Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Duy Minh

Bình Luận của Duy Minh

Nhiều lần đọc những bài viết của nhà văn, biết bác người xứ Đông cháu cũng cảm thấy đồng cảm như người đồng hương. Liệu có một ngày nào đó, Hải Dương và Hải Phòng có thể nhập lại làm một, cái tên Hải Đông có lẽ thích hợp hơn cả. Thật buồn là đến giờ nhiều người ở VN (bao gồm không ít người có uy tín trong các ngành văn hóa, giáo dục, sử học) và cả những người Việt sống ở hải ngoại vẫn cho rằng nhà Mạc ra đời là một sai lầm của lịch sử VN và Mạc Đăng Dung cắt đất cho ngoại bang! Hành động hạ mình có vẻ thái quá của Thái thượng hoàng nhà Mạc (lúc này ông không còn làm vua nhưng nhiều người không quan tâm chi tiết lịch sử này) sau này vua nhà Lê trung hưng lặp lại thì lại được sử quan triều Lê-Trịnh cho qua! Giờ đang sống trên mảnh đất Nam bộ vốn là đất cũ của Chân Lạp, cháu tự hỏi không có thế kỷ 16 với những biến động lớn thì liệu dân Bắc Hà chúng ta chỉ có mỗi cái chốn Hà Thành để tranh giành quyền cai trị lẫn nhau hết đời này qua đời khác thôi sao?
Nguyễn Việt Long

Bình Luận của Nguyễn Việt Long

Chi tiết "lãnh tụ cực tả của QDĐ Lão Trung Kha" viết sai tên. Chả có ai là Lão Trung Kha cả, đó là Liêu Trọng Khải.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Tôi không rành về Lào cho lắm, nên không hiểu chế độ hiện nay như thế nào? Nhiều khi thấy thế giới phân loại các quốc gia cộng sản gồm 5 nước thì có Lào. Nhưng đọc một văn bản của Cộng đồng Châu Âu xếp loại 4 nước cộng sản trên thế giới thì không có Lào. Nghe nói, họ còn bảo VN sang mà đưa tượng ông cụ về đi.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Truyện Ngắn
Bi kịch chiến công.
 

*

Tôi nhận đuợc cú điện thoại của anh: Nó lại đến rồi.

Tôi như nghe thấy tiếng gầm kinh hoàng vang cả một góc rừng. Như một cú sét đánh mạnh vào tiềm thức. Nó lại đến? “Nó”, không biết từ bao giờ trở thành đại từ mà tôi và anh đều hiểu. Nó sổng rừng.

Tôi chỉ kịp trả lời ngắn gọn: Thế ạ? Em đến ngay. Anh nói thêm: “Chú mang theo gói lương khô”.

Tôi lấy khẩu súng săn, rồi gói theo thứ mà anh bảo là “lương khô”. Chuẩn bị thêm mấy thứ nữa. Rồi ngồi xuống…

Vợ tôi bỗng bước vào. Cô ấy nhìn thấy dáng vẻ ngồi im lặng như tượng của tôi, lo lắng kêu lên: “Anh đến chỗ anh Hồng bây giờ”

“Ừ… ”

“Lại có lâm tặc à?”

Từ xóm nhà tôi đến nhà anh cũng phải vài chục cây số. Qua cổng rừng, một cái barie chắn ngang cổng chào do lực lượng kiểm lâm canh giữ, tôi bị ách lại. Bắt đầu từ đây là địa phận rừng quốc gia. Người ta kể rằng, năm thống nhất đất nước, làm cổng rừng, còn phải phát cây cối rất gian khổ, vậy mà ngày nay trống toang trống toàng. Rừng chạy vào trong, mà cổng rừng vẫn đó, cho nên dân chúng lập xóm nghiễm nhiên chả phải di đi đâu nữa. Nhà anh Hồng ở sâu, gần như trong cùng, từ thời ông, thời cụ của anh đến khai hoang. Anh lớn lên với rừng, chuyển ngành làm kiểm lâm, về hưu về nhà cũng vẫn ở rừng.

Tôi qua lại đây nhiều, nên kiểm lâm cũng quen mặt. Một anh chạy ra, nhìn thấy tôi mừng mừng, nhưng thấy có súng săn thì nhăn nhó kêu lên: “Anh ơi, anh thông cảm, không được phép săn bắn đâu”. Tôi vội nói: “Anh Hồng gọi, hổ về mà”.

“À, vâng…”- Anh kiểm lâm lo lắng, gật gật- “Chúng em biết, nhưng việc đó là việc của chính quyền, của kiểm lâm và biên phòng. Đã có đơn vị vào đó rồi”

“Chính quyền chắc gì bằng dân chuyên nghiệp. Không cho dân giúp chính quyền à?”

“Nhưng anh ơi…”- Anh kiểm lâm bối rối.

Tôi nháy mắt… Và trong tích tắc, khi cái dây giữ thanh tre lơi ra, cần tre ngập ngừng cất lên, tôi đã cúi đầu phóng vượt qua rồi.

Vâng, hổ về!

Tôi và anh còn nhớ mãi lần săn hụt con hổ mốc ấy.

Anh và tôi thận trọng vạch lá tiến vào… Chúng tôi có kỹ năng của lính đặc công đã đánh Mỹ vài chục trận, lại có kinh nghiệm của kẻ đi rừng. Mùi hôi nồng nồng, xen lẫn hơi thôi thối đặc trưng của hổ bị gió mang đến chỗ tôi và anh. Cho đến khi đó, chúng tôi chưa bao giờ nhìn thấy nó. Chúng tôi chỉ biết đến nó vì dấu tích tàn phá rẫy và để lại vết chân như như mấy cái dấu tròn chụm lại của loài hổ. Anh và tôi đã lần theo nó. Tôi bỗng nghĩ chúng tôi không khác hai con chó đánh hơi. Chúng tôi chỉ khác loài chó là biết mình không kêu ăng ẳng, không co rúm lại, mất hết ý chí. Chúng tôi biết rõ mình đi săn chúa sơn lâm.

Khi chúng tôi thận trọng tiến vào, anh gương ống nhòm lên, ra hiệu cho tôi im, rồi trao ống nhòm cho tôi. Tôi thực sự bị sốc. Nó nằm đó, nhàn nhã như một con mèo lớn có những ngọn lửa đen đang thiêu đốt toàn thân. Nó hiện ra huy hoàng trước mắt tôi. Nó là vẻ đẹp hoàn thiện nhất mà tôi thấy. Một kỳ quan của rừng xanh. Thế mà nó lại phá tan cả rẫy của anh, nó giật đổ tan hoang cái nhà chứa thóc của anh. Vô phúc ai mà gặp nó… Tôi buông ống nhòm, bối rối thấy anh đang nâng súng lên, rồi hạ xuống. Anh khẽ khàng: Tiến chút nữa.

Tôi thì thào: Anh, có cách nào xua nó đi mà không…

Anh trợn mắt với tôi và tiếp tục trườn nhẹ…

Bỗng trước mặt tôi rừng xao động. Những ngọn lá lồ cao dài như lá mía đổ xuống lại bật lên nhiễu loạn. Thoắt chỗ con hổ nằm khi nãy chỉ còn là một khoảng trống. Nó đâu? Một cảm giác rờn rợn chạy suốt sống lưng. Nhưng tôi cũng hiểu ngay rằng, nếu con hổ nhằm chúng tôi, thì chúng tôi không còn yên ổn thế này. Nó đã vùng chạy…

Anh có vẻ rất thất vọng. Trên đưòng quay lại, anh càu nhàu: “Cậu bỏ cái thói nhụt chí ấy đi nhé. Chưa xuất trận đã nghĩ chuyện hoà. Xua nó đi là xua thế nào, cậu không bắn nó thì nó thịt cậu”.

Tôi cười xí xóa: “Em nhòm thấy nó nằm đẹp quá”.

“Cậu thật tiểu tư sản. Đây là cuộc chiến đấu... Nó đẹp nó dữ nó ăn thịt cậu”

Tôi cười hì hì: “Vâng, phàm cái gì đẹp cũng dữ. Cho nên…”

Anh phẩy tay: “Ôi dào…”

Cứ “ôi dào” thì tôi biết là cuộc chuyện trò kết thúc.

Hôm đó, tôi thấy anh lầm lì lầm lì. Tôi gợi chuyện anh: “Anh… Chị Cơ dạo này…”

“Thôi”- Anh gằn giọng - “Không nói đến nó nữa”

Ơ, “nó” đây là anh định nói đến vợ anh. Con hổ phá rẫy của anh, tàn phá kho của anh, nhưng mấy lần trước anh có lầm lì thế đâu.

 

*

Khi tôi nhìn thấy Cơ, tôi hơi phân vân. Không biết đây là em út hay cháu của anh. Một cô gái non nớt, yểu điệu. Thế mà lại là vợ anh, điều tôi không ngờ nhất.

Anh là một tên đặc công chuyển ngành về giữ rừng, râu ria đã quai nón mà hàng tháng không cạo. Lần đầu tiên nhìn thấy anh, con nhỏ tôi đã khét thét lên. Nhưng rồi anh cười, hàm răng sáng trắng với con mắt như có tia sáng lấp lánh, thì đứa bé ba tuổi lại im. Con bé sau đó còn dạn dĩ chới với sờ tay vào bộ râu của anh, cười toe toét. Cơ cũng không khác đứa nhỏ ba tuổi là mấy. Cô mới thấy anh thì sợ lắm. Khi đó cô là vợ một anh chàng suốt ngày say khướt. Say rồi nắm tóc vợ mà giật mà hành hạ vợ. Anh Hồng đã nhìn cảnh ấy, mắt long lên. Tối hôm ấy, anh mang khẩu súng săn đến nhà vợ chồng Cơ, đặt nó lên bàn, rồi nói với anh chồng: Tao mua vợ mày. Thằng chồng kia khi đó không có rượu, nhũn như con sứa, mồm chỉ biết a a mấy câu. Bấy giờ trông anh không khác một con hổ đang nhe răng gầm gừ với một thằng cừu run sợ. Anh bắn một phát lên trần nhà. Cơ ngã gục xuống như thể bị trúng đạn. Thằng chồng hèn kia run lẩy bẩy: Có gì thì… Anh móc túi, lấy ra một gói tiền, vứt lên mặt bàn: “Tất cả để dành của tao đấy, mày biến đi, không thì sẽ chết ở xó rừng”.

Ngay hôm ấy, người chồng hờ của Cơ biến mất, ôm theo gói tiền của Hồng. Hắn quá biết rừng núi có luật của nó. Cơ run rẩy theo anh Hồng vào sâu nữa trong rừng, đi qua khu vực người ta khai hoang, qua xóm núi, qua xóm Tân Sơn, lại qua Tân Lâm, đến cái chỗ hai người làm một túp lều tranh. Lều của anh chị là loại lều hiện đại, kiểu nhà sàn gỗ táu. Xung quanh phát rẫy, nuôi lợn, trồng rau. Cơ từ khi mới về gầy gò, ở với anh một năm phổng lên như là cô dậy thì lại lần nữa trong đời. Nhưng mà Cơ ít khi cười. Không hiểu sao hai người không có con. Anh cũng bắt đầu cạo râu. Nhìn anh trẻ lại…

Khi tôi kết giao với anh, tôi xuất hiện ở nhà anh, Cơ rất giữ ý, nói rất ít. Câu hỏi đầu tiên của cô là: Nghe nói người ta làm đường qua cổng rừng rồi, phải không anh?

Điều linh cảm của tôi về cuộc sống gia đình kỳ dị của anh cũng là sự thật. Hai con người này bị cuộc đời xô đẩy, ghép lại với nhau, nhưng không bao giờ hoà hợp. Anh dù có sạch râu, bảnh bao ra, nhưng vẫn là con người của rừng rú. Cô dù có nuôi lợn trồng rau, vẫn không thể là nông dân. Cửa sổ thế giới của cả hai người là cái ti vi tối tối mở ra, nhưng mỗi người nhìn vào một cách. Anh thấy đó là một thế giới mới xa lạ, hào nhoáng. Với anh, thế giới đầy bất trắc, luôn luôn động loạn. Với anh, thiên hạ của anh là người dân Việt anh hùng đã qua cuộc chiến tranh thắng lợi huy hoàng, dù cho có gian nan nhưng đó là lòng kiêu hãnh. Với cô, qua cánh cửa ngỏ hai mốt inch, thế giới đó một thời đã là của cô. Bên ngoài cánh rừng này, cuộc đời lúc nào cũng sôi động, khác hẳn trang ấp tĩnh lặng. Từ khi cô theo anh đến góc rừng đây, cô chưa một lần trở về thành phố, thế giới mà cô đã mất.

Năm ngoái, tuy còn lâu mới đến tuổi hưu, nhưng cộng bao nhiêu tiêu chuẩn chồng chất, người ta động viên anh về. Ngày đầu tiên anh về hưu, anh đã bê vò rượu ngâm ra, im lặng uống. Tôi nhận được điện của Cơ: “Hùng ơi, Hùng đến đi, anh Hồng lạ lắm”. Cô nói trong nước mắt. Sao thế? Anh ấy uống rượu…

Tôi vội phóng đến. Tôi phóng như bay trên đường, lòng dạ lo lắng cho anh và thương cho Cơ. Người đàn bà đẹp nào trên thế gian này cũng có số phận khác thường. Người đàn bà của anh đã thoát ra từ cái chốn địa ngục có hơi men. Bây giờ anh lại uống. Anh lại đổ cái mùi cồn ấy vào túp lều nhỏ bé của anh à? Cuộc sống lẽ nào lại tít mù vòng quanh đến thế?

Tôi ngập ngừng khuyên anh. Anh phẩy tay: “Có gì đâu?” Ôi tôi ngỡ những ông có chức có quyền bổng lộc đầy thì hưu mới buồn, hoá ra người như anh cũng trở nên đầy tâm trạng. Cái phẩy tay có vẻ bất hoà với đời, chứ không phải bất cần đời. Anh thì thầm: “Bảo là ưu đãi về sớm thì tao không sao, nhưng thực ra là chúng nó không cần mình”.

Tôi gạt đi: “Anh dở nhỉ? Anh…” Tôi bị nghẹn lại, không dám nói nữa. Tôi định nói: Sao anh không nghĩ vợ anh cần anh là quan trọng, bạn bè anh cần anh mới là điều phải nghĩ.

Hôm đó, Cơ ấm ức với tôi: “Anh tốt với anh ấy, nhưng anh không hiểu anh ấy”. Tôi? Tôi không hiểu anh ấy ư? Cơ buồn bã: “Anh ấy cả đời được người ta tâng là anh hùng phục vụ nhân dân, bây giờ anh ấy không có ai để phục vụ, thì có còn là mình không?”

Tôi bức xúc: “Có chị đấy”.

Chị lắc đầu: “Anh ấy không phục vụ chị”.

Yên lặng. Chúng tôi đứng ở trang trại của chị. Chỉ có gió rừng thổi ào ạt trên đầu. Lát sau chị buồn bã nói: “Hay là chị không phải là nhân dân? Đến con chị cũng không có”

 

*

Con người ta không cưỡng được số phận sinh lão bệnh tử. Một anh hùng hảo hán như anh, đầu đội lá rừng, chân đạp chông gai, thấy bất bằng chẳng tha, ấy vậy mà bỗng chốc trở nên một người khác. Bây giờ anh là một cá thể rất nhạy cảm. Nói đến từ “hào hùng” cũng không được. Anh sẽ cho là giều cợt anh. Động đến từ “trẻ con” cũng không nên, sẽ chạm vào uẩn khúc lòng anh một người vô sinh buồn bã.

Nếu không có một biến cố… Sự kiện đến từ rừng. Cuộc sống gắn với rừng, thì cái đổi thay cũng phải đến từ rừng. Đó là một ngày có một xe gỗ xuất hiện ở con đường kiểm lâm sát với trang trại của anh.

Anh sững sờ nhìn thấy một đoàn xe. Ba chiếc to lù lù chạy rù rì ra khỏi rừng. Cái nào cũng lặc lè gỗ. Anh kêu lên khản cả tiếng: “Đứng lại, đứng lại…” Anh chạy đến chặn ngang cái xe đi đầu. Một cái đầu thò ra, hất hàm: “Muốn chết à?”

Anh bực lắm. Chúng mày phá rừng à? Lâm tặc à? Tao bắt chúng mày vì phá rừng. Tiếng của anh khản đặc. Anh lên cơn điên nghề nghiệp. Đời anh làm kiểm lâm, chỉ mới bắt được những thằng bắn thú cấm, cưa cây trộm. Đó thực là một lũ giặc nhãi nhép so với đám giặc có chiến xa này.

Điều qua tiếng lại. Ông là ai? Ông là cái ông kiểm lâm đã nghỉ hưu à? Bên chở gỗ cười khẩy. Ông nghĩ chúng tôi chở gỗ thuê thế này là lâm tặc à? Xe gỗ có phải cái kim đâu. Ông tránh ra đi…

Anh như bị rút hết xương sống, lảo đảo ngồi xuống nhìn đoàn xe tiến ra cửa rừng. Anh quả thật rất yếu đuối. Không một tấc vũ khí nào. Những gì anh gìn giữ bao nhiêu năm, giờ người ta chặt phá trong một lúc. Anh phải hỏi cho ra nhẽ, chắc chắn có đứa đi tù. Phải rồi, hay là tụi kiểm lâm tiếp tay cho lâm tặc. Anh sẽ hỏi lên huyện, lên tỉnh, lên Trung ương. Anh phải…

Tiếng người đi từ phía sau làm cho anh theo quán tính đi rừng phải quay ngoắt lại. Có hai người đi đến. Họ đang thư thái như là dạo mát. Đó là sếp kiểm lâm và một người anh là Lưu, còn có biệt danh Lưu công tử. Vẻ ung dung của họ khiến anh bối rối. Chỉ qua mấy câu hỏi han, thoắt anh trở thành kẻ sai trái không hiểu điều gì đã xảy ra.

Sếp kiểm lâm nói: “Anh Lưu trúng thầu dự án trồng và khai thác rừng…” Anh bực: “Đó là rừng đầu nguồn, chúng tôi giữ nó cả đời…”

Lưu cười: “Rừng cũng như vàng. Cứ để đấy chỉ là cục vàng. Nhưng đầu tư quay vòng thì nó là tiền, làm cho ta sung sướng…” Lưu nháy mắt: “Cô Cơ vẫn khoẻ đẹp đấy chứ?”

Anh tức run lên, trợn mắt. Nhưng anh tức nghẹn, không nói được gì nữa. Anh bóp ngực như bị đau lắm. Lưu thấy vậy bảo sếp kiểm lâm: “Thôi tôi ra trước”.

Sếp kiểm lâm còn trẻ, khi mới về trạm, còn là đệ tử của anh, học từ chuyện nhìn gốc cây đoán hướng đến ngửi mùi tránh thú. Anh ta vẫn coi anh là thày trong rừng. Bây giờ người học trò ấy cúi xuống, rất ân cần nâng anh lên, hỏi han rối rít. Nhưng anh bắt đầu ngẩng lên, buồn uất ức, nói gằn từng tiếng: “Mày thừa biết nó nói láo, đúng không? Làm rừng là làm phía bên kia, chứ không phải phía đầu nguồn sông?”

Sếp kiểm lâm phân trần: “Khổ lắm. Anh em mình giữ, nhưng đây là chủ trương đầu tư khai thác của trên”.

Anh giằng tay anh ta ra, bực lắm: “Dối trá, dối trá cả một lũ…”

Anh thất thểu đi…

Tôi nghĩ, con người như anh phải có một động cơ gì để sống có nghĩa, thoát ra những ngày hưu buồn trống trải. Anh bảo, nếu chỉ có thằng Lưu, anh đã đập cho nó một trận. Mà nếu chỉ có nó, thì nó chả dám nói hỗn với anh. Thằng chồng hờ của Cơ ngay xưa, khi bị anh đuổi đi, đã đến nhờ Lưu. Lưu kéo một bọn lâu la đi xe máy đến. Hồi ấy xe máy còn ít. Chúng nó đi trên những con cào cào to lớn, gầm rú. Chúng nó quen thói ở làng xóm, muốn làm gì thì làm, đi thì hăm hở, nhưng đến khi gặp được anh thì ý chí nhụt đi chín phần mười. Vì đi mãi mới thấy anh. Vào đến rừng chúng nó chỉ là đám hươu nai. Anh là thợ săn già đời, tay cầm súng hiện ra từ rừng rú. Chúng nó chợt hiểu vi phạm vào luật của rừng. Có đứa đinh quay xe đi… Anh khinh khỉnh nhìn một lũ quây xe máy xung quanh anh. Bất ngờ, anh bắn một phát vào lốp xe của Lưu… Cuộc gây chiến của Lưu thảm bại. Cả lũ kéo xe ì ạch ra khỏi rừng, ném lại lời đe doạ: Con Cơ ra khỏi cổng rừng là chúng tao xử…

Dù sao, hậu quả của cuộc chiến ấy cũng làm anh một thời mệt nhọc. Anh phải theo Cơ mỗi khi cô đi chợ. Một hai tháng mới xuống huyện một lần, anh vẫn phải đi theo. Khi ra chợ huyện, mới thấy rõ anh là một loại người rừng về phố. Một người đàn ông đen thô ngu ngơ, đi theo một cô trẻ xinh, khiến cho ai cũng ngoái cổ nhìn. Anh là thiện xạ, là cáo là mèo, là gấu là hổ ở rừng, nhưng khi đến phố, anh chả là gì cả, như bò đội mũ, đáng thương khó chịu. Cơ biết rõ điều ấy, nên cô cố không đi chợ nữa. Một niềm vui nhỏ nhỏ của cô cũng tắt luôn. Gây cho anh phiền phức quá. Mà cô cũng bị phiền, mất tự do.

Thời gian trôi qua, những con người bặm trợn ngày nào cũng lang bạt, không ai nhớ đến ân oán giang hồ nữa. Rồi có nhiều người bán rong, trao đổi hàng hoá vào tận xóm rừng, nên sau này cô không xuống phố nữa. Phố của cô hàng ngày hiện ra qua cái ti vi…

Bỗng một hôm, anh gặp lại Lưu tề chỉnh vào đội kiểm lâm. Khi đó anh sắp nghỉ hưu. Lưu xuất tiền đầu tư xây cả một khu vực làm việc cho đội kiểm lâm. Ai cũng hồ hởi tiếp khách, riêng anh lừ lừ không nói năng gì… Anh đã tranh luận với mọi người. Ai cũng nói con người có thể thay đổi chứ. Cuộc đời không thay đổi thì đâu còn là đời. Anh không chịu. Thằng Lưu vẫn là thằng Lưu thôi. Hình ảnh côn đồ của nó đóng đinh vào tâm trí anh mất rồi. Cái nhìn của nó với Cơ, anh thấy gai người, không chịu nổi.

Sau đó anh có đi hỏi han ở huyện, ở tỉnh. Anh có tranh luận với ông nào đó, bực bội về ngồi uống một mình. Cơ thì thào qua điện thoại với tôi: “Kệ anh ấy đi thắc mắc. Để anh ấy có việc mà làm…”

 

*

Hôm ấy, có cả tôi đang ở nhà anh, chúng tôi đang đan một cái bẫy để bẫy cáo. Bỗng nhiên Cơ đi về, nét mặt rất lo lắng: “Anh Hồng, có ai phá rẫy nhà mình”.

Anh thản nhiên: “Ôi giời… Cho nó lấy bớt đi. Mình có ăn hết đâu. Mai chú mang về bao sắn mà ăn dần, cho hàng xóm”.

Cơ: “Phá tan hoang”

Anh giật giọng: “Thế à?”

Hai chúng tôi chạy ra chỗ trang trại của anh. Đứng từ trên cao nhìn xuống, đã thấy cảnh cây cối bị phá. Cái chòi có sàn để phân gio, với mấy thứ lặt vặt bị giật đổ.  Anh nắm tay, kêu lên: “Mẹ bọn chó đểu”, rồi chạy ào xuống.

Tôi nghe thấy anh quát thế, cũng đoán biết anh định nói về ai.

Anh đi lại, nhìn ngó… Rồi bất chợt anh ngẩng lên, nhìn rừng nhìn núi… Tôi cũng nhìn thấy vết chân thú. Một loài thú lớn… Anh giật giọng: “Có hổ”.

Chúng tôi đi theo vết chân hổ. Anh vừa đi vừa độc thoại. Lạ nhỉ. Bao nhiêu năm nay, tao chỉ thấy chúng nó ở rừng sâu phía Tây. Bây giờ nó đến tận đây à? Mạt vận rồi à? Hết chỗ nhảy nhót rồi à? Đấy, con này hổ già, vuốt dài, vết bám sắc như dao cắt đất… Đây nữa… Chỗ này nó ngồi… Con này chạy lạ nhỉ? Nó bị thọt à?

Chúng tôi gặp một tốp kiểm lâm đi ngược lại.

“Chúng em biết có ông ba mươi từ hôm qua, tính báo cho anh…”

Anh bực: “Các chú coi thường tôi. Sao không bảo ngay?”

Một anh chàng phân bua: “Có phải chỉ rẫy của anh bị đâu. Chòi bên kia còn bị nó phá nát, may mà tối hôm kia không có người”

Anh lắc đầu: “Gay rồi… Có người đi rừng gặp nó thì khốn đấy”

Một anh kiểm lâm nói: “Sếp em báo lên trên rồi. Nhưng trên là trên, mình phải lo chứ, ai ở trên về đây đánh hổ cho mình”

“Các chú nhìn thấy con hổ bao giờ không?”

“Chúng em không”- Tất cả đều lắc.

“Nhìn thấy bọn phá rừng còn chả bắt được. Không nhìn thấy hổ bắt sao được?”

“Bác lại nói giễu. Bác cú các sếp thì cú, đừng nói thế bọn em không nghe”

Anh cười khẩy: “Thế thì các chú đi mà bắt hổ nhé. Anh nói cho mà biết, chưa biết nó ở đâu, nó đã vồ mình rồi. Không đùa được đâu. Anh là anh không cấp cứu hổ vồ đâu nhá”

Hai anh em về nhà, chủ đề của buổi ăn tối ấy là việc hổ về phá rẫy. Vì có hổ về, anh bảo tôi thôi tối chú ở đây với anh mấy hôm, thế nào thời tiết này nó cũng sẽ về nữa. Anh em ta phục, bí mật bắn một con, nấu cao đố ai biết được.

Câu chuyện xoay quanh tập tính của loài hổ, cách đi theo vết hổ. Anh tổng kết: “Nói chung hổ và người không khác nhau mấy. Hồi xưa, anh trinh sát theo lính Mỹ thế nào, nây giờ với hổ cũng y như thế. Chú phải đi ngược chiều gió. Muốn thế phải đoán biết nó ở đâu đã chứ. Nó thích bóng râm, gần nước. Mẽo cũng thế. Hổ đi êm, Mẽo cũng thế”

Cơ ăn xong đứng lên, đi gội đầu từ lúc nào, đứng vấn tóc, bỗng trở vào nói: “Các anh chả giữ gìn gì cả. Quê nhà em kiêng không nói hổ hổ nhiều thế đâu”

“Cái cô này cổ hủ bỏ mẹ”- Anh gạt đi- “Nó là hổ thì cứ gọi là hổ”

“Các cụ quê em toàn gọi là ông ba mươi”

“Ồi, em… Nó là kẻ thù, không giết nó nó giết mình, ông bà gì…”

“Thì có kiêng có lành…”

Anh quay sang tôi: “Đấy chú nghe…”

Tôi dàn hoà: “Thôi thì cứ gọi nó là Nó. Nó là địch, mình là ta. Ngày xưa người ta chả gọi tuốt xi lút mọi kẻ thù là thằng cả đấy. Nhưng nay không biết con hổ này là đực hay cái nhỉ. Thôi cứ gọi là “Nó”.

“Nó đực đấy”- Anh dứt khoát- “Con đực mới đi và phá như thế. Nếu có con cái thì phải có con con đi theo”

Cơ im lặng đi vào buồng bên.

Chúng tôi uống trà… Lát sau anh bảo: “Thôi chú đi ngủ đi, mai tôi và chú đi săn nó”

Đó là cái lần mà tôi và anh nhìn thấy nó. Rồi nó mất hút ngay trước mắt chúng tôi. Có lẽ tôi không chứng kiến cảnh vồ mồi, phá phách của nó, nên ấn tượng còn lại trong tôi nó là một kỳ quan của rừng xanh, một vẻ đẹp khỏe mạnh phi thường. Điều đó ít ai chứng kiến trong đời.

*

 

Sau hôm săn hụt hổ, tôi định về, thì anh có khách. Khách là hai người đàn ông và một cô con gái. Có một người châu Âu, được giới thiệu là Len gì đó, người Mỹ gốc Thuỵ Điển. Họ là những người thuộc tổ chức bảo vệ loài hổ.

Câu đầu tiên của anh hỏi họ là: “Tỉnh hay Trung ương cử các anh đến?”

Anh thanh niên người Việt đẹp trai, cao to, trông rất phong trần, bèn giải thích họ là một tổ chức phi chính phủ có tài trợ của nước ngoài. Họ nói muốn cùng với kiểm lâm tổ chức nghiên cứu hổ. Biết có hổ phá phách quanh đây, họ muốn hợp tác để bảo tồn? Làm gì? Việc đầu tiên là không giết hổ, họ có súng bắn gây mê hổ, sau khi con hổ bị ngất, thì mang nó về một chỗ để có thể thả lại rừng.

Anh có vẻ thờ ơ. Gương mặt của anh bình thản, mắt mờ đục thế kia nói với tôi rằng anh chả tin họ. Anh nói: “Tôi ở đây cả đời, hổ nó phá thì phải diệt. Tôi chưa thấy ai gây mê hổ rồi lại thả cả. Thả nó lại về, lại bắn gây mê… Đến bao giờ?”

Người Tây cao lêu đêu, nói xì xồ, rồi cô gái dịch lại: “Nguyên nhân là do phá rừng. Rừng còn bị tàn phá thì hổ mất môi trường sinh sống, nên mới phải phá phách…”

Nghe thấy thế, anh nói gọn: “Thế thì đi gặp kiểm lâm, bảo họ trồng lại rừng”

Len cười: “Chúng tôi biết ông là người được kính trọng nhất vùng, có kinh nghiệm nhất, nên chúng tôi đến đây”

Nghe thấy thế, anh dịu lại.

Cuối cùng, kết quả làm việc là họ để lại cho anh khẩu súng săn mới, cùng với ba liều đạn gây mê. Một người của họ trực ở ngay văn phòng đội kiểm lâm. Khi có tin hổ về, người của họ lập tức có mặt, trường hợp chưa có mặt kịp thì anh đã có súng và đạn gây mê để xử lý.

Anh nhận súng, nhận đạn. Anh không vui cũng không phản đối. Anh chàng người Việt còn nán lại giảng giải: “Tổ chức này của các nước phát triển. Con người văn minh không nên giết thịt hổ”

Anh cau có: “Hừ, tôi ở rừng quen rồi”

Anh ta chưng hửng, nhìn anh rồi nhìn sang Cơ. Cơ bối rối quay đi.

Đoàn bảo tồn hổ về, tôi cũng sửa soạn về. Suốt buổi, Cơ không nói câu nào. Khi tôi sắp đi, Cơ mới nói: “Họ ở tận đâu đâu mà làm việc này làm gì nhỉ?”

Anh cười khẩy: “Chính phủ còn chả ăn ai. Phi chính phủ…”

Giọng anh dài ra… Tôi chưa thấy cái giọng đàn bà ấy ở anh bao giờ…

 

*

Tôi là kẻ lãng du, nghệ sĩ nửa mùa, phiêu lưu nửa đoạn… Có thể vì thế nên khi vào rừng, tôi như bị bỏ bùa mê. Vẫn con đường ấy, mà đi mỗi lần một mới. Lần này thấy con chim con nai, lần sau thấy con mèo con báo… Vẫn những cái cây ấy, mà có khi gặp một đàn bướm, lúc khác lại thấy một lũ dơi… Tôi cứ về nhà vài tuần, một niềm thôi thúc mơ hồ, một tiếng gọi xa xăm lại thôi thúc tôi phóng hăm hở vài chục cây số đến với anh. Anh Hồng là một người gắn bó đời với rừng, nên những say mê bồng bột chân thành của tôi được anh tiếp nhận. Đến nỗi, sau này, những nỗi đau đời của anh, bất hạnh của anh cũng truyền sang tôi, khiến tôi cũng phấp phỏng như thể nỗi niềm ấy của mình…

Một lần, anh rủ rỉ: “Giá như mình có một đứa con, thì Cơ sẽ không buồn…” Rồi anh tự an ủi: “Mình bù lại được cái cho cô ấy cuộc sống yên ổn”. Ôi, anh… Yên ổn đâu phải là tất cả đối với một người đàn bà đẹp?

Đó cũng là một góc tâm sự mà tôi muốn tránh. Tôi tránh luôn cả những lúc có thể ở nhà một mình với Cơ, người đàn bà còn trẻ khao khát có con. Có thể tại anh, mà cũng có thể tại Cơ.

Một hôm anh bẫy được một con cầy hương. Con thú dài mình có sạ, nhìn như con mèo, mà có mùi thơm lạ của cây rừng. Tôi làm lông, Cơ dội nước sôi, rồi nước ấm. Tôi kỳ cọ cái bụng con thú. Cái bụng trắng nhởn của con thú đực. Cái dương vật thú bị nước sôi cứng đờ. Tôi kỳ cọ vào đó, nó càng dựng lên. Tôi nhìn lên, bắt gặp ánh mắt Cơ như một tia lửa. Sắc nhọn, man dại. Mặt đỏ bừng, Cơ quay đi ngay. Một phần mười giây. Rồi Cơ lại giội nước xuống…

Anh càng già thì Cơ lại càng căng trẻ. Cô đi rừng, lại không có con nên vóc dáng chắc nịch, bụng phẳng, ngực nở. Đó là một người đàn bà phát triển đến độ chín. Một vẻ đẹp người đầy sức sống. Dòng sông mùa con nước lên. Bông hoa quỳnh đúng lúc không giờ. Tôi lắm lúc đứng trước Cơ cứ nghĩ liêu siêu. Tôi là ai? Là người đàn ông mê sắc đẹp, nhưng tôi cũng là đệ tử có đạo đức nghĩa tình đối với anh. Cái mê phải nuốt vào. Nếu làm người có đạo đức là như tôi bây giờ, tức là làm người rất khổ.

Nhưng một anh chàng khoẻ đẹp như anh chàng bảo tồn loài hổ, hay là một tên giàu có như Lưu thì không nghĩ thế. Họ không có nghĩa vụ đạo đức như tôi. Đi rừng thấy hoa thì hái.

Đó là một câu chuyện kín đáo đầy bi phẫn.

Tôi giương súng định tiến lại gần… Nhưng nghĩ thế nào lại thôi. Tôi đang bấn loạn vì chính ý nghĩ đang loạn xạ trong đầu. Chọn cách xử lý thế nào với một hiện trạng mình đang thấy thấp thoáng sau bụi hoa cứt lợn? Bụi cây rung động. Tiếng gầm gừ của loài người yêu nhau hoá thú hổn hển giữa âm u của gió… Tôi thấy mệt toàn thân. Tôi vứt súng. Chờ. Bất lực… Nhưng mà trí tò mò khiến chân tôi bước nhẹ đến gần… Trời ơi, cảnh tượng ghê gớm thế kia. Người đàn bà là Cơ đang bị giang tay ra trói vào cành cây, dựa vào một thân cây duối. Mắt cô ta bị một cái khăn tay bịt kín. Miệng cô ta há to. Người đàn ông không mặc quần… rất hăng hái. Tâm trí tôi loé lên ý nghĩ căm giận. Cưỡng bức khốn nạn. Hành vi thú tính. Tôi bước tới muốn làm một hành động giải thoát cho người phụ nữ bị hành hạ. Người đàn ông quay lại. Lưu. Chính là Lưu. Hắn căng mắt bực tức. Hắn trơ trẽn mặc quần áo, rồi bước đến người đàn bà, giật tung cái khăn che mắt ra. Tôi không thể quên ánh mắt thất thần kinh hoàng của cô ta. Trong khi Lưu rút mạnh sợi dây trói, hai tay cô ta bị buông xuống như bị bại liệt. Cô ta sợ méo cả mặt, nước mắt đầm đìa.

Lưu đã đi rồi. Hắn đi đàng hoàng như thế vừa làm một việc tự nhiên, công khai. Chỉ còn trước mắt tôi là Cơ, người đàn bà đau khổ, nói đứt nối: “Cầu xin anh. Anh đừng nói gì với anh Hồng. Anh ấy chết mất”

Tôi định nói, nhưng thấy cô xoã xượi tóc tai, thì lòng dạ tôi cũng mềm tê tái. Tôi uể oải đứng lên. Trong tâm trí còn kinh hoàng vì hình ảnh cô ta há to miệng mà kêu thứ âm thanh rừng rú. Tôi chỉ kịp nhận ra là đã làm một việc vớ va vớ vẩn. Chiến bại là tôi.

Sau đó một thời gian, tôi thoái thác bận việc không đến nhà anh. Tôi bỗng thấy ngại.

*

Bây giờ thì anh và tôi đang đi theo vết con hổ. Anh đi đâu tôi theo đấy. Tôi nói đùa, cứ như tôi là con chó của anh. Anh bảo cứ theo dấu chân thì biết đó là một con hổ thọt. Lúc xuất phát, tôi thấy anh nghiêm nghị lắm.

“Em có lương khô đây”- tôi chìa ra mấy cái kíp nổ mà anh đã dặn tôi mang theo.

“Dự phòng thôi. Có cái này rồi”-  Anh chỉ cho tôi khẩu súng của Tổ chức bảo tồn hổ: “Chú cầm cái đó, súng mới”. Anh chia cho tôi một viên đạn thuốc mê, anh cầm 2 viên. Anh nói: “Tôi bắn trước, chú chỉ bắn khi tôi đã bắn rồi thôi nhé”

Rừng nơi này đầu nguồn phòng hộ, nhưng đã có bàn chân của con người qua lại. Đầu tiên là hồi kháng chíên, bom rơi đạn nổ, quân đi rùng rùng dưới tán lá rừng. Rồi những năm đói, người ta đi tìm nấm, tìm trầm, tìm đá quý… Con người lúc nào cũng muốn lấy cắp những cánh rừng. Anh kể: “Hồi tớ mới về đây, đi rừng còn mang theo súng đề phòng gặp gấu. Hổ và voi thì thường ở sâu, nhưng gấu và sói thì hay ăn ra ngoài. Thấy ong là phải đề phòng. Còn như nai, hoẵng, hay dê, mèo thì không thèm chấp. Sợ nhất lại là gặp lợn. Nó tấn công mình không phải vì mình trêu ghẹo nó, đúng là một lũ lợn. Có một anh Quảng Ngãi, đi rừng hét lên: Hêu, hêu… Cánh đi sau tưởng anh ta bảo Hươu, hươu… Ụch một cái, hoá ra con heo rừng. Lần ấy may mà không ai bị gì…”

Anh buồn bã: “Bây giờ rừng cũng vắng thú. Hổ không còn cái gì vồ”

Trời tối rất nhanh. Có lẽ trong rừng hoàng hôn sớm hơn. Chúng tôi ngủ trên cành cây, anh ngáy o o, tôi vẫn thao thức mãi. Rừng muôn vàn âm thanh hỗn tạp. To nhất là âm thanh của những loài nhỏ bé sống sát đất. Khổ chưa? Ăn uống là bao, mà đêm hôm kêu ầm trời. Tiếng dế ríu ran, tiếng chuột rúc rích. Côn trùng rỉ rả… Tôi sợ nhất là loài rắn. Nó âm thầm mềm mại bò vào lòng anh. Rồi nhẹ nhàng chích cho anh một phát bằng đầu kim đâm, đời anh ra bã. Cần gì hổ báo to tát đâu…

Tôi không ngủ được. Không bao giờ tôi tưởng tượng ra có một thời khắc mình trở thành một kiểu người rừng thế này. Bỗng thấy cuộc săn này có gì đó phiêu lưu, mung lung. Chạy theo dấu một con hổ thọt?

Một âm thanh râm ran phát ra trên đầu tôi. Thỉnh thoảng một hai giọt nước rơi xuống. Trời thì mưa trên cao, rừng lại rơi mưa từ lá xuống. Ẩm ướt như thể hơi nước bao phủ lấy đầu tóc.

Tiếng rì rào êm êm bắt đầu nổi lên giữa đêm khuya. Anh mở mắt: “Suối đấy. Đi rừng cốt tử là bám gần nguồn nước”. Tôi định hỏi, lúc chiều mình chỉ thấy mỗi lạch nước chứ làm gì có suối nào lớn đến nỗi nghe thấy âm thanh nước chảy. Nhưng anh đã nhắm mắt lại rồi.

Tôi mệt ngủ thiếp đi.

*

Một tiếng động như lay chuyển đất. Tôi đang mơ màng, thấy mình rơi từ ngọn cây chò cổ thụ xuống đến lưng trời. Một con hổ to lớn đang chờ sẵn. Nỗi sợ khiến tôi cảm thấy toàn thân lạnh toát. Mở mắt ra, thì thấy mình đang nằm trên ván gỗ giữa chạc cây. Bên tôi trống trải. Anh đã đi đâu rồi. Tôi xách súng lo sợ quan sát xung quanh.

Tôi đi theo vệt cây lá bị xô đẩy. Có vết máu. Một đoạn nữa, tôi thấy anh đang gương súng nhằm về phía trước, tư thế của người chiến sĩ. Dòng suối hôm qua còn là con lạch, giờ nước đã dềnh lên như một con sông nhỏ. Bên kia suối, con hổ đứng im lặng đối mặt với anh. Hai mắt nó ánh lên màu lửa đỏ. Nó nhìn chăm chú vào nòng súng của anh. Anh im lặng nhằm vào nó.

Tôi đứng yên, cũng gương súng lên. Lần thứ hai tôi nhìn thấy hổ, là một con hổ đang sẵn sàng chiến đấu. Nó không còn là con mèo lớn đẹp đẽ nữa. Nó là chiến binh hùng dũng, là chúa tể rừng núi. Hai mắt rực lửa, răng nhe ra trạng thái tướng quân xung trận. Nó đứng đó, ngạo nghễ như nói với chúng tôi chính nó mới là chủ của nơi này.

Tôi nghĩ trong đầu: Nếu nó nhảy xuống suối để lao sang đây, chắc chắn tôi và anh cùng nổ súng. Bất luận nó là gì, hay ông Tây bảo tồn hổ nghĩ gì, thì chắc anh Hồng cũng đang có mối căm hờn nó đã phá cương vực lãnh thổ của anh. Nó đã từng là kẻ ngoại xâm cuồng bạo.

Nhưng nếu nó quay đi thì…

Trong đúng cái tích tắc thời điểm tôi nghĩ thế, như thần giao cách cảm, cái đầu tướng quân của nó vừa quay đi, cái chân trước không thọt vừa nhấc lên, thì tiếng súng nổ. Miệng súng của anh bốc ra một làn khói mỏng. Con hổ bên kia suối ngã gục xuống. Một vết đỏ lòm trúng đạn ở cổ nó.

Tôi thét lên: “Nó bỏ đi mà?”

Con hổ không chết. Nó ngẩng đầu, gượng chạy.

Lại một tiếng nổ nữa. Trúng mông. Nhưng con hổ vẫn lê lết chạy được. Nó lê tấm thân khó nhọc, từ từ di động đi xa. Hôm qua chúng tôi đã đi thám sát về phía ấy. Đó là miệng vực. Có thể nhìn thấy một cái vực, giống như một thung lũng nhỏ kẹp giữa hai sườn núi, một cái túi khổng lồ sâu hun hút.

Tôi đứng bên bờ suối, nhìn con hổ xa dần. Anh cũng buông súng, đứng lặng. Trước mắt chúng tôi là suối lớn, nước cuồn cuộn. Tôi cảm thấy sau khi anh bắn hổ, dòng nước này nổi giận hay sao, càng dâng lên hung dữ hơn.

Tôi nói cho có chuyện: “Chắc nó sẽ mê đi…”

Anh thản nhiên: “Nó sẽ giãy chết. Bị tiêu diệt rồi”

Tôi ngạc nhiên nhìn anh. Anh móc túi lấy viên đạn. Vết sước lắp mới đầu đạn chứng tỏ anh đã tráo thuốc đạn rồi. Tôi chợt hiểu vì vết thương đỏ lòm máu của con hổ.

Tôi định kêu lên: Sao anh làm thế? Sao anh hận thù lớn thế? Đáng lẽ anh không nên như anh cách đây mấy chục năm, như anh sống với thế giới cũ khi chưa biết đến tổ chức bảo tồn loài hổ. Anh vừa bắn một phát súng của quá khứ vào hiện tại.

Toàn thân tôi như tê cứng. Chớp loé như đốn ngộ. Đáng lẽ tôi cứ tôn thờ kỷ niệm anh hùng của anh, nhưng sao tôi lại tôn thờ anh một tư tưỏng sống cùng tôi. Tôi bỗng tiếc nghĩa vụ đạo đức mà tôi đã giữ bấy lâu đối với anh. Bây giờ tôi mà gặp Cơ, tôi sẽ không ngại nói với cô: Em thật là một người đàn bà đẹp.

Chúng tôi nhanh chóng trở về. Ngựa quen đường cũ nên rất nhanh. Bây giờ, tôi vẫn đi sau anh, nhưng tôi bỗng thấy anh như con chó của tôi. Đầu óc tôi thoáng đãng, những định kiến nặng nề trong tôi bay sạch từ lúc nào. Tôi là con người tự do, ông chủ của muôn loài.

Chúng tôi về đến bìa rừng thì gặp sếp kiểm lâm đi đâu với mấy tay nhân viên nữa. Tôi bảo: “Khỏi lo hổ nữa nhá. Anh Hồng bắn nó rồi”

Sếp giật mình: “Nó đâu?”

Tôi bảo: “Rơi xuống vực không lấy được”

Sếp kiểm lâm tròn mắt rồi cười. Cái cười ấy khiến tôi hiểu là hắn không tin. Mấy tay đi theo cũng cười khả ố, coi chuyện đó là đùa. Hắn nói: “Thôi thế này nhé… Khi nào có cao các bác cho em một hai lạng”

“Cục cứt”- Anh quát lên.

Một thằng kiểm lâm cười nhăn nhở: “Bác không được hoan hô như Võ Tòng, cũng đừng bi kịch thế. Em thấy ông bảo tồn hổ lẫn ông phá rừng đều đến nhà bác đấy”

*

Tôi và anh về đến nhà anh thì đã quá nửa đêm.

Đèn bật sáng, anh đứng như chết lặng trong nhà của chính anh. Ngay gian giữa, người đàn bà của anh bình yên nằm đấy, hai người đàn ông mỗi người một bên. Ba cá thể người đang ngủ ngon lành, da thịt loã lồ mộng mị, từng đám đen trắng mướt mát. Một người đàn ông là Lưu, người thứ hai tóc quăn mũi lõ. Tay chân họ ngồng nghềnh trên da thịt của nhau, dấu vết của cuộc tình rừng rú. Một quang cảnh hoan lạc tĩnh lặng…

Anh gầm lên, rồi đổ sập xuống, như thể bị một phát đạn.

Tôi treo súng, uống một hớp nước, tìm một chỗ đứng giữa hiện thực bộn bề trước mắt.

 

Trần Hải Yến Gửi lúc : (17/08/2013 | 11:09:00)
Đọc truyện ngắn này (Em đọc trong cuốn truyện ngắn BỎ TRỐN ĐỢI MẶT TRỜI anh gửi tặng qua blog E), em thấy sờ sợ, không giống cảm giác khi đọc nhiều truyện ngắn khác của anh.
Sờ sợ từ những lời văn. Ví dụ như "Tôi nhìn lên, bắt gặp ánh mắt Cơ như một tia lửa. Sắc nhọn, man dại ... Nếu làm người có đạo đức là như tôi bây giờ, nghĩa là làm người rất khổ ..."
Sờ sợ cái cảnh "người đàn bà của anh bình yên nằm đấy, hai người đàn ông mỗi người một bên ..."
Sợ nhất khi "anh gầm lên, rồi đổ sập xuống ..."
Đúng là một "Bi kịch chiến công". Sẽ còn nữa một bi kịch ...
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : 6xwlrr
Bài viết khác