Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Nguyễn Việt Long

Bình Luận của Nguyễn Việt Long

Chi tiết "lãnh tụ cực tả của QDĐ Lão Trung Kha" viết sai tên. Chả có ai là Lão Trung Kha cả, đó là Liêu Trọng Khải.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Tôi không rành về Lào cho lắm, nên không hiểu chế độ hiện nay như thế nào? Nhiều khi thấy thế giới phân loại các quốc gia cộng sản gồm 5 nước thì có Lào. Nhưng đọc một văn bản của Cộng đồng Châu Âu xếp loại 4 nước cộng sản trên thế giới thì không có Lào. Nghe nói, họ còn bảo VN sang mà đưa tượng ông cụ về đi.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
nguyen thi cam tu

Bình Luận của nguyen thi cam tu

cac ban oi cho minh y kien nhe. vay tom lai ho quy ly duoc xem la anh hung hay gian hung
Truyện Ngắn
Con suối

Con suối mùa cạn trơ đáy, một lạch nước nhỏ chảy róc rách giữa bãi đá và cát. Chỗ bờ suối chông chênh đá lổm ngổm, đá đen xam xám có một bóng người ngồi lặng im như đá, áo quần tóc tai quện nhau một màu đen hơn đá. Đó là một người đàn bà.

Nếu như dòng suối dâng đầy nước, thì  gương nước có thể soi thấy vẻ mặt của người đàn bà ấy. Một gương mặt không tuổi tác, phờ phạc và đẫm nước mắt.

Bỗng từ xa, có dáng một người đàn ông đi lại. Người đàn ông dường như chủ đích đến chỗ người đàn bà, nên ông đi thẳng băng qua vạt đồi hoang, bước dò dẫm qua lòng suối cạn… Thực ra ông đã đứng tuổi, bụng đã béo, tóc đã có sợi bạc ở thái dương.

Ông nhìn người đàn bà, hỏi luôn: “Cô là Thạch hả?”

Người được hỏi tên Thạch chỉ đáp lại bằng cái gật đầu. Nhưng gương mặt cô giãn ra, mắt mở to dò hỏi. Chiều đã xuống, nắng đã nhạt lắm, thế mà cái nóng cứ hừng hực. Hơi ẩm bốc lên rất nồng nặc, khó chịu. Khoảng cách hai người rất gần, thế mà không khí như nén lại. Hóa ra cô còn trẻ, da dẻ đỏ mịn dưới nắng nhạt, mi mắt còn đọng một giọt nước trong vắt không biết là mồ hôi hay là giọt lệ…

Người đàn ông bước đến, ngồi xuống một tảng đá, đủ gần nhưng không gần quá. Ông không nhìn cô, thở dài: “Tôi vừa ở chỗ nhà trường, vừa gặp thằng… à cậu Định…”

“Thế ra ông là thanh tra ở Sở xuống. Ông làm gì tôi…”

“Không, tôi không phải là thanh tra Sở”- Ông ôn tồn- “Nhưng tôi biết chuyện của cô”

Thạch bất chợt đứng lên, làm một động tác bước đi nhưng rồi lại đứng lại, ngồi xuống, giọng gay gắt: “Có gì mà ông… Thế ông là ai?”

“Hôm qua tôi ở trong phòng Hiệu trưởng của Định, nghe thấy bên kia cuộc họp kiểm điểm cô. Thằng Định… À, cậu hiệu trưởng Định này là người bà con với tôi, tôi đi ngang qua vào thăm thôi…”

“À… Thì ra anh Định bảo ông nói với tôi… Tôi biết rồi, không phải nói nữa”

“Ấy”- Người đàn ông xua tay- “Đừng hiểu lầm. Tôi muốn nói với cô rằng, tôi không đồng ý, hoàn toàn không đồng ý cái kiểu họp hành kiểm điểm như thế. Bây giờ là thời nào rồi… Bốn mươi năm trước còn có thể…”

Người đàn bà ngồi yên, khẽ liếc nhìn người đang nói…

“Tôi cũng nói với cậu Định, các cậu làm thế không ổn. Cô có lỗi gì nào? Bất luận gì thì đàn bà sinh một đứa con cũng là không có lỗi. Luật pháp còn thừa nhận con ngoài giá thú. Đáng nhẽ chi bộ, tổ bộ môn, nhà trường phải động viên cô ấy, đằng này lại mang ra mổ xẻ…”

“Ông nghe rồi đó… Vậy thì ông biết hết rồi. Kiểm điểm, rồi kỷ luật, cuối cùng là cho nghỉ dạy. Tôi biết nếu ở thành phố thì chả ai làm gì, nhưng đây là nông thôn, là miền núi… Họ bảo tôi vô đạo đức, rồi ủy ban cũng bảo không thể để tôi dạy con cái họ được… Tôi cũng nghĩ sẽ phải nghỉ thôi”

“Sao Ủy ban xã lại họp với trường để kỷ luật cô?”

“Thì nhà trường là một chi bộ thuộc đảng ủy xã. Anh Định hiệu trưởng kéo ông Đảng ủy vào để làm kỷ luật tôi cho nhanh thôi”

Trong tay người đàn ông cầm một cục đá. Ông đập đánh chát xuống tảng đá lớn ông đang ngồi. Gương mặt ông tức giận, méo mó: “Hừ… Thằng… Giời có mắt đấy, sao giời không nói gì. Cậu Định ấy, chính là con hoang, à mẹ nó ngày xưa cũng phải bỏ thành phố về đây để sinh ra nó, cũng khốn khổ vì tội hủ hóa, sau bà ấy lấy chồng khi nó mới được mấy tháng…”

“Sao ông biết? Ông là…”

Người đàn ông quay về phía Thạch, giọng yếu ớt: “Tôi tên là Minh, tôi ở Hà Nội, đi ngang qua đây ghé vào thăm cậu Định”

“Ông đã nói rồi”

“À, ừ… Tôi là người họ hàng, nên tôi biết chứ, nên tôi…”- Ông ngần ngừ- “Nên tôi nghe câu chuyện của cô, tôi nghĩ nhất định phải gặp cô, nói chuyện với cô… Hỏi cô xem bây giờ cô nghỉ dạy, thì làm thế nào”

Người đàn bà mở to mắt, đó là khi người ta cảnh giác.

“Ông hỏi thế làm gì. Thương tôi làm gì? Tôi làm tôi chịu”

Cô khẽ xòe tay đặt lên bụng mình… Làn áo mỏng che cái bụng hơi đẫy.

Ông Minh: “Nhưng cô ở đây, người ta coi rẻ mình, và cô sống bằng gì?”

Thạch cười gằn khẽ, cái cười vẻ bất cần: “Tôi đến đây lúc còn mới ra trường, còn như trẻ con, tin rằng đi vùng xa vùng sâu mấy năm thì Sở điều về thành phố. Lúc đó còn vận động phụ huynh làm trường. Tự tay tôi chặt luồng, tôi cũng trèo lên lợp nhà… Cái chỗ giờ là nhà để xe xiêu vẹo ấy đấy. Ăn bữa đói bữa no, nhưng lúc nào cũng nghĩ đời mình may, đi xa mấy năm rồi về… Nào ngờ cứ đằng đẵng… Năm nay tôi ba sáu rồi. Vị chi là mười ba năm có lẻ…”

Ông Minh ngồi yên. Ông biết nên không nói gì. Khi người đàn bà đã tự nói tuổi rồi, thì sẽ không còn gì có thể giấu nữa.

“Cứ một mình tôi, sau mấy đứa nữa về… Rồi gần đây mới có kiện toàn nhà trường, xây cất tử tế. Nhưng tôi vô duyên... Cứ ở chung với hết đứa này đến đứa khác. Đứa thì về thành phố, đứa thì lấy chồng… Những đứa hàng đêm ngủ ôm nhau như đồng tính, thế mà ai ngờ chúng nó cũng phát biểu cay ca, cũng bỏ phiếu tôi phải kỷ luật thôi việc…”

Cô thở dài: “Nhưng chả trách chúng nó. Không làm thế thì cũng không được với ông Định… Có những lúc, tôi đã đi ra suối này, định nhảy xuống đó, nhưng đi đến nơi, hóa ra lại là hôm suối cạn…”

“Sao hôm suối đầy nước, cô không làm đi”- Ông cười, có vẻ làm cho tinh thần cô dịu lại.

“Hôm đầy nước, thì lại không có hứng chết nữa, ông ạ…”- Cô đứng lên, kiên quyết- “Ấy chết, tôi vô duyên quá. Cứ huyên thuyên, không biết ông là ai… À ông là người họ hàng với ông Định, đi ngang qua đây…”

Cô chợt nhìn lại ông Minh, như phát hiện ra điều gì: “À, tôi nghe nói khi ông đến, ông Định không tiếp, chắc gia đình có chuyện gì…”

Ông cũng đã đứng lên: “Ừ… chuyện gia đình. Chắc cậu ấy không muốn ai biết câu chuyện ngày xưa”

“Ông đi đi, thương hại tôi tôi không cần?”

Ông Minh nhìn vào mặt Thạch, giọng ông chùng xuống: “Tôi ngần này tuổi rồi, tôi biết cô đang như thế nào. Hồi xưa, mẹ thằng Định cũng ba bốn lần định chết. Nhưng rồi bà ấy cũng sống vậy nuôi con. Có lần bà ấy lên đây rồi, điều tiếng chi đó, định tự vẫn, may nhờ có dân đi núi nhìn thấy. Tôi vội vã lên đây khuyên can, từ đó bà ấy không tìm cách chết nữa”

“Ông bảo bà ấy như thế nào?”- Thạch nói khẽ, môi cô run run.

Ông Thạch nhìn quanh, rồi đáp một hòn đá nhỏ xuống lòng suối. Hòn đá mất hút vào không gian vạn vật…

“Tôi bảo bà ấy, con người ta cũng như con suối này. Nhiều lúc tưởng như không còn sức lực nữa, tưởng như khô héo rồi. Nhìn xa thì không thấy gì, nhưng thật ra vẫn còn một dòng nước nhỏ chảy róc rách không ngừng nghỉ. Cho đến khi bất ngờ mưa đổ nước trên nguồn về, lúc đó mới thấy nó mạnh mẽ như thế nào. Đời người cũng như đời suối, không phải cứ róc rách mãi, nhất định sẽ có lúc tràn trề…”

Thạch ngước nhìn người đàn ông: “Ông cũng văn vẻ gớm”

Người đàn ông thở dài: “Nhưng tôi thì bà ấy chả gặp nữa…”

Lúc đó, từ phía rặng núi xa, đám mây xám đùn lên như khói. Một bầy chim xao xác bay lên. Tiếng gì rì rầm rất xa, vọng lại như phát ra từ lòng núi.

Thạch nói: “Tôi về đây. Chiều hình như gió bắt đầu lạnh rồi”

Ông bước theo cô, dò dẫm xuống lòng suối cạn: “Cô sẽ làm gì để sống nuôi con?”

“Tôi ở đây quen rồi. Ở thì mấy. Ở đây cũng không cần nhiều tiền như thành phố. Đến ăn xin nuôi con là cùng chứ gì… Ông cũng về trường à?”

“Không, tôi chào nó rồi. Đi luôn. Tôi muốn chuộc lại một lỗi lầm…”

“Đi Hà Nội phía kia chứ ông ơi…”

“Tôi định bàn với cô một chuyện…”

“Ồ… Kệ tôi…”

Bỗng nhiên, một dòng nước lớn từ phía trên thượng nguồn chảy ngoằn nghèo đổ lại cách chỗ hai người một đoạn dài. Thạch bỗng ngẩng nhìn trời, một bầu trời xám nặng trĩu. Cô hoảng hốt: “Chim bay loạn từ nãy, nói chuyện với ông không để ý. Lũ về…” Cô nói rồi cuống quýt chạy trên bãi cát lổn nhổn sỏi… Dáng điệu người đàn bà chạy trốn rất khốn khổ. Ông Minh chợt đứng lại, ngẩn người. Ông chỉ kịp nhận ra rằng, cô ta đang rất ham sống, đang trốn chạy một thứ nguy hiểm mơ hồ…

Rồi ông Minh cũng chạy theo, ông vấp phải một cái cây mục, khụy xuống. Thạch quay lại chìa tay, rối rít kéo ông đứng dậy: “Mau lên, mau lên… Ông chưa biết lũ kinh khủng thế nào…”

Hai người chạy chật vật… Họ chạy đến bờ suối bên kia… Mấy bậc đá nữa mới lên hẳn bờ. Bất ngờ một dòng nước cuồn cuộn đổ xuống từ phía khúc quanh của con suối, chỗ ấy đón dòng từ sườn núi xuống. Nước ập đến rất nhanh. Thạch nhanh nhẹn nhảy lên được bờ, còn lại ông Minh đang loay hoay trên một tảng đá. Nước dâng đến chân ông. Thach lại quay lại, kêu rối rít: “Nhanh, nhanh, nhanh… Trời ơi”

Thạch lại nhảy xuống bậc đá một lần nữa nắm tay kéo ông Minh thật mạnh. Bụi và lá khô xộc lên, ném cát vào mặt mũi họ. Dòng nước trắng xối xả lùa đến. Trong tích tắc, ông Minh nhoài lên được bờ đá. Hai người hối hả chạy tiếp về phía rừng cây, để lại một lòng suối đang lồng lộn dâng đầy nước.

*

Hà Nội có những con phố khúc khuỷu quanh co, dấu vết của đường làng biến thành đường phố. Nhưng có chỗ đường phố nở rộng, còn lại vài bụi cây quanh một cây cổ thụ, phình ra thành một bãi nho nhỏ, chỗ tự nhiên thành chợ cóc, túm tụm người với người. Từ lâu, có một gánh hàng xôi sáng bán ở chỗ gốc cây hoa giấy. Người đàn bà bán xôi sáng, chiều và tối lại bán chè. Chị có một đứa con trai nhỏ, trước đây hay loanh quanh chỗ mẹ bán hàng, giờ nó lớn tướng, vẫn phụ giúp mẹ dọn hàng, che bạt…

Tôi đã thấy chị gần chục năm nay. Ở cái phố làng này rất kỳ lạ, có người quanh năm một gánh hàng nước như thế, mà nuôi chồng nuôi con đàng hoàng. Chả mấy khi thấy ông chồng đâu…

Bỗng hôm ấy… Một người đàn ông đứng tuổi, dáng từ xa đến, hỏi mấy bà hàng rau: “Các bà ơi, cho tôi hỏi nhà ông Minh…”

Một bà sốt sắng chỉ chị hàng xôi: “Nhà Thạch này, có người hỏi ông Minh…”

Bàn tay thoăn thoắt đơm xôi trong chõ bỗng ngừng lại. Người đàn bà bán xôi nhìn lên, bắt gặp ánh mắt người đàn ông khách lạ. Trong tích tắc, người bán xôi lại cúi xuống đơm xôi. Gương mặt người bán xôi bỗng ửng đỏ, rồi hơi tái lại. Song, việc gói xôi, đưa xôi cho khách vẫn tiếp tục. Chị nhận những đồng tiền lẻ đút vào cái túi đeo trước bụng.

Người khách có ý phân vân. Bà hàng rau ngồi cạnh cứ nhìn như thiêu sống lấy anh ta. Anh ta niềm nở nói: “Tôi là con trai ông Minh ạ”

Người bán xôi mà bà bán rau gọi là “nhà Thạch” ngẩng lên, giọng bình thản: “Anh Định đấy à…”

Đinh Khắc Bình Gửi lúc : (08/02/2014 | 09:42:00)
Nói thêm với Trần Hải Yến:Tôi lại cho rằng nhân vật ông Minh mới là thật.Thứ nhất ông không phải là “đại gia” thích chơi ngông hoặc thấy dư luận dậy sóng thì giúp như đôi khi gặp(Chuyện Bé Hào Nam có tiền tỷ khi đủ 18 tuổi-do đại gia Lê Ân hảo tâm ).Thứ hai ở lứa tuổi ông “mọi hay dở ở đời” đều đã trải qua?Thế nào là nhân văn,thế nào là giáo điều không thể không tường?Thứ ba ngay việc ông thoát chết trong gang tấc,của chạy lũ cũng rất thật.Ở những vùng lũ thường những cụ già cao niên ,mới biết được hiện tượng có lũ bất ngờ.Ông Minh không phải đại gia,nhưng cưu mang một cô gái về sống ở nhà trọ ,người quen thành phố sinh nở, bán xôi thì luôn làm được…đưa anh con trai về thành phố chỉ là giáo viên thường thì cũng không bao giờ làm nổi?Một chi tiết rất hay là :cô giáo Thạch lúc là thanh nữ lên miền núi dạy học-Thì mọi khó khăn là lớn nhất của đời người?Nên chẳng còn gì khó hơn,để sống ,nuôi con…
hoak20bkhn Gửi lúc : (05/02/2014 | 07:37:00)
40-50 năm,của thế kỉ trước,một thôn nữ nói mấy ông UB thế này:”Của tôi tôi giữ,chứ có phải cái diêu cày của UB đâu mà ai dùng cũng được”?Hồi đó cười và cho là tiếu lâm,song nếu thực thì cô thôn nữ này cũng ra bã…Ô hay,một tổ chức,một doàn thể cho dù ở nơi thâm sơn cùng cốc,thiết tưởng phải là thời sự nhất,nâng đỡ mỗi cá thể của tổ chức trụ vững,lâu dài chứ nhỉ?Ngay Xóm không chồng,quyền người phụ nữ có con ngoài giá thú…cũng là xuất phát điểm ở những nông ,lâm trường xa xôi?Cả việc mẹ Định phải về nơi đó sinh nở cũng là thế?Ừ,giá mà tất cả vẫn tốt,vẫn động viên nữ giáo viên bám trụ này…Nhưng chính tự thân cảm thấy mình lạc lõng trong môi trường sư phạm,với trẻ thơ phải tự nghỉ việc sẽ hay hơn ,thuyết phục hơn?Gần đây một cô giáo Bắc giang bị tung ảnh sex lên mạng?Cô tự phải tạm nghỉ dạy ,nhưng quay lại dạy liệu có còn được như trước?Kết thúc truyện là Định (con Ô Minh)về tìm cô giáo xưa…Hay ,ở chỗ dù anh có là gì,hiệu trưởng hoặc hơn thế ,thì tầm nhìn ,hiểu 40biết kiếm sông…hoàn toàn thua một bà bán xôi ở thành phố?Một thế giới mà đòi quyền Hôn nhân đồng giới,quyền đẻ thuê…thì cái chi bộ nọ ,nhà trường ,UB kia đích thực là người rừng?(Comment lúc say tửu đầu năm)
Trần Hải Yến Gửi lúc : (04/02/2014 | 09:57:00)
Mấy mươi năm trước, người phụ nữ không chồng mà có con thì phải dời phố lên rừng. Ngày nay, cô giáo Thạch không chồng có con lại dời rừng xuống phố? Cuộc đời cứ quanh quẩn thế với những người phụ nữ ...
Nhưng còn có người đàn ông biết "nghĩ" đến mức như ông Minh không? Em rất muốn tin, thưa nhà văn! Chỉ e rằng ...
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : 3lgv5z
Bài viết khác