thằng Tần? Bình nói: "Một mình thằng Hoặc thì không làm được trò trống gì. Có bọn nhân viên tiếp tay, có trụ sở liên lạc là quán Quỳnh Hương, trong khu vực chỉ có những người chăn dê là hay lảng vảng đến chỗ hẻo lánh nhất, thì Hoặc mua được Tần". Tốt bảo: "Thế ra nó định "điều" tôi ra quán Hương là để thằng Tần làm việc cho chúng nó?" Bình cười. Hoá ra chỉ mình Tốt là ấm ớ. Ông Tự không bị lỡm, Bình công an không bị lừa? Tốt ngồi phịch xuống.
Tối khuya hôm ấy, ông Tự vẫn đọc sách, Tốt lần đến, nói: "Cám ơn anh, nhưng em phải đi thôi". Ông Tự bảo: "ấy chết, cậu tính đi đâu?". "Em đã đi tù chăn dê, chỉ có
em và dê. Nay không tù chăn dê, có người... Nhưng em chưa thành người". Ông Tựquắc mắt: "Sao lại nói thế. Cậu hay lắm, rồi đâu vào đó. ở đây là làmnên". Tốt ra ngoài ban công. Trời đêm hằng hà sa số ngôi sao như vạn vật trên tráiđất. Có những ngôi sao sáng rõ, có ngôi không nhìn thấy mà thực ra vẫn sáng, lạicó ngôi mờ ám..

11.

Hôm sau, Dương Văn Tốt từ giã trang trại Cỏ May và câu chuyện này đã có thể kết thúc được rồi. Con Bi và Bốp theo Tốt đi một đoạn xa, đuổi mãi, chúng nó mớibuồn bã quay lại, nhưng chưa về hẳn, cứ ngồi ở vệ cỏ, nhìn theo. Xin chào, rồi códịp thế nào tao cũng còn quay lại. Tốt không thể kìm được lòng vương vấn, bèn ngoái nhìn lại trang trại của ông Tự một lần nữa, cái cổng "Thảo Vân Trang" chìm vào cây lá, chỉ còn nhìn thấy cái chóp nhọn của ngôi nhà trắng.
Vừa lúc đó thì anh ta thấy một người phía trước đang hăng hái đi bộ ngược chiều tiến đến gần. Đó là một người đứng tuổi, ăn mặc xuềnh xoàng. Ông ta cười tươi: "Này cậu, cậu từ trại dê hay từ trạm kiểm lâm đi ra đấy?". Tốt ừ hữ, chả mặn mà lắm: "Từ chỗ đó. Ông đi mua dê à?". Ông ta cười hê hê: "Tớ trước kia ở
đây, nay lại về lại thôi". "Thế à? Anh về trại hay về trạm?". "Tớ về trạm kiểm lâm, trạm trưởng". Tốt nhìn lại ông ta, ngạc nhiên tột độ, vội bảo: "Anh là Đôngà?". "Tớ đây? Sao cậu biết?". Ông ta chìa tay ra, Tốt nắm lấy bàn tay thố tháp của ông ta, hồ hởi bảo: "Chính là bắt đầu từ chuyện Dương lão đấy".
Kinh Môn- Hải Phòng
4/2001
Chưa có bình luận nào !
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : lool21
Bài viết khác