Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Nguyễn Việt Long

Bình Luận của Nguyễn Việt Long

Chi tiết "lãnh tụ cực tả của QDĐ Lão Trung Kha" viết sai tên. Chả có ai là Lão Trung Kha cả, đó là Liêu Trọng Khải.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Tôi không rành về Lào cho lắm, nên không hiểu chế độ hiện nay như thế nào? Nhiều khi thấy thế giới phân loại các quốc gia cộng sản gồm 5 nước thì có Lào. Nhưng đọc một văn bản của Cộng đồng Châu Âu xếp loại 4 nước cộng sản trên thế giới thì không có Lào. Nghe nói, họ còn bảo VN sang mà đưa tượng ông cụ về đi.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
nguyen thi cam tu

Bình Luận của nguyen thi cam tu

cac ban oi cho minh y kien nhe. vay tom lai ho quy ly duoc xem la anh hung hay gian hung
Truyện Ngắn
Phá cách

1
Bất ngờ nhận được cuộc gọi từ xa xăm: Năm nay hội đơn vị cũ, cậu phải về nhé, có cả Chu Châu Mỹ, hay gọi là Mỹ “phá cách”, chắc cậu gặp nó lâu rồi. Chu Châu Mỹ, con người có cái tên đặc biệt ấy, nhắc đến một lần là nhớ ngay, huống hồ Mỹ còn là ân nhân. Tôi quen Mỹ rồi chơi thân, bắt đầu từ một chuyện tình cờ.
Năm một chín tám ba, tôi là trung úy ở Bộ Tư lệnh Hải Quân, đến đoàn Tám để lĩnh nước mắm. Đoàn Tám là đơn vị làm kinh tế, đánh cá, làm mắm và làm gì đó nữa không biết. Thời bao cấp, cuối năm là các đơn vị tấp nập đến đoàn Tám xin mắm xin cá, vui như đi hội. Năm đó, tôi được Chủ nhiệm Hóa học Quân chủng phân công đi lấy một can mắm mười lăm lit, tiêu chuẩn Tết của cả cơ quan. Tôi đã cẩn thận buộc can mắm vào sau xe đạp, cái xe đạp tự lắp mới tinh. Ấy vậy mà đi mới được chưa một cấy số, cái xe dở chứng xịt lốp, tôi ngã nhào, rồi can mắm đổ xuống, bật tung nắp ra. Tiên sư cái can cũ, các ông ấy đi mượn được cái can rởm. Mắm ồng ộc tuôn ra. Tôi gỡ được cái chân ra khỏi xe đang đổ, thì mắm đã đổ ra hết, xách cái can lên chỉ còn một tý. Khỏi phải nói tôi hoảng hồn như thế nào. Việc đầu tiên là dựng xe lên, rồi đo tình cảnh tai ương của mình. Cái xe có thể hỏng, nhưng không có mắm là hỏng cả Tết của đơn vị. Một năm được mấy lạng thịt, mấy lạng đường, chắt bóp để Tết mới mua mang về cho vợ con, thêm chai mắm hạng nhất ở Hải Phòng, mà nay mắm tiêu tan, còn ra gì nữa. Ngang với mất sổ gạo. Tôi bèn nhảy lên xe, đi bằng vành xe đạp trở lại đoàn Tám với cái can rỗng.
Đầu tiên là gặp thủ kho trình bày. Dĩ nhiên là không thể được. Thủ kho bảo gặp thủ trưởng. Thủ trưởng nhỏ bảo gặp thủ trưởng to. Cuối cùng chỉ có một ông cấp thiếu tá nói một câu hy vọng: Có thể ưu tiên cho cậu mua thêm ngoài tiêu chuẩn với giá cao để bù vào, nhưng phải hỏi bộ phận kho cân đối đã và một hai tuần nữa.
Tôi xách cái can, tay dắt cái xe mếu dở đứng ở đầu cổng của Đoàn, đến bữa ăn trưa mà không thấy đói, cảm tưởng như trời sắp sụp. Lúc đó run rủi sao lại gặp một thiếu úy trẻ trạc tuổi tôi, đó chính là Mỹ. Mỹ cười kha kha như giễu, rồi bảo: “Tôi nhìn thấy anh đi lạy lục khắp nơi mà buồn cười quá. Cách thông thường không ăn thua gì đâu”. Tôi bảo: “Lạy còn ít, bây giờ làm thế nào để có mắm tôi cũng làm”. “Giáng một cấp, lột một sao nhá”- Mỹ nói nghiêm túc. Tôi gật luôn: “Cũng được”. Mỹ bảo: “Vậy thì chờ ở đây, nếu chúng nó bắt được, tôi khai anh là đồng phạm nhé. Phá cách một keo”.
Mỹ rõ ràng là người ở đoàn này, anh ra vào chào hỏi thân tình với mọi người, lát sau lấm lét xách một can mắm ra, loại can mới dùng nội bộ của đoàn. Mỹ bảo: “Giót vào nhanh đi”. Tôi thấy mình như có sức mạnh mới, bèn san mắm ra cái can cũ. Thì Mỹ lại bảo: “Đèo mẹ, giờ ông đi cái xe bằng vành thế này thì về làm sao, để tôi nhờ xe cho”. Lát sau có cái xem commanca lù lù đến, mọi người buộc xe đạp phía sau đít xe, rồi cho tôi đi nhờ, chở tận nơi Bộ Tư lệnh.
Mỹ làm thế nào để có mắm cho tôi? Anh làm cái động tác gọi là ăn… trộm. Mỹ cười hơ hơ: “Ôi dào, cả một bể mắm, rơi vãi một can có sao, tao có ăn trộm cho tao đâu”. Khi đã thân nhau rồi, mày tao chí tớ, Mỹ nói toạc móng lợn: “Tất nhiên là phải có kỷ luật để đánh thắng quân thù, nhưng đây có kẻ thù nào đâu. Phải phá cách một tý, nhá”
Năm tám mươi lăm, tôi ra quân, bèn tìm Mỹ để chào từ giã. Đến đoàn Tám thì thấy bảo Mỹ bị kỷ luật án tước một sao, đang về quê đợi thủ tục phục viên. Tôi hơi giật mình: Liệu có vướng vụ ăn trộm cho tôi không? Tay trợ lý cán bộ ngửa mặt cười: “Tội gì không tội, ăn cái tội hủ hóa. Cậu nhớ nhé, ăn vụng thì chùi mép cho kỹ, chúng tớ biểu quyết kỷ luật nó là vì nó bị lộ, chứ còn… hê hê”
2.
Chu Châu Mỹ năm tám lăm hai mươi sáu tuổi, được phong trung úy, trẻ trung và hoạt bát, nổi tiếng hát hay, thổi sáo giỏi, còn nổi tiếng sát gái. Bộ Tư lệnh Hải quân có mấy cô cần vụ, tất nhiên đã được lựa chọn mới được làm ở chỗ ấy, thế mà Mỹ đến cũng tán đổ… hai cô. Nhưng cuộc đời không ai tính được chữ ngờ, anh lái máy bay có thể chết vì ngã xe đạp, bơi vượt biển có thể chết vì cái vũng nước, cũng như Mỹ chinh chiến tình trường, lại chết vì một cô bán cá rất bình thường. Chuyện lãng xẹt như tai nạn. Và đó chính là số phận.
Mỹ làm ở nơi dính đến cá mắm, nên hay phải đến bến cá ở Đồ Sơn. Anh ta liền phải lòng một cô bán cá. Cô Mẫn năm ấy hai mươi, dáng cao, da hơi ngăm đen, nhưng mặt cực xinh. Mắt to như người Ấn, miệng rộng răng trắng đẹp hiếm có. Khi Mẫn cười, thì lập tức nụ cười ấy nhấn chìm tay trung úy phong lưu mã thượng. Rất nhanh Mỹ tỏ tình, nhưng Mẫn coi chuyện đó là đùa.
“Đừng đùa, anh bộ đội”- Mẫn nói.
“Anh không đùa, em bán cá hay không anh càng không đùa”- Mỹ rất nghiêm túc.
“Anh biết em là ai đâu?”
“Em ở An Lão, đến đây mua cá về bán. Anh ở đoàn Tám, đến đây mua cá về cho bộ đội ăn”
“Anh sĩ quan, em là con bán cá. Chả dại, rồi anh bỏ em…”
“Anh xin về phục viên bán cá với em…”
Cô Mẫn mặt đỏ lựng, nhìn Mỹ rất nghi ngờ, rồi chối khéo: “Điên. Anh và em khác nhau quá. Thôi mai đừng quấy em để em còn làm…”
“Mai anh lại đến, ngày kia lại đến… Anh bị điên, không thấy anh và em khác gì nhau”
“Anh trắng, em đen. Khác đấy”- Mẫn cười, rồi liếc nhìn Mỹ. Mỹ cảm thấy Mẫn đã ở trong tầm tay…
Đại khái chuyện tán tỉnh cứ thế, kéo ngày này qua ngày khác. Đến khi Mỹ phải đi công tác một tuần, trở lại Đồ Sơn gặp lại Mẫn thì anh thấy trong mắt cô lấp lánh một niềm vui sướng. Mẫn nói như dỗi: “Tưởng anh mất hút rồi”. Sau câu nói ấy, Mẫn kiên quyết không chịu tiếp chuyện nữa. Dỗi đến như thế tức là gì? Mỹ cứ kiên trì giải thích và cầu xin, cuối cùng Mẫn bảo: Chiều nay em ra chơi với chị họ ở đảo Dáu.
Chiều hôm ấy, Chu Châu Mỹ gói quần áo vào túi nilon, loại của đặc công nước được phát, anh đã cất kỹ mấy năm rồi. Những năm tháng huấn luyện đặc công ở đảo Cát Hải tưởng đã trôi qua, hôm đó anh lại thi thố lại. Mỹ bơi một mạch từ Đồ Sơn ra Hòn Dấu, người Hải Phòng gọi là Dáu. Với Mỹ, anh đã từng bơi từ thành phố Hải Phòng về đảo Cát Hải, thì đoạn đến Hòn Dấu chỉ là màn khởi động cho đủ nóng người.
Bãi đá ở đảo Dấu ngay dưới chân đèn biển, một bãi đá hoang sơ. Một triệu năm trước đó cho đến lúc Chu Châu Mũ bơi từ Đồ Sơn đến, nó vẫn như vậy. Mẫn đã đến đấy như thể cô đã hẹn hò. Chiều xuống dần, chân trời thẫm dần, thuyền cá đã xuất hiện rồi đi khuất về phía bến bên kia đảo. Bãi đá chỉ còn hai người với nhau và với đá. Chuyện gì sẽ xảy ra thì phải xảy ra. Lúc đầu, Mẫn không đồng ý để Mỹ động vào cơ thể, nhưng Mỹ cứ lấn đến và Mẫn chống cự lấy lệ. Mẫn kêu lên: “Anh cưỡng hiếp em đấy”. Cô kêu lên nhưng tư thế lại sẵn sàng. Mỹ nhìn thấy cô nằm ngửa, chân tay dang rộng trên mặt phẳng của phiến đá khổng lồ, nằm một cách thảnh thơi. Hình như hàng triệu năm cái bàn thiên nhiên hình thành nên chỉ là để cho Mẫn giây phút ấy. Mỹ bằng kinh nghiệm từng trải, bắt đầu chinh phục người con gái đã bay liệng vào đời anh. Rất lâu sau, hai người còn nằm nhìn những ngôi sao nhấp nháy hiện dần trên bầu trời sâu thăm thẳm… Chu Châu Mỹ đã trải qua nhiều cuộc tình ngắn dài, nhưng cái giây phút sống với Mẫn trên bãi đá ấy khiến anh như lạc vào thế giới khác, một niềm hạnh phúc vô bời vây bủa anh. Hai người nhìn vào mắt nhau và cùng nhìn thấy sự sung sướng đê mê.
Chuyện sẽ rất bình thường, mà không có sự phá cách nào, nếu như Vĩnh, bà chị của Mẫn, không xuất hiện. Bà chị này hóa ra là một cán bộ xã ở Kiến Thụy, hôm đó đến đảo Dấu để cúng cầu an. Đảo Dấu có lệ cúng cầu an đã tồn tại lâu lâu lắm rồi, và cái lễ hội ấy được truyền tụng là rất thiêng liêng. Một cán bộ xã, đảng viên cốt cán như Vĩnh một thời không dám cúng bái, nhưng đó là năm tám lăm, Vĩnh cũng không thể bỏ qua tục lệ ấy, nhất là lại cúng cầu an và cầu duyên số, bởi vì Vĩnh đã ngoài băm nhưng chưa có tấm chồng.
Khỏi phải nói Vĩnh đã tru tréo lên như thế nào. Mỹ nghe thấy bà ấy kêu hét át cả sóng biển. Trời đất ơi, anh dụ dỗ con bé, anh hại đời nó. Mỹ chỉ biết nói: “Em yêu Mẫn, em lấy Mẫn chị ạ”. Vĩnh quát em họ: “Mày hư đốn thế hả?”.
Rất lâu sau ngày sự kiện này xảy ra, mười lăm năm sau, đó là năm hai nghìn, gặp lại Mỹ ở Cát Hải, tôi mới biết hết chân tướng sự việc dẫn đến vụ kỷ luật của Mỹ.
3.
Năm hai nghìn, tôi đã tìm thấy Chu Châu Mỹ ở đảo Cát Hải, trên bãi muối Hoàng Châu. Năm đó tôi đang làm báo, đi có việc ở Cát Hải, nhân tiện hỏi thăm Chu Châu Mỹ, vì nghe tin anh đã lấy vợ, ở Hoàng Châu, đảo Cát Hải.
Tôi được đứa bé lên mười dẫn đi tìm bố nó ở ruộng muối. Hồi năm bảy mươi tôi đã ở Cát Hải, nhìn thấy đồng muối Quảng Châu rộng lắm, nào ngờ năm hai nghìn nó lại bị chia thành nhiều ô nhỏ tý, bờ vùng bờ thửa như ruộng lúa thì nhiều vô kể. Chu Châu Mỹ có một ruộng muối nho nhỏ. Hôm đó nắng gay gắt, thứ thời tiết quý giá của người làm muối. Tôi bảo đứa bé: “Bố cháu kia rồi, thôi cháu về đi”.
Tôi đã chụp ảnh đồng muối, hỏi chuyện diêm dân và ngắm nhìn Chu Châu Mỹ hàng giờ trước khi anh nhận ra tôi. Anh đã lột xác hoàn toàn thành một người đàn ông làm muối. Da anh đã đen như người miền biển. Đầu anh vướng cả mầu của muối rồi. Chỉ còn hàm răng trắng và ánh mắt tinh nghịch là vẫn của tay trung úy hải quân năm đó.
Cá tươi lấy tử biển, muối mặn nhặt từ ruộng, chúng tôi đốt lửa nướng cá uống rượu ngay bên biển. Chuyện gì rồi cũng quay trở về thời năm đó.
Sau khi bà Vĩnh lôi cô em Mẫn về, anh chàng Mỹ cũng chưa hoàn hồn, ôm quần áo nhảy xuống biển, bơi lại phía Đồ Sơn. Mỹ nói: “Sai lầm nhất của tớ là chạy về ngay, giá đêm đó ở lại thì đâu đến nỗi”. Đêm đó, Vĩnh giận dữ đe nẹt Mẫn, đe sẽ nói với bố mẹ. Một cô gái hai mươi tuổi thì hay sợ bóng sợ gió. Những năm tám mươi của thế kỷ hai mươi thì không có môn học giáo dục giới tính trong nhà trường, nên Mẫn hoảng sợ khi Vĩnh dọa mày sẽ bị bệnh xã hội, bị bệnh phụ khoa. Mẫn phải kể tỉ mỉ cô và Mỹ làm những gì. Vĩnh kêu lên: Ối giời ơi sao lại làm như thời nguyên thủy như thế. Mẫn khóc cả đêm, lòng tan nát.
Đêm đó, bà Vĩnh xỉ vả thằng trung úy hải quân chán chê khiến Mẫn khóc hết nước mắt, bà Vĩnh đã nguôi nguôi, thì Mẫn lại như ngố, hỏi: “Chị ơi có sao không?” Vĩnh quát: “Sao trăng gì, đồ hư thân mất nết?”. Mẫn lại hỏi: “Chị ơi, lấy chồng cũng thế à?” Vĩnh: “Lấy chồng cưới xin tử tế, đâu như loại phá phách chúng mày”. Mẫn nói: “Nhưng mà em… thích lắm” Vĩnh bỗng nổi cơn phẫn nộ, mắng sa sả: “Đồ đổ đốn, mai tao mách thày mẹ mày để kệ mày…”. Mẫn lại phải van xin.
Ngày hôm sau, Vĩnh lôi Mẫn đi bệnh viện khám bệnh. Lại gặp một bà bác sĩ. Bà bác sĩ này nhất trí với Vĩnh, phải là cưỡng hiếp bạo dâm mới đúng tình hình thực tế. Vậy thì phải lập một cái biên bản. Mẫn hỏi: “Để làm gì?” Vĩnh trả lời: “Cứ ký đi, mới có thuốc chữa cho cô, và nghiêm trị thằng kia”. Mẫn bắt đầu rất lo lắng, đi tìm nữ bác sĩ hỏi, bác sĩ quắc mắt nhìn cô: “Thuốc thang gì, có cái rách thì thôi, cô cần thì sao không giữ?”
Vĩnh đã gửi đơn tố cáo và gửi biên bản khám bệnh của Mẫn đến đơn vị của Chu Châu Mỹ. Đơn vị phải cho thủ phạm lên thớt, chặt một nhát rụng luôn một sao. Mỹ xin phục viên.
Tôi và Mỹ đã uống say không về được, bò lê la ở bờ biển Hoàng Châu. Tôi nghi ngờ, bảo anh: “Sao cậu biết chi tiết thế mà kể cho tôi? Có bịa bao nhiêu phần trăm”. Mỹ cười khùng khục: “Vợ tớ là ai cậu c hưa biết. Cô ấy đấy”. Tôi không bị bất ngờ. Với bản tính của Mỹ, chắc là anh sẽ về quê Mẫn để mang cô đi. Họ yêu nhau. Nhưng cả Vĩnh và đơn vị đều chỉ xét nét họ theo tình trạng luật lệ thông thường.
Tôi bảo Mỹ: “Về đi, hoặc anh gọi chị ấy ra đây”.
Mỹ lại cười hê hê: “Hôm qua dỗi tôi bỏ về Hải Phòng rồi, chắc mai mới ra, vì cô ấy không bao giờ dỗi nổi ba ngày. Ở nhà chỉ có thằng Cò với bá nó… Ha ha, với bá Vĩnh”
Ái chà chà… Lúc đó, rượu vào, bất giác tôi bật cười như điên. Mỹ này, cậu bịa ra câu chuyện hay nhỉ, cổ tích xứ biển hay đấy nhỉ. Mỹ đứng dậy, cắp chai rượu vào nách rồi kéo tôi về nhà. Tôi bị một ngạc nhiên đánh thẳng vào tâm trí. Khác với hình dung của tôi, bà Vĩnh là một người đàn bà xinh đẹp. Quá xinh so với những người làm nghề biển. Nhìn từ xa thấy một bà da trắng ngần, dáng mệnh phụ như thể đã có gia đình hạnh phúc,. Nhưng nhìn gần thì thấy nét ưu buồn trên quầng mắt đã nặng nề, lúc đó tôi mới biết bà vẫn sống một mình.
Bà Vĩnh bảo tôi và Mỹ: “Hai chú gặp nhau vui nhỉ. Tôi vẫn bảo chú Mỹ, chú mà đi xa tít, bạn bè họ hàng mấy lúc mà gặp được”
“Anh đi đâu xa?”- Tôi hỏi Mỹ.
“Ừ thì cũng tính đi xa làm ăn một chuyến. Đời tớ tử vi phải phá cách mới nên người”.
4.
Tôi nhất định phải đi hội đơn vị cũ, để gặp mọi người và gặp Chu Châu Mỹ. Mấy năm sau năm hai nghìn, tôi có việc ra Cát Hải, đến nhà chỉ thấy bà Vĩnh bán cá. Hỏi Mỹ thì bà cảnh giác nói: “Vợ chồng chú dì ấy đi rồi”.
Tôi cứ nhớ Mỹ năm ấy tiễn tôi ra bến Gót về Hải Phòng. Mỹ nhìn về phía bờ xa, nói: “Đến lúc Hải Phòng và Cái Hải nối với nhau bằng cái cầu, thì vợ tớ cho dỗi thoải mái nhé. Nhưng mà cậu ơi, cậu nhà báo biết nhiều, hãy nói cho tớ biết bao giờ thì bọn diêm dân chúng tớ mở mày mở mặt ra được”. Tôi bảo tôi chỉ là người bình thường, sao có thể đoán hậu vận được, thì Mỹ lại nói thế mà tớ biết tớ cứ sống mòn mỏi, bình bình thì không ra cái gì, phải phá cách mới nên người. Tôi hỏi: Anh đã phá mấy keo, nay còn gì mà phá cách nữa anh ơi, có vợ con rồi thì chí thú thôi chứ.
Tôi mang câu hỏi về Chu Châu Mỹ, cho đến hôm nay.
Chả cần gặp Mỹ, mới đến hội lớp đơn vị cũ, có vài đồng đội, thì trích ngang Mỹ đã được kể ra vanh vách. Chu Châu Mỹ “phá cách”, đúng là Đi Châu Mỹ chúng mày ạ. Nó đi Mỹ năm hai nghìn, bây giờ về làm thuê cho tư vấn Nhật xây cầu Đình Vũ. Đi học à? Bọn cựu binh cười khà khà: Học cái con khỉ gì bên đó không biết, nhưng đi năm đó là vượt biên, à không, hắn có cái thuyền đặt vợ con lên đó là đi thôi.
Bấm đốt ngón tay, đốt đời người: Lại một hội mười lăm năm đã qua rồi.

Chưa có bình luận nào !
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : qvbh94
Bài viết khác