Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
nguyen thi cam tu

Bình Luận của nguyen thi cam tu

cac ban oi cho minh y kien nhe. vay tom lai ho quy ly duoc xem la anh hung hay gian hung
ngo panbin

Bình Luận của ngo panbin

Khong nen binh luan danh gia cac nhan vat LSU mot cach thieu cong bang. Troi sinh ra kg ai hoan hao. trong cuoc song ban muon lam viec that hoan hao, nhung co bao gio dc kg ??? vi vay lanh dao mot dat nuoc khi hanh dong trong cong viec, cung nhu trong cuoc song doi thuong,co gi do kg hoan toan tot dep,co gi do khiem khuyet, ta cung nen luong thu ma bo qua cho ho, mien sao cai sai kg qua tram trong,cai lam duoc cho dantoc datnuoc de den hom nay chung ta va lich su thay dung dan co ich la qua tot va can ton vinh cong lao do, Cac ban co khi nao lam lanhdao va dung truoc ap luc that su lon chua ??? khi do kho tam lam ban oi !!!
Vay nen toi khuyen cac ban can co tam long bao dung hon voi nhung ai da lam tot, co loi cho datnuoc va dantoc vietnam, Du ho khac ching kien khac quan diem chinh tri voi ban, nhung chung ta la mot me auco sinh tram trung, va bo coi viet nam neu co mat vao tay ke nuoc ngoai ban chac se that su dau long. Con ben CSan hay QGia thi suy cho cung chua phai qua toi te, truoc het la cham dut chien tranh som di doi voi dong nghia su giet choc nhau giua nguoi vnam voi nhau kg con,dat nuoc ven toan mot moi, dan bot lam than kho cuc,Phia ban va phia toi, tat ca la conrongchautien,
Toi kg quan trong cai ten, CN CSan, CN MACLENIN hay chu nghia nao nao di nua, nhung dem lai dieu tot cho dongbao datnuoc vnam la dc, CN nao cung vay neu kg dclongdan, ban kg can thucday kg can dautranh ma tu no cung sup do va dongbao trong nuoc se lam viec do,
Phan Văn Hoàng

Bình Luận của Phan Văn Hoàng

Xin góp hai ý :
1- Tên tờ báo là NÔNG CỔ MÍN ĐÀM (nghĩa : uống trà nói chuyên làm nông và buôn bán). Không phải MÍM ĐÀM.
MÍNH là trà non. Cụ Huỳnh Thúc Kháng có bút hiệu MÍNH VIÊN (vườn trà non)
Người Nam Bộ phát âm -IN thành -INH, nên viết MÍNH thành MÍN.
2- Người ĐỒNG BANG là người cùng chung một nước.
Do người Nam Bộ phát âm lẫn lộn -AN và -ANG nén viết sai đồng BANG thành đồng BAN.
PVH
Truyện Ngắn
Linh hồn thủy thủ (truyện ngắn- báo Văn Nghệ số 1/2003)

   1.     

 Tôi lớn lên đã nhìn thấy biển trước cửa nhà. 

Những chiều đầy gió, tôi là một thằng bé con lon ton theo mẹ ra bến đón thày về. Đó là một thời biển đẹp. Chân trời xa xa kẻ một đường sáng rực căng vồng, bỗng lấp lánh một hạt mầm nhu nhú. Đó là cánh buồm của con thuyền đầu tiên xuất hiện. Rồi rất nhanh, nhiều hạt mầm nảy lên, lớn rất nhanh, bỗng chốc cả mặt biển như một cánh đồng tươi tốt những cánh buồm. Gió thổi xôn xao biển. Buồm cứ lớn lên dào dạt rõ dần…

Mẹ tôi bảo, những cánh buồm ấy đi từ đảo Cát Vàng.

Tôi không bỏ sót buổi chiều nào thày tôi trở về. Lúc đầu tôi thấy các ông bạn thày tôi đứng trên thuyền. Những con mắt thuyền lim dim trên mặt nước. Nếu các ông nhảy ào xuống biển, quần đội trên đầu, thế là chuyến đi thắng lớn. Tôi cứ nhớ mãi cảnh tượng ấy. Bao nhiêu là đầu đen đàn ông hì hụi trong sóng gần bờ. Rồi các ông nhô lên cả vầng ngực đỏ au. Các ông ấy cao dần, cao dần lên trên sóng biển, tồng ngồng đi vào bờ cát. Các bà xô nhau đón thuyền, mang thúng mủng ra í ới gọi nhau. Còn các ông thì chậm rãi mặc quần, cười khẩy nhìn đám đàn bà tranh nhau chia cá…

Một thời gian sau, những chuyến đi biển cứ thưa dần. Từ biển những đàn máy bay phản lực gầm rú át cả tiếng sóng, bay qua xóm chài ven biển. Chúng tôi đội mũ rơm đến trường, nhưng tôi và thằng Bi không mấy khi chúi xuống hầm. Chúng tôi đếm máy bay bay vào. Rồi sau đó đếm máy bay bay ra. Tôi và thằng Bi làm một phép tính trừ, thế là ra số máy bay bị bắn rơi trong đất liền. Đơn giản thế thôi.

Chị Hiền tôi làm dân quân, trực chiến ở trận địa cao xạ. Chị năm đó hai mươi tuổi cao lớn săn chắc, ngực nở to ụ. Tôi và thằng Bi đã đi rình xem chị Hiền tôi và anh thằng Bi đi tắm biển. Chị Hiền để cả quần áo, nhảy xuống bơi cùng anh Bình. Khi hai người lên, thì chị Hiền chỉ còn có cái quần xilip, vú thỗn thện, cười vui như vớ được vàng. Tôi hỏi Bi: Chết bỏ mẹ, quần áo chị tao bị rơi xuống biển à? Thằng Bi nghệt mặt ra. Nhưng chúng tôi không bị ngạc nhiên lâu. Hai người đi lên bờ, chân họ vướng theo lượt thượt những quần những áo của bà chị tôi lê theo cát… Họ thường tắm tối. Bình hiện ra từ bóng tối, đen kịt, mạnh mẽ, sóng liếm bờ cát, chạm vào da thịt Bình, ngọn sóng phát sáng như có lân tinh.

Đó là những ngày lạ lùng. Tôi thấy thày tôi ngồi uống rượu, đăm đăm nhìn ra biển. Biển lặng. Màu xanh tràn khắp không gian. Màu xanh ấy tràn cả lên trời, làm thành nền xanh trong vắt. Thày tôi nói giọng đầy cảm khái: Gió thế này, ở gần Đảo Cát Vàng tha hồ cá nục lông…

Tôi hơi ngơ ngẩn, thì mẹ tôi bảo: Ngày xưa, tuổi như mày, thì đã đi biển đủ rồi. Nói thế là hiểu ngay. Chứ đâu ngơ ngác như con nhà nông cấy lúa thế hử?

Tôi hiểu chứ. Sóng yên biển lặng thế này, nếu không có chiến tranh, chính là ngày đi được biển.

Thày tôi dằn mạnh chén rượu xuống, rồi bảo mẹ tôi: Mai chúng tôi đi, đã bàn rồi. Mẹ tôi lo lắng: Bắn phá thế này, các ông có sao thì chúng tôi sống làm chi?

Thày tôi bực: Giờ là năm nào rồi? Sợ gì nữa. Cữ này cũng yên yên. Hiệp định Pari ký rồi, phải làm ăn chứ…

Chị tôi can thày: Xã đội vẫn phổ biến cảnh giác, nhất là các tỉnh miền Trung. Thày đợi ít lâu nữa tình hình yên hẳn hãy đi…

Thày tôi gạt đi: Biển nhà tao. Cha ông tao đi biển, ai cấm được. Chúng mày sợ thì cứ ở nhà.

Hôm sau,  các thuyền lại đi biển.

Và họ trở về thắng lợi. Các ông lội lên bờ rồi, ưỡn bụng ra trước biển, chim cò tồng ngồng đứng rất lâu mới mặc quần vào. Đống cá to ú ụ…

Dần dần, chuyện đi biển trở lại bình thường như thời trước. Trong những ngày đó, tôi là đứa con trai mười bốn tuổi bắt đầu công việc đi biển như bố tôi, ông tôi đã từng đi.

*

2.

Năm bảy mươi ba, anh Bình đi bộ đội.

Chị Hiền, tôi và thằng Bi đi lên huyện tiễn đám trai làng đi. Khi những chiếc xe tải chở tân binh đã khuất, chúng tôi trở về, im lặng không nói với nhau câu nào. Tối hôm ấy, chị tôi trở ra biển, ngồi âm thầm nhìn sóng. Chị khóc. Từng giọt nước mắt chị trôi xuống biển. Không rõ dòng biển nào mang nước mắt chị về phía Nam đến chỗ anh Bình.

Chị Hiền đứng lên, bất ngờ lao ra biển. Chị nhào lên trên sóng, bơi hối hả. Tôi và Bi cuống quýt bơi theo, gọi ầm ĩ… Chị ngụp xuống, biến mất. Hai thằng tôi hoảng sợ thật sự, gào lên… Thì thấy chị lại hiện lên…

Chị bảo: Tao định bơi ra rất xa, đến một cái đảo, ở đấy cho xong. Tôi bảo chị: Chị, yêu mà khổ thế à, em mà lớn em sẽ không yêu ai.

Sáng hôm sau, chị Hiền ngủ một giấc khác thường. Ánh nắng chiếu qua mái giấy dầu, lọt vào chỗ chị nằm. Mẹ tôi đã ngồi đong mắm. Chị hỏi: Thày với em đi rồi à mẹ? Đi rồi. Mẹ tôi thong thả nói, vẫn đếm từng gáo mắm. Bảy hai, bẩy ba. Cữ này đi Bãi Cát Vàng được lắm. Bảy tư, bảy năm. Con gái con đứa, sao ngủ chảy thây ra thế.

Chị đứng lên, lại lăn quay ra giường. Mẹ tôi nhìn ra, dừng tay, chạy đến, ấp bàn tay lên trán, kêu lên: Con này ốm rồi. Khổ thân chưa.

Chị gắt lên: Mẹ mặc con, mùi mắm ghê quá.

A, con này… Tao đẻ mày ngụp trong chum mắm lớn lên… Nằm đấy tao gọi ông Cam y tá đến xem sao…

Thôi đi mẹ, con không phải khám gì cả. Chị gạt đi. Ông Cam khám bệnh con biết rồi. Sờ với nắm phát khiếp…

Sau này tôi mới biết câu chuyện ngày hôm đó. Chị ốm nằm li bì, mẹ tôi phờ phạc. Cả xóm nhiều nhà trông ra biển như mất hồn. Tất cả những thuyền đi lần đó không trở về. Có đánh nhau ở ngoài khơi xa. Câu chuyện đứt nối tìm hiểu nghe ngóng ở đất liền chỉ biết có thế…

*

3.

Tôi thường nhìn thấy dấu vết đảo Cát Vàng mờ mờ. Thày tôi thủng thẳng: Ngày xưa ông cụ nhà mình vẫn đến đó mua nước ngọt. Bây giờ thì nếu có bão gió, đến đó tá túc cũng được.

Một lần, có chiếc tàu tuần tiễu từ phía ấy lướt đến. Người đàn ông mặc quân phục lạ, nói giọng miền Nam, nói lớn: Thuyền có dzô không?

Trả lời: Không vào đâu, chúng tôi lại quay về thôi.

Tiếng miền Nam: Thôi đi mấy cha nội, một đáy hay hai đáy? Có dzũ khí không?

Cả đám thuyền cười rộ lên. Một sĩ quan nhảy lên thuyền. Anh ta cười phô hai hàm răng trắng, nói: Ba có con gái cho con làm rể, con bảo kê cho ba đánh cá dài dài…

Thày tôi cười: Rể thì rể, chứ bảo chi chi. Biển ta, dân ta cứ đi chứ…

Anh ta có cái sẹo ở cổ, nói với tôi: Ê nhỏ, làm anh em nghen.

Thày tôi cười: Nhỏ cũng là Vi xi đấy.

Anh ta ngửa cổ cười: Ha ha ha… Vi xi, Việt xinh. Việt cả mà ba.

Đó là một lần chúng tôi động với quân đội bảo vệ đảo.

Cuộc sống có những phút lạ lùng, nó xoay chuyển toàn bộ số phận một đời người. Tôi không mê tín, nhưng tôi cho là điềm trời có liên quan đến chị tôi. Chị Hiền hôm nào cũng ra biển tiễn bố con tôi ra khơi, nhưng hôm ấy không thấy chị. Tôi đi xa bờ rồi, lòng vẫn bồn chồn để ở đất liền. Chị ốm ư? Từ khi anh Bình đi bộ đội, chị buồn lắm. Tôi thương chị, không biết làm sao được.

Lần đó, đoàn thuyền của chúng tôi đang sửa soạn công việc, thì thày tôi bỗng cứ đăm đăm nhìn mặt biển, nhìn xa xa mù mịt khói mây đùn lên từ chân trời, thốt lên: Động biển rồi.

Mọi người chạy xô ra nhìn theo. Trời yên biển lặng, thế mà thày bảo là động biển. Mọi người rất lo lắng. Thì ra ngoài xa kia đang chiến sự. Cả đoàn gọi nhau lánh xa, hoặc trở về. Trong khi bàn tính, chúng tôi tiếp tục tiến xa bờ. Vật lạ trôi lềnh bềnh. Người đi biển biết đó là dấu hiệu của thuyền tàu bị đắm. Thày tôi và một thuyền nữa bẻ lái nhằm hướng Hòn Cần Vương. Đó là một đảo nhỏ, tương truyền ngày xưa có một nhóm quan quân chạy đến trú ngụ, trốn triều đình. Dân biển đi thuyền qua lại, trao đổi hàng, rồi gọi thành tên. Người cuối cùng trong đội Cần Vương đã chết, đảo lại trở lại không người.

Nhưng hôm đó, thày tôi tìm thấy ở đảo có một người. Một người đang thoi thóp cận kề cái chết.

*

4.

Mấy ngày sau, thuyền đi cá lần lượt trở về. Phải tìm nơi trú ẩn. Rồi lần lần đi qua giới tuyến ven biển để đi ra.

Chúng tôi về đến bến, thấy người làng cũng lo lắng nhưng không còn buồn bã. Thuyền thả neo, những lão chài để cả quần áo nhảy lội vào bờ. Họ cứ bước đi uể oải bì bõm, để lại con thuyền nhẹ bẫng dập dềnh trên sóng. Những con mắt thuyền hôm ấy mở to, sao mà âu lo đến thế. Tôi nhảy xuống biển gần như sau cùng. Vì tôi phải đỡ một người. Đó là người lạ mọi người tìm thấy anh ở đảo Cần Vương.

Anh ấy ốm lắm. Cơ thể suy nhược. Đôi mắt thất thần. Ông Cam y tá xã đến nghe ống nghe, gõ gõ, rồi cười nhe răng: Phải đưa đi bệnh viện huyện. Ông trình chứng minh thư anh ấy rồi xã giới thiệu đi.

Thày tôi bảo: Thằng cháu tôi ở Vĩnh ra, ông có thuốc chăm sóc nó, có gì tôi xin xin hậu tạ. Người miền biển ốm đau có gió biển ít lâu mới khỏi được, chứ mang đi ra huyện càng ốm. .

Cam nhìn chị Hiền, liếc rõ dài: Có chuyện gì, cứ bảo cô Hiền đến báo tôi nhé.

Cam về rồi, mẹ tôi ái ngại hỏi thày tôi: Có trình báo với xã không ông?

Thày tôi ừ hừ trong cổ họng, hất hàm bảo mọi người: Cứ để nó khỏe lại rồi tính. Ốm đau biết sống chết thế nào.

Những ngày đầu, anh như một cái xác chết đang sống nốt. Anh không còn thần sắc. Nằm như đứa trẻ. Lúc tỉnh nhìn trân trân lên trần nhà. Lúc mê nói tiếng Nam quát mắng ai đó ầm ĩ. Những lúc đó, thày tôi mang chõng tre ra sửa, đập vồ chan chát inh tai nhức óc. Chị Hiền làm người hộ lý bất đắc dĩ. Chưa bao giờ chị phải làm những việc chăm lo như thế. Nâng giấc một người, lại là người đàn ông còn trẻ. Chị Hiền bảo: Anh Bình tao cũng không chăm được như thế. Dạo này tôi thấy chị hay thẫn thờ, mệt mỏi.

Ông Cam đến. Ông ấy hí hí: Cô Hiền, anh gì đã đỡ chưa? Tôi thấy cô ngày càng ốm, còn anh ta ngày càng khỏe rồi đấy?

Ông Cam nhìn xoáy vào chị, rồi gật gù nói: Tôi biết cô bị làm sao rồi. Cô lên trạm xá tôi khám cho, giải quyết sớm đi, không thì làng trên xóm dưới biết thì khốn. Ông Cam nháy nháy mắt. Tôi che chở cho, đừng sợ. Ông Cam đã đi rồi. Cái nhìn của ông ấy còn ám ảnh mãi. Tôi hỏi chị Hiền: Chị ốm à? Chị Hiền ôm ngực, nôn mửa. Chị chạy ra xa nhà, nôn ọe, như tắc thở.

Mẹ tôi đi chầm chậm đến chỗ chị ngồi. Mẹ ngồi xuống, vạch áo ngực chị, nhìn chăm chú. Hai bầu vú chị căng nhức. Mẹ xoa xoa đầu vú chị đen thâm, rồi lặng lẽ rơi nước mắt. Tôi chưa thấy mẹ tôi khóc thế bao giờ. Không có tiếng khóc. Chỉ có nước mắt rơi chan chứa…

*

5.

Đất nước có chuyện Mai An Tiêm, hai ngàn năm sau có chuyện chị tôi và anh Thủy Thủ.

Anh và chị lặng lẽ đi ra thuyền từ khi còn tối đất. Chị khóc dấm dứt. Anh đi lầm lũi. Anh ấy vẫn lầm lũi thế từ khi thày và tôi tìm thấy anh ở đảo Cần Vương. Khi đó anh chỉ kịp nói một câu: Thủy Thủ, rồi mê lịm. Thôi, tên là Thủy Thủ. Thày tôi nói thế. Tôi nhận ngay ra anh vì anh đã có lần nhảy xuống thuyền tôi, đùa với thày tôi nhận làm con rể. Cái sẹo ở cổ anh lúc đó đỏ ửng.

Tôi coi như cuộc đời có điềm trời. Sao bao nhiêu thủy thủ tàu tuần tiễu không ai nhảy sang thuyền chúng tôi nói chuyện khơi khơi? Chắc hẳn không có cuộc gặp gỡ tình cờ ấy thì anh cũng đã chìm dưới đáy biển rồi. Từ khi lên bờ, ốm lên ốm xuống, khỏi rồi anh vẫn lầm lì hầu như không nói. Và nếu nói chỉ nói với thày tôi. Nhưng ai cũng đoán biết được anh từ đâu đến. Anh từ phía bên kia. Từ vùng các đảo gọi là Bãi Cát Vàng. Cả đơn vị của anh đã bị quân cướp tiêu diệt hết. Đảo mất, người cũng chết.

Sau đó, ông Cam và mấy cán bộ xã đến nhà tôi. Các ông ấy hỏi rất nhiều. Ông Cam dọa thày tôi sẽ phải đi tù. Thày ngẩng cao đầu hỏi: Mày có dám đi biển không mà dọa tao? Cam giận, mắt long lên, kêu: Nhà ông chứa phản động, con gái ông hủ hóa chửa ễnh bụng ra, ông còn làm già. Thày tôi đang định vung tay lên, thì buông thõng xuống. Mấy cán bộ xã bảo: Chúng tôi khuyên nhà ta trình báo.

Đêm hôm ấy, thày tôi và anh Thủy Thủ ngồi uống rượu với nhau rất khuya. Họ ngồi trên bờ biển. Hai bóng đàn ông nhô lên trên sóng nước như hai cái đảo nhỏ. Tôi bò dần dần từ nhà ra phía hai người, thấy chai rượu rỗng không lăn lóc bên cạnh, còn hai người cứ ngồi nhìn đăm đắm ra biển. Họ không nói với nhau câu nào. Hoặc giả đã nói hết rồi thì tôi mới đến nơi. Thày tôi không quay lại, nói dõng dạc: Hòa.

Tôi bước đến gần.

Thày tôi nói rõ ràng: Mai anh Thủ và chị mày ra đảo Cần Vương.

Tôi đi biển rồi, cứng cáp rồi, nhưng nhìn cảnh anh và chị tôi phải lưu đày tự nguyện như thế, lòng tôi cũng đau lắm. Tôi cũng khóc trên đường về. Thày tôi không nói gì, đưa tay lưới cho tôi. Công việc khiến con người không chết trong buồn thảm.

Mẹ tôi khóc dấm dứt: Ông ơi, có phải là mang con mình bỏ đi không? Ôi dào bà này đúng là đàn bà đái không quá ngọn cỏ. Con Hiền may mà không như bà. Ông cứ nói thế… Còn thằng kia thì sao? Ông có biết ông giấu ai đấy không? Thày tôi tức, đập chén rượu đang cầm trên tay xuống cọc góc chõng. Cái chén vỡ tan tành.

Thày tôi vẫy tôi. Tôi ren rén đi vào. Thày chỉ tôi ngồi xuống. Thày giót rượu ra hai cốc mới, bảo tôi: Uống đi.

Tôi ngập ngừng cầm chén rượu lên. Chưa bao giờ tôi thấy thày lạ lùng như thế. Thày nhìn tôi. Tôi bèn uống. Rượu đắng và cay sộc lên mũi. Toàn thân tôi như bốc lửa.

Thày tôi nói: Chỗ ấy ông con, cụ con, rồi các cụ kị từ xưa xửa đã ra đánh cá. Chỗ ấy bao nhiêu thằng như thằng Thủ đã chết để giữ. Thế là chúng nó đã đến gần rồi.

Tôi thấy máu nóng bốc lên đầu, bèn nói hơi to: Thày ơi, chuyện ấy để xã huyện tỉnh lo, con chỉ lo cho chị…

Bốp. Cả chai rượu đập vào góc chõng. Chai rượu vỡ tung tóe. Chưa bao giờ tôi chứng kiến thày tôi giận thế. Thày đứng lên, tay cầm cái chai vỡ. Tôi hoảng thực sự. Toàn thân tôi co rúm, cứng đờ. Thày tôi buông tay, nói một câu gằn giọng: Mày có phải người không? Mày chưa phải đàn ông hả?

*

6.

Cuộc sống đảo hoang cũng không có gì ghê gớm. Bởi vì đơn giản đó không phải ở đảo hoang. Một tháng một lần, thày tôi mang đến, hoặc gửi gạo gửi đồ tiếp tế cho anh chị. Anh chăm chỉ, chị chịu khó. Điều may lớn là cả hai không hề đau ốm. Chị sinh con. Trời đất và biển rộng phù hộ họ. Bà mụ che chở cho thằng bé con chị. Anh ấy đặt nó là thằng Cát.

Thằng Cát biết bò, thì tôi mang ra cho anh chị một cái đài. Bây giờ trong nhà đã có tiếng trẻ con, lại có tiếng người qua làn sóng điện. Cuộc sống bắt đầu thấy ấm cúng. Một thời con người làng xóm đã bỏ lại đằng sau, bây giờ anh chị chỉ còn biết qua âm vang giọng nói. Anh nghe một đài, chị nghe một đài. Ở đây tự do giữa đất và trời. Chỉ có hai người. Và trời và biển đảo...

Chị thường bế con ra biển nhìn về phương Tây. Thích nhất là khi những bóng thuyền xuất hiện. Chị hay gọi: anh ơi, có thuyền. Anh bình thản, cười nhè nhẹ. Với anh, mọi người là dấu hiệu của bất trắc, thù nghịch. Với chị, mọi người là điều tiếng thị phi chê trách. Bây giờ điều quan tâm chung của anh và chị là thằng cu Cát. Anh nói vui lắm: Nhà ta có hai người chăm sóc một người. Thế là đủ, rồi tính sau. Trời đất rồi sẽ khác.

Hôm ấy, chị cũng gọi: Anh ơi có thuyền. Anh bảo: Em chuẩn bị đi, để em và con trở về. Từ chân trời xuất hiện dáng tàu đen xám. Những con tàu nhanh chóng tiến về đảo, nhìn rõ lá cờ đỏ. Anh kêu lên: Tàu chiến.

Anh nghẹn ngào: Họ ra bắt anh đấy. Rồi bế thằng cu lên, nựng nó. Ba đi học Y khoa, rồi đăng lính. Ráng cực mình mà má và các em được nhờ. Ba lại đi học quân y, đi làm thuốc trong hải quân. Rồi ra Đảo Cát. Chỉ còn ba tháng nữa là ba hết hạn quân vụ trở về rồi thì…

Anh nghẹn lại. Người đàn ông khóc khác hẳn người đàn bà khóc. Tiếng chỉ nấc nghẹn trong cổ. Hơi bật thở từ lồng ngực phát ra như nổ lên không được. Chị thương anh, tranh nói. Đưa con đây em. Cha tiên sư con chó này. Bố mày đi rồi bỏ mẹ ở lại với chó con. Không biết sống chết thế nào. Bây giờ mẹ chỉ biết ba Thủy Thủ với chó con thôi. Đời mẹ bỏ đi rồi…

Anh giằng lấy con. Nào ra đây ba. Mẹ mày nói láo. Ở đây mà là bỏ đi à? Là bắt đầu chứ nhỉ. Đây là đất mình nước mình. Mình là con cháu vua Hùng, thằng cu của bố sẽ là thằng Hai Lang Liêu nhá. Bây giờ là lúc mẹ con con lên rừng, xuống biển…

Chị lại tranh lấy con. Đưa đây em. Em gọi nó là thằng Cả. Cả Cát, thằng chó con nhỉ. Ôi nó giãy gớm quá. Này bò đi này. Bò đi ra biển mà bơi đi này…

Những người lính hải quân xuất hiện với nụ cười hiền hậu…

*

7.

Sau khi đơn vị Hải quân đến đóng ở đảo Cần Vương, tôi có mấy lần ghé ra đảo ấy. Cuộc sống của anh chị và thằng bé Cát thay đổi hẳn. Chị vui tươi, anh hoạt bát. Dường như anh và chị tìm thấy cuộc sống đích thực của họ. Giá như cuộc sống cứ như thế thôi, đã là một hình ảnh về một gia đình trọn vẹn. Tôi mới lớn, chưa có mối tình nào vắt vai, cũng thừa hiểu thế nào là hạnh phúc.

Năm bảy tám, tôi trở thành lính hải quân, rồi năm tám mươi đi học sĩ quan ở Nha Trang.

Một dịp may hiếm hoi, tôi tìm cách đi ra đảo Cần Vương với đội tàu vận tải. Chị tôi đẫy đà, tươi tắn. Anh Thủy Thủ có vẻ gầy hơn. Chỉ huy đảo bảo tôi: Tình hình dạo này có vẻ căng, ở đây sát nách Hoàng Sa của mình đã bị chúng nó cướp, tôi đang vận động hai anh chị trở về đất liền, anh ra đây nói kiên quyết vào, vì tương lai thằng Cát nữa.

Đêm ấy, tôi uống trà với anh chị rất khuya. Chị tôi một mực: Anh ấy đi đâu, chị đi đấy. Còn anh thì nói: Cậu bảo chị hộ anh, về đi. Anh phải ở lại đây. Anh nhờ cậu…

Tôi nói mãi cũng hơi bực. Anh quá ương bướng. Sao anh phải ở đây? Ai bắt anh ở lại? Anh đừng tự làm khổ mình. Anh yên lặng, cúi đầu. Trông anh khổ sở như chịu tội. Tôi an ủi anh: Anh đừng sợ gì. Rồi mọi việc cũng qua, đất nước thống nhất rồi. Anh ngẩng lên, nói nhẹ: Anh sợ gì đâu? Anh về, còn mặt mũi nào nhìn thấy đồng đội nữa. Tôi chợt hiểu: À, vậy là… Cậu không biết đâu. Anh biết chỉ mới mười tàu, đã bao nhiêu con người bỏ mạng. Đau lắm. Chúng lấy mất đảo, còn anh em phiêu bạt vào lòng biển cả.

Tôi nghe anh nói thế cũng buồn nhức nhối, bèn bảo: Bây giờ việc ấy là của hải quân chúng em, anh về đi.

Anh cười: Cậu sai rồi, bảo vệ đất và biển của cha ông, sao lại chỉ là việc của hải quân các chú. Tôi chợt thấy mình lỡ lời. Tôi xin lỗi anh và xin phép về đơn vị đảo.

Đêm, tôi thao thức trở dậy đi ra biển. Đảo nhỏ, đi về phía nào cũng sẽ gặp cái lều hạnh phúc của anh chị. Tôi thấy chị tôi khóc thút thít. Anh ơi, về với em đi. Không, em về đi. Anh không về thì em ở lại với anh, anh là chồng em. Ừ, còn thằng cu Cát. Em về đi. Không…

Chị tôi gào lên: Thế còn con anh?

Anh ngạc nhiên nhìn chị, ánh mắt tóe lửa.

Chị cầm tay anh đặt lên bụng mình. Anh gục đầu xuống. Anh xoa bụng chị rồi cúi xuống chạm môi vào bụng chị căng nây nẩy. Tôi thấy cay sống mũi. Người ta khổ cũng vừa thôi, sao anh chị lại khổ nhiều đến thế? Tôi mất hết sức, nằm vật ra bờ cát. Tôi nhìn trân trân lên trời. Ngày đi biển, thày tôi bảo mỗi người có vía là một ngôi sao trên bầu trời. Chắc sao vía của chị tôi mờ tối, nên chị khổ. Còn vía anh là ngôi sao nào?

Chị bảo: Nếu anh ấy có một ngôi sao vía, thì phải là sao Bắc đẩu, trung kiên, khăng khăng không di dịch. Anh đã định gì, thì không ai lay chuyển được. Chỉ khi biết chị có mang, anh mới hoảng hồn, rồi kêu lên: Anh làm em khổ rồi. Thôi thì anh cũng phải hy sinh.

Hy sinh của anh là gì? Tức là anh phải bỏ đảo trở về. Anh bảo anh phải chọn ngày từ giã bạn bè đồng đội.

Chị về Đà Nẵng trước, ra mắt má anh. Cả nhà mừng thôi là mừng. Bởi vì họ hàng nghĩ rằng anh đã chết hồi hải chiến. Chị sinh con bé Hoa, phụ giúp má anh bán hàng và tính ngóng từng ngày đón anh ấy.

Tôi đã nghĩ cuộc đời như câu chuyện cổ tích, đã tin rằng đời người gian truân luôn có hậu.

*

8.

Nhưng đây lại là chuyện bây giờ, chuyện thời tôi sống.

Chúng nó tấn công lên đảo Cần Vương. Cả đơn vị hải quân và anh Thủy Thủ đều đã về biển cả. Tôi muốn không tin chuyện đó là sự thật. Nếu có trời đất, có quỷ thần thì làm sao dung túng chúng nó giết người cướp đảo… Tôi nhớ sao là nhớ thày tôi. Thày tôi cứ làm tượng đài vô hình sừng sững trong tâm trí tôi, trong tay chai rượu mao đài đập vỡ tan, mắt nảy lửa, kêu lên: Thế là chúng nó đã đến gần rồi.

Bây giờ chị thường ngồi nhìn ra biển khóc. Chắc tuyến lệ của con người giống như suối nguồn không bao giờ cạn. Khóc mãi, rồi lại khóc nữa được, là sao?

Chị nuôi thằng Cát, nuôi con Hoa, rồi lại nuôi con của chúng nó. Chị đã là một bà già, ngồi với cháu nhìn ra biển. Chiều, chân trời xa xa hiện ra chấm đen như những vết thương. Vết thương ấy lớn dần thành những con thuyền, đến gần thì tiếng máy như búa gõ vào không khí.

Tôi vẫn không thể quen được với tiếng máy thuyền. Riêng tôi, tôi không muốn nhìn ra biển nữa. Bây giờ thuyền cá về ầm ĩ. Thuyền neo vào cầu cảng, thằng Cát bảnh bao nhảy lên cầu tàu chứ đâu phải đội quần lên đầu để vào bờ. Từ cửa nhà, nhìn thấy những con mắt thuyền vô hồn, mờ mịt. Biển cũng như cuộc sống, ngày càng dễ dãi hay sao? Bản sắc biển trởi chỉ còn trong tâm khảm thế hệ tôi chăng?

Chị thủ thỉ với con bé cháu lẫm chẫm bi bô: Hồi bà bằng tuổi cháu, biển rất đẹp.

Đẹp thế nào hả bà?

Cháu ra hỏi ông cậu?

Tôi bảo cháu: Hồi xưa, thuyền về là nhìn thấy cánh buồm như một mầm cây. Rồi những mầm cây lớn nhanh dần, mặt biển như là một cánh đồng cây lá…

Ôi thích thế. Thuyền và buồm đi từ đâu hả ông?

Quần đảo Cát Vàng- Hoàng Sa, quần đảo Cát Dài- Trường Sa, và có nhiều đảo nữa…

Chị tôi nghẹn ngào: Và đảo Cần Vương. Chị nấc lên…

Thằng Cát bước vào nhà. Nó nhìn chị tôi, kêu lên: Sao mẹ cứ khóc hoài hoài vậy?

Tôi khẽ hỏi chị: Anh Thủy Thủ có tấm ảnh nào không, sao không để lên bàn thờ?

Chị quệt nước mắt: Có, nhưng đó là ảnh cũ, quân phục…

Thằng Cát đứng sững, rồi rắn rỏi bước đến, bảo mẹ nó: Bà ơi đưa ảnh đây con.

Con bé nhìn ảnh anh khói hương nghi ngút. Nó nghiêm trang dỗ dành bà nó: Bà ơi, đừng khóc như em bé nữa? Cháu sẽ đi ra Hoàng Sa, Trường Sa tìm ông cho bà, bà nhá…

Chưa có bình luận nào !
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : vlezmq
Bài viết khác