Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Nguyễn Việt Long

Bình Luận của Nguyễn Việt Long

Chi tiết "lãnh tụ cực tả của QDĐ Lão Trung Kha" viết sai tên. Chả có ai là Lão Trung Kha cả, đó là Liêu Trọng Khải.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Tôi không rành về Lào cho lắm, nên không hiểu chế độ hiện nay như thế nào? Nhiều khi thấy thế giới phân loại các quốc gia cộng sản gồm 5 nước thì có Lào. Nhưng đọc một văn bản của Cộng đồng Châu Âu xếp loại 4 nước cộng sản trên thế giới thì không có Lào. Nghe nói, họ còn bảo VN sang mà đưa tượng ông cụ về đi.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
nguyen thi cam tu

Bình Luận của nguyen thi cam tu

cac ban oi cho minh y kien nhe. vay tom lai ho quy ly duoc xem la anh hung hay gian hung
Bút Ký
Viên Chăn -thời gian hai chiều

Nước Lào vào mùa mưa… Nước trên trời rơi xuống được coi như điềm lành đối với người Lào. Sau nhiều tháng mùa khô, cây cỏ bắt đầu tái sinh, vạn vật tươi mới. Tết trồng cây của Lào bắt đầu vào ngày đầu tháng sáu. Dịp này, người Lào cũng có tục kiêng đánh cá, vì vào mùa cá đẻ trứng.

Tôi đến Viên Chăn không phải bằng đường hàng không, mà là đi đường bộ. Băng qua những con đường Lào vắng vẻ từ cửa khẩu Cầu Treo, qua tỉnh Bô-ly- khăm-xay của Lào. Đi đường bộ có cái thú của kẻ lữ hành. Lang thang qua những vùng đất Lào còn mênh mông hoang sơ, rừng rậm nhiệt đới còn vết tích từng mảng lớn, xen kẽ những khoảng ruộng mới khai khẩn. Ngay trên đồng ruộng bắt đầu cày bừa ngập nước, lác đác những cây to tán lá rậm rì còn lại như hồi nói vẫn sống với rừng già. Thật là một miền đất từ thời cổ tích.

Với diện tích 236.800 kilomet vuông, bằng 2/3 nước Việt Nam, nhưng dân số chỉ hơn 6 triệu người, bằng thành phố Hà Nội sau khi sáp nhập Hà Tây, nước Lào mật độ dân cư thuộc loại thấp trên thế giới. Nông thôn Lào khiến cho tôi nhớ kỷ niệm về nông thôn Việt Nam những năm sáu mươi, bảy mươi của thế kỷ trước. Nhà đơn sơ, vườn rộng, ngăn bằng vách liếp mỏng manh hoặc trồng những hàng hoa mẫu đơn núi. Nhà nọ bước sang nhà kia chỉ phải nhấc chân cao nhảy qua hàng rào mẫu đơn ấy. Không khóa cửa, không có kẻ gian. Đó là một thời nông thôn Việt Nam đã qua rồi.

Thời tiết hai mùa mưa và khô trong năm và không bao giờ có bão, lại sinh sống trên một vùng đất mênh mông, giàu có, khiến cho nếp sống của người Lào có phần dễ dãi với nhà sàn gỗ đơn sơ. Nông thôn Lào nghèo theo tiêu chuẩn nhìn nhận của một người từ Hà Nội đến, nhưng con người Lào không có nỗi lo cơm áo như với người dân nông thôn Việt Nam hay Trung Quốc. Họ bình thản và dường như khó thuyết phục người trung niên thay đổi thói quen về nhu cầu sinh sống. Một bạn Lào kể câu chuyện như sau: Lãnh đạo trung ương xuống thăm xã, hỏi một người dân, sau khi có điện có vui không? Người chủ nhà nói: "Có điện vui rồi, vì sáng trưng, nhìn cái gì cũng rõ, nhưng có điện không biết làm gì, chỉ để đêm đêm nhìn rõ vợ mình thôi". Ở nông thôn, hầu như không có thiết bị điện gì khác, ngoài thắp sáng.

Viên Chăn ngày nay dung hòa trong nó nhiều mặt đối lập. Một thành phố êm đềm, quá êm đềm. Viên Chăn không có nỗi lo ô nhiễm, hay phải lo nhân mãn. Giống như Hà Nội cách đây ba bốn chục năm, thành phố bé nhỏ, đi vài phút ô tô đã trồi ra ngoại thành rồi. Không có nhà cao quá 6-7 tầng, cây xanh và không gian thoáng đãng. Những ngôi nhà thấp thoáng trong khu vườn bao quanh xanh um là hình ảnh quen thuộc của thành phố thủ đô này. Đến 9 giờ tối, cả thành phố hầu như đã buồn ngủ rồi, để lại hè đường vắng vẻ. Trong khi đó, đi xe bus sang bên kia sông Mê Công đã là đất Nọong Khai của Thái Lan, nơi thị trường đầy đủ đã phát triển nhiều năm rồi. Hàng Thái bắt đầu đổ vào Lào từ bên kia sông Mê Công, hàng Trung Quốc thì chảy vào Lào theo dòng nước sông từ phía thượng nguồn…

Tại Lào, hầu như mọi thứ đều đắt đỏ hơn Việt Nam, trừ ô tô. Ăn ở đắt hơn 2 lần, xăng đắt hơn, tính ra tiền Việt khoảng gần 30.000 đồng/lit. Chỉ có ô tô là rẻ, giá ô tô nhập chính hãng chỉ bằng khoảng 1/3 so với Việt Nam. Công chức Lào có cấp bậc nào đó chưa cần là thứ, bộ trưởng, được cấp ô tô đi làm. Trung tá Sỉ-phay, sĩ quan thuộc Cục Khoa học lịch sử quân đội Lào , người thường đi cùng tôi ở Viên Chăn, nói: "Vấn đề tương lai của Lào chính là từ cái ô tô. Bây giờ tuy chưa khó như ở Hà Nội, nhưng cũng có những lúc không có chỗ đỗ. Năm năm nữa, Viên Chăn chắc ô tô chen nhau rồi". Sỉ phay đi xe máy rất xoàng xĩnh chứ không đi ô tô như nhiều người cùng cấp.

 

2. Ký ức đẹp về tình yêu.

Một lần chúng tôi đến cách Viên Chăn khoảng 60 km, thăm Học viện Lục quân trên địa bàn tỉnh Viên Chăn. Địa thế có phần giống Sơn Tây hồi chống Mỹ. Học viện có mấy ngôi nhà ba tầng, còn thì nhà cấp 4 trên vùng đất mênh mông. Giám đốc Học viện, thiếu tướng Pheng-chon Su-phả-vông chỉ cho chúng tôi cái cây cổ thụ rất to và kể chuyện cơ quan quân đội Pathet Lào đã đóng ở đây hồi chống Mỹ. Ông Pheng-chon đang muốn quy hoạch lại trường Lục quân để tương lại có thể có dáng dấp như trường quân đội ở Việt Nam.

Đến Lào, mới thấy câu "tình hữu nghị đặc biệt Việt -Lào" hiện hữu và biểu hiện sống động trong đời sống như thế nào.

Nhiều thế hệ bộ đội Việt Nam đã chiến đấu ở Lào và hầu hết cán bộ lãnh đạo Lào đều có thời gian học tập tại Việt Nam.

Tôi gặp ở Viên Chăn nhà văn Tô Đức Chiêu, người đã chiến đấu ở Xiêng Khoảng và viết cuốn tiểu thuyết "Đường về Thà Khẹt". Ông Chiêu là một trong khoảng một chục nhà văn Việt Nam đã viết tác phẩm dài hơi về đất nước Lào. Bây giờ, ông vẫn còn nhớ một số câu tiếng Lào, học được trên đường hành quân khi xưa. Bằng con mắt của nhà văn, ông Chiêu nhận xét về tính cách Lào: "Dường như những người Lào khi xưa đánh Mỹ với mình vẫn còn trẻ đến bây giờ, bởi vì thế hệ ngày nay là con cháu những người ngày xưa vẫn hiền hòa, đôn hậu không khác mấy. Thời gian không làm cho người Lào mất đi bản tính chất phác, hồn nhiên của họ. Thật khác so với những vùng đất Việt thời hậu chiến. Người Việt khi xưa sẵn sàng dỡ nhà cho xe qua giờ đã thành thiên cổ, con cháu họ giờ đây tính tiền trước hết, nhìn lữ khách với con mắt dò xét, cảnh giác…"

Có một người Việt Nam ưu tú đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng Lào, đó là Lê Thiệu Huy, con trai nhà chí sĩ Lê Thước. Năm 1945, anh là tham mưu trưởng liên quân Việt- Lào ở Trung Lào. Năm 1946, quân Pháp tấn công xóa bỏ chính phủ liên hợp Lào, anh bảo vệ Hoàng thân Xuphanuvong rút sang đất Thái, qua sông Mê Công ở Thà Khẹt và đã anh dũng hy sinh khi che đạn cho Hoàng thân. Kể từ đó, lịch sử chiến đấu của liên quân Việt-Lào hào hùng cho đến khi cách mạng hai nước thành công.

Thứ trưởng Bộ Văn hóa Bò-xẻng-khăm nói với tôi: "Lịch sử cách mạng Lào anh dũng, lịch sử tình hữu nghị Việt- Lào đặc sắc, có thể tái hiện bằng ngôn ngữ điện ảnh thì rất hấp dẫn, ví dụ như chuyện tiểu đoàn 2 vượt vòng vây, chuyện Trung ương đảng Nhân dân cách mạng Lào chỉ đạo cuộc vượt ngục của Hoàng thân Xuphanuvong, hay như cuộc chiến đấu ở Cánh đồng chum… vân vân, nhưng hiện nay Lào chưa đủ lực để làm. Hãng phim Hội Nhà văn Việt Nam, đơn vị đã làm những phim về lãng tụ và lịch sử cách mạng Việt Nam bắt tay vào hợp tác với Lào để dựng những phim về đề tài này, chúng tôi hy vọng là sẽ thành công".

Khi đến thăm ông Xiêng Xổm, người anh hùng trong cuộc vượt ngục của Hoàng thân Xuphanuvong năm 1960, nay đã là một ông già tám mươi tuổi, chúng tôi thấy ông có một bảo tàng tư nhân, rất nhiều hiện vật và hình ảnh cách mạng Lào. Những bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh với các vị lãnh đạo Lào Cayson Phôm-vi-hản được treo trang trọng nhất. Nếu như nhiều cựu chiến binh Việt Nam đã hy sinh xương máu ở Lào, có tình cảm với Lào thì hầu hết các bạn Lào hiện đang là cán bộ lãnh đạo đều có kỷ niệm về Việt Nam. Nhà văn nữ Phiulavanh, Chủ tịch Hội Nhà văn Lào kể rằng, khi Hà Nội chiến đấu với B52 cuối tháng 12/1972, chị đang làm việc ở Hà Nội, chỉ cách Khâm Thiên mấy đoạn phố, cũng tránh máy bay, cũng cứu thương, rồi đi sơ tán… Còn Trung tướng Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Chanh-sa-mỏn kể một câu chuyện rất cảm động, khi ông và các đồng chí khác về vùng Sơn Tây thăm lại những nhà dân mà ông trọ những năm học ở Việt Nam thời chiến tranh khi xưa, ông ngạc nhiên khi những người dân vẫn gọi tên ông và đồng đội, những cái tên Lào rất khó nhớ. Khi ôn lại những ngày chống Mỹ sơ tán, mọi người rơi nước mắt. Ông Chanh-sa-mỏn ví von, mối tình Việt Lào đẹp như hai người đã yêu nhau thời tuổi trẻ, giờ dù có trải qua thời gian, kỷ niệm tình yêu càng lắng đọng.

 

3. Câu hỏi ngày hôm nay.

Khi chúng tôi đến Viên  Chăn, tình cờ gặp một vài nhân viên của dự án khai thác vàng- đồng của Trung Quốc và Oxtralia đóng tại Atopo. Câu chuyện của thời làm ăn thế giới phẳng rất sôi nổi, bỗng nhiên ông bạn cao niên đi với tôi buồn xỉu xuống. Ông nói: "Buồn. Buồn lắm. Chúng tớ hy sinh xương máu cùng với những chiến sĩ Lào giữ đất, giờ thì người Úc, người Tàu nhảy vào hưởng lợi từ nguồn khoáng sản ở dưới mảnh đất ấy".

Những người Úc, người Tàu ngồi đấy đều không biết tiếng Việt, nhưng nếu có biết, họ cũng chẳng hề gì mà động lòng. Cuộc làm ăn kinh tế ngày nay, ai chậm chân thì thiệt. Khi dứt cơn mưa, những anh chàng Úc và Tàu đi rồi, mấy người bạn Lào đến. Họ cùng nói: Nếu những người đi qua chiến tranh không kịp làm gì, thì rồi khó làm lại được để người Việt và người Lào tôn thêm tình sâu nghĩa nặng.

Tại Viên Chăn, Việt kiểu là một nguồn lực lớn. Chợ sáng ở đường Lạn Xang, những cửa hàng vàng phần lớn là Việt kiểu. Có thể thấy nhiều quán ăn Việt Nam, khách sạn Việt Nam ở Viên Chăn. Có nhiều người đến Lào sau năm 1975 từ nghèo khó mà lập nên sự nghiệp, trong đó có nhà tư sản Đào Hương, giờ là tỷ phú nổi tiếng. Ông Nam Mộc, Giám đốc Công ty phát triển Mỹ thuật và Công nghiệp nói với tôi: "Nước Lào hiền hòa, theo đạo Phật, nếu ai từ Việt Nam đến, cứ làm ăn chăm chỉ, chân thành thì rồi đều khá cả"

Ông Nam Mộc cũng chính là một người như thế. Bây giờ, ông được nhiều cán bộ ở Viên Chăn biết đến. Đến Lào cách đây hơn 10 năm, ông đã chọn con đường hợp tác làm ăn từ các sản phẩm văn hóa. Cho đến nay, nhiều công trình văn hóa của Công ty ông đã hiện diện ở Lào như các bức tượng đài Xuphanuvong ở Thà Khẹt, Xuphanuvong ở Trường Đại học mang tên ông, nhiều tượng Cayson Phoomvihan và nội thất bảo tàng Cayson… Các bức tượng của ông đều bằng đá trắng làm đẹp cho các công trình lịch sử văn hóa Lào. Đây có thể là loại hàng hóa xuất khẩu đặc biệt, bởi vì đều được làm từ xưởng đá mỹ nghệ của ông ở Niinh Bình.

Nói đến đầu tư vào Lào, nhiều người biết đến Hoàng Anh -Gia Lai của Đoàn Nguyên Đức và gần đây là Sân golf Long Thành của Lê Văn Kiểm, hoặc Thủy điện Nậm Ngừm… nhưng hình như những dự án ấy vẫn là nhỏ lẻ, không xứng đáng với mối tình vĩ đại Việt -Lào được viết nên bằng máu của mấy thế hệ. Liệu có một kế hoạch lớn hơn, có bước đi cụ thể hơn không?

Mới đây, trên mạng BBC đã đăng một phóng sự của phóng viên BBC về một thị trấn biên giới Bắc Lào. Từ một làng quê nghèo, bây giờ là một thành phố Trung Quốc rồi, với nào là sòng bạc, gái điếm, hàng bánh bao và rối mắt là chữ Hán. Người Trung Quốc còn thuê đất 60 năm để trồng cao su ở các tỉnh Bắc Lào, mà người ta dự tính, với một khối lượng công việc như vậy, đủ cho 1 triệu người làm việc. Liệu Trung Quốc có tràn ngập lãnh thổ Lào hay không? Đây đâu phải nỗi lo của người Lào thôi đâu. Miền Bắc Lào, nơi cái nôi của cách mạng Lào, hàng xóm láng giềng của Tây Bắc Việt Nam, máu xương Lào Việt đã đổ xuống, giờ đây lẽ nào lại trở thành tiền phương của người khác?

Khi quyết định chi viện cho nhau, có lẽ lãnh đạo cấp cao hai nước anh em đơn giản hạ lệnh là đưa quân sang, hoặc bước chân qua biên giới, sát cánh cùng nhau. Giờ đây, đầu tư vào Lào không đơn giản như vậy. Đó là kết quả của chính sách lớn, bền bỉ, lâu dài. Nếu Việt Nam không bước tới, thì Thái Lan, Trung Quốc và các nước khác sẽ đến. Khi đó chắc rằng chúng tôi chỉ là những lữ khách tìm di tích của tình hữu nghị, mà tiếc nuối nhìn kẻ khác cắt miếng bánh từ Lào mang về nước họ… Nếu vậy, chúng ta và bạn Lào giống như người tình ôm hận với kỷ niệm tình yêu đã xa rồi, ngồi nhìn thực tế phũ phàng đang diễn ra trước mắt.

Đất nước Lào hàng xóm, con người Lào bè bạn, anh em còn hơn cả anh em, sao người Việt không thể làm hơn nữa ở Lào?

Hôm sắp rời Viên Chăn, Trung tá Sỉ-phay, ông Nam Mộc, Nhà văn Tô Đức Chiêu và tôi đi qua Thạt Luổng, mọt công trình lịch sử văn hóa hiện trên quốc huy Lào. Nhà quốc hội Lào ngay cạnh đấy được xây mới mang dáng dấp kiến trúc đặc trưng Lào, có công đóng góp của doanh nghiệp Việt  Nam, ấy vậy mà có người nhắc đến chuyện Trung Quốc có dự án đánh đổi đầu tư để có một vạn người Trung Quốc đến đây sinh cơ lập nghiệp. Khi ấy liệu có còn Thạt Luổng hay không?

Ông Nam Mộc nhìn trời mưa Viên Chăn, nói: "Mùa mưa Lào, liệu có mưa về Hà Nội được hay không?"

Nam Gửi lúc : (19/10/2013 | 02:48:00)
Cháu dự định mở 1 cửa hàng bán đặc sản Việt tại Lào có khả thi ko ạ,chi phí thuê mặt bằng ở viêng khoảng bao nhiêu 1 tháng ạ
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : 3shd41
Bài viết khác