Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
nguyen thi cam tu

Bình Luận của nguyen thi cam tu

cac ban oi cho minh y kien nhe. vay tom lai ho quy ly duoc xem la anh hung hay gian hung
ngo panbin

Bình Luận của ngo panbin

Khong nen binh luan danh gia cac nhan vat LSU mot cach thieu cong bang. Troi sinh ra kg ai hoan hao. trong cuoc song ban muon lam viec that hoan hao, nhung co bao gio dc kg ??? vi vay lanh dao mot dat nuoc khi hanh dong trong cong viec, cung nhu trong cuoc song doi thuong,co gi do kg hoan toan tot dep,co gi do khiem khuyet, ta cung nen luong thu ma bo qua cho ho, mien sao cai sai kg qua tram trong,cai lam duoc cho dantoc datnuoc de den hom nay chung ta va lich su thay dung dan co ich la qua tot va can ton vinh cong lao do, Cac ban co khi nao lam lanhdao va dung truoc ap luc that su lon chua ??? khi do kho tam lam ban oi !!!
Vay nen toi khuyen cac ban can co tam long bao dung hon voi nhung ai da lam tot, co loi cho datnuoc va dantoc vietnam, Du ho khac ching kien khac quan diem chinh tri voi ban, nhung chung ta la mot me auco sinh tram trung, va bo coi viet nam neu co mat vao tay ke nuoc ngoai ban chac se that su dau long. Con ben CSan hay QGia thi suy cho cung chua phai qua toi te, truoc het la cham dut chien tranh som di doi voi dong nghia su giet choc nhau giua nguoi vnam voi nhau kg con,dat nuoc ven toan mot moi, dan bot lam than kho cuc,Phia ban va phia toi, tat ca la conrongchautien,
Toi kg quan trong cai ten, CN CSan, CN MACLENIN hay chu nghia nao nao di nua, nhung dem lai dieu tot cho dongbao datnuoc vnam la dc, CN nao cung vay neu kg dclongdan, ban kg can thucday kg can dautranh ma tu no cung sup do va dongbao trong nuoc se lam viec do,
Phan Văn Hoàng

Bình Luận của Phan Văn Hoàng

Xin góp hai ý :
1- Tên tờ báo là NÔNG CỔ MÍN ĐÀM (nghĩa : uống trà nói chuyên làm nông và buôn bán). Không phải MÍM ĐÀM.
MÍNH là trà non. Cụ Huỳnh Thúc Kháng có bút hiệu MÍNH VIÊN (vườn trà non)
Người Nam Bộ phát âm -IN thành -INH, nên viết MÍNH thành MÍN.
2- Người ĐỒNG BANG là người cùng chung một nước.
Do người Nam Bộ phát âm lẫn lộn -AN và -ANG nén viết sai đồng BANG thành đồng BAN.
PVH
viet ha

Bình Luận của viet ha

bac le duan xa chung ta roi xong su can nhac trong moi tinh huong cua bon phuong bac khong qua duoc mat bac de hom naz con chau mang ra ma hoc mot so dung vi ca nhan cung dmua chuoc than bon phuong bac cung dung vi tien lam giau ca nhan con nhuoi tren the gioi naz ai cung thich hoa binh ai cung thich em am hanh phuc khong ai thich kho thich doi thich su tan nat vaz ai cung phai co hoc co nhan thuc daz du co su quan he dung dan be ban nam chau phuong bac danh ta la no khinh thuong khoi chau a khinh thuong ca the gioi con mang ba tinh thanh hoa nghe an ha tinh di lam bia la khong dung ca nuoc dung len dau tien la con em trong bo chinh tri ngaz baz gio lam guong phai ren binh luoc chi va con em can bo cua cac tinh thanh ra mat ngaz baz goi lam cho ca the goi kham phuc ai roi cung chet can thiet cho cac doi cam tu sang phuong bac cac ong ba cu ngoi len dung xuong noi qualoa len xe xuong nghua tien bac xung xinh con dan bam bien bi chung giet nguoi an cuop chung nhon mat roi truong xa hoang xa no lam het cong trinh naz den cong trinh khac
đỗ hồng quân

Bình Luận của đỗ hồng quân

Nói chung HQL đến bay giờ vẫn la bí ẩn.nhung xét cho cùng ông đê lại một sự táo bạo.giam cải cách....
Bờ

Bình Luận của Bờ

phân tích tác phẩm, nội dung chính truyện và cảm nhận của nhân dân đối với Bà Triệu
Bút Ký
Truyền thuyết về cổ sử và thái độ của chúng ta

 

Nhân đọc bài báo dịch lại từ báo chí Trung Quốc nói về quan hệ Việt –Trung, tôi quan tâm đến đoạn nói về “truyền thuyết đẹp và các các hiểu khác nhau”. Đây quả là vấn đề đang tranh cãi, ngay cả bài học về lịch sử của Việt Nam hiện nay vẫn chưa lý giải thấu đáo. Tôi chỉ là một người công dân bình thường yêu sử học, tôi xin có ý kiến như sau:

Theo bộ Đại Việt sử ký toàn thư, người Việt Nam ta tự nhận thuỷ tổ của mình là Kinh Dương vương, từ đó sinh ra Lạc Long Quân và lãnh thổ thời cổ của chúng ta “bắc giáp hồ Động Đình, Tây đến Ba Thục”. Phần cực bắc đó ngày nay nằm sâu trong lãnh thổ Trung Quốc.

Phải chăng điều đó nói lên rằng, chúng ta là từ người Trung Quốc sinh ra? Cách đặt vấn đề như vậy không đúng. Nói “người Trung Quốc” cũng không chính xác. Giờ đây, và từ thời cận đại, câu nói “người Trung Quốc” thường đồng nghĩa với từ “người Hán”.

Mặc dù có các triều đại ngoại tộc (Nguyên, Thanh), nhưng văn hoá Hán đã trở thành “sức mạnh mềm” đồng hoá những dân tộc khác trên lục địa Trung Quốc. Từ thượng cổ đến thời Xuân Thu, các dân tộc trên lục địa Trung Quốc thôn tính lẫn nhau, chinh phạt dẫn đến sáp nhập, chia tách. Trong biến động xã hội đó, các dân tộc Việt, gọi chung là Bách Việt cũng tham dự vào như một tất yếu lịch sử. Hiện nay, còn tồn tại nhiều chi tộc Việt vẫn có dáng dấp văn hoá ở các vùng Nam Trung Quốc, như Quảng Đông, Phúc Kiến… Đó là những chi tộc Việt như Bộc Việt, Mân Việt…một thời tồn tại cùng với Lạc Việt chúng ta. Như vậy, nói dân tộc Việt Nam xuất phát từ lục địa Trung Quốc thời cổ là đúng, và việc đó chỉ nói lên sức sống quật cường của người Lạc Việt, trong đó có việc giữ được văn hoá Việt, tiếng nói Việt, dù cho cương vực đất nước có thay đổi theo thời gian thì vẫn giữ được nước, tự hào là tên dân tộc vẫn gắn với quốc hiệu của nước mình.

Cho đến khi Tần Thuỷ Hoàng thống nhất Trung Quốc, thì văn hoá Hán vẫn chưa hoàn toàn áp đảo. Chỉ đến khi thất bại của nhà Sở, mà Hán mới bành trướng, áp đặt văn hoá Hán, chữ Hán cho các dân tộc khác.

Hệ luỵ của thắng lợi của Hán Cao tổ cũng ảnh hưởng lớn đến số phận của người Việt nói chung và người Lạc Việt nói riêng.

Điều này liên quan đến một vấn đề lịch sử của chúng ta, trong đó có thái độ nhìn nhận về nhà Triệu.

Như Đại Việt sử ký toàn thư viết rất rõ, cũng như các bộ sử Trung Quốc ghi lại. Tần Thuỷ hoàng lên ngôi, nhưng vẫn chưa bình định được các bộ tộc Bách Việt, ở phía Nam núi Ngũ Lĩnh, gọi chung là phần đất Lĩnh Nam. Đó là phần lãnh thổ Nam Trung Hoa, đại lược là từ Quý Châu, Triết Giang, Phúc Kiến trở xuống. Như thế mới biết, lãnh thổ thời Tần của Trung Quốc thực chất là phần Bắc Trung Quốc mà thôi. Khi tướng của Tần chiếm Lĩnh Nam, Tần đặt thành 3 quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng Quận, nằm ở khoảng Quảng Đông, Quảng Tây bây giờ. Nam Hải (Quảng Đông) gồm 4 huyện, trong đó có huyện Phiên Ngung (thành phố Quảng Châu bây giờ). Triệu Đà chỉ là một viên uý, làm huyện lệnh huyện Long Xuyên, thuộc quận Nam Hải. Khi nhà Tần mất, Hán -Sở mải tranh hùng, là lúc Triệu Đà nối cai trị Nam Hải, nổi lên làm chủ Lĩnh Nam, giết quan lại nhà Tần, ly khai với chính quyền Trung ương của nhà Tần.

Khi đó, trong phần đất Bắc Việt Nam bây giờ, tồn tại quốc gia Âu Lạc của người Lạc Việt do An Dương vương làm chủ. Cuộc xung đột giữa Triệu Đà và An Dương vương khiến Triệu Đà chinh phục được Âu Lạc, sáp nhập với phần đất 3 quận của Bách Việt, lập nên nước Nam Việt, lấy Phiên Ngung làm thủ đô.

Như vậy, việc Triệu Đà lập nên nước Nam Việt, là quốc gia độc lập của người Bách Việt ở phần đất phía Nam núi Ngũ Lĩnh, là một giai đoạn lịch sử đáng tự hào của người Việt, đã được lịch sử ghi nhận. Các sử gia phong kiến của nước ta luôn luôn coi Nam Việt là một phần lịch sử đất nước. Nguồn gốc nguời Hán của Triệu Đà không thể là một yếu tố kỳ thị, vì thực chất nhiều chi họ như Nguyên, Trần, Hồ từ phía Nam Trung Hoa di cư xuống Bắc Việt Nam, cũng sản sinh hậu duệ là những ông vua quật cường, có tinh thần độc lập dân tộc rất cao (nhà Lý, nhà Trần, nhà Hồ)

Quan niệm sáp nhập Âu Lạc và Bách Việt không thể được coi là Âu Lạc bị đô hộ. Bởi vì An Dương vương Thục Phán đã nhập Văn Lang với Tây Âu thành Âu Lạc cũng theo cách thức của Triệu Đà, tại sao chúng ta vẫn công nhận An Dương vương là vua của người Việt.

Có điều khác với An Dương vương, sau khi nhập Âu Lạc để thành lập nước Nam Việt, thì kinh đô của nhà Triệu đóng tại Phiên Ngung (thành phố Quảng Châu) chứ không đóng tại phần đất của người Lạc Việt. Việc chọn kinh đô của nhà Triệu là thoả đáng, vì đó là trung tâm địa lý của nước Nam Việt, nước của các dân tộc Việt.

Các sử gia phong kiến của Việt Nam công nhận nhà Triệu là một phần của lịch sử đất nước, như vậy là thoả đáng, vì:

-Nhà Triệu là độc lập tự cường, đối lập với nhà Hán Trung Quốc. Những nỗ lực độc lập đó đã gián tiếp chống lại sự Hán hoá của nhà Hán với các dân tộc Việt.

-Nhà Triệu lập nên Nam Việt, quốc gia của những bộ tộc Việt trong Bách Việt.

-Công nhận nhà Triệu càng tỏ rõ khí phách của người Lạc Việt, từ đó thấy rõ sức sống mãnh liệt của người Lạc Việt. Chỉ có Lạc Việt còn giữ lại bản sắc của người Việt cổ đại, không hề bị đồng hoá. Hiện nay, người Trung Quốc vẫn gọi tiếng Quảng Đông là “Việt ngữ”. Văn hoá Việt sau này hoà lẫn vào văn hoá Hán, và người Hán được thừa hưởng nhiều từ nền văn hoá đa bản sắc của người Bách Việt.

-Do cách quan niệm như vậy, mà thời phong kiến, cho dù có ngoài mặt là phụ thuộc, nhưng thực chất nhà nước phong kiến Việt Nam vẫn tự hào là độc lập và là dân tộc duy nhất trong đại gia đình Bách Việt cổ giữ gìn được bản sắc Việt.

-Do quan niệm lịch sử liên tục như vậy, mà vua Quang Trung đã có ý định yêu sách đòi nhà Thanh trả đất Lưỡng Quảng cho ông. Ông mới là vua kế tục của nhà Triệu, nước độc lập cổ xưa của người Việt.

-Khởi nghĩa Hai Bà Trưng chắc chắn là cuộc kháng cự của người Việt trên phần đất Nam Việt cũ. Theo nghiên cứu của nhiều nhà sử học, người dân các tỉnh Nam Trung Quốc tiếp giáp với Việt Nam cũng đều có thờ Vua Bà. Việc dạy sử ở Việt Nam nói rằng, Hai Bà Trưng khởi nghĩa ở Bắc Việt Nam có lẽ là không chính xác.

Tóm lại: Với cách hiểu lịch sử về thời đại nhà Triệu như vậy, chúng ta hoàn toàn có thể tự hào, đất nước tổ tiên của người Việt rộng lớn, mà nay phần lớn lãnh thổ đó đã bị nhà Hán xâm chiếm, bị Hán hoá. Và, người Việt Nam tự hào rằng, là dân tộc duy nhất trong các tộc Bách Việt giữ lại bản sắc văn hoá của mình.

Việc “phiên dịch” lịch sử như trên chắc chắn không có lợi cho chính sách Đại Hán bành trướng của Trung Quốc, mà chỉ có lợi cho niềm tự hào dân tộc Việt Nam. Chắc chắn Bắc Kinh rất sợ lập luận này. Phải chăng việc loại bỏ nhà Triệu, chỉ có lợi cho quan niệm rằng phần đất lưỡng Quảng đương nhiên thuộc về Trung Quốc, cố xoá nhoà giai đoạn thôn tính Bách Việt của nhà Hán. Các cụ sử gia của Việt Nam thời phong kiến, phải chăng đã công minh hơn những sử gia hiện đại bây giờ? Nguyễn Trãi trong Cáo Bình Ngô đã hào hùng tuyên bố “Từ Triệu, Đinh, Lê, Lý, Trần xây nền độc lập; cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương”

Việc thoái bỏ không chấp nhận Triệu Đà, thực chất là có lợi cho chính sách bành trướng của Trung Quốc, vì chưa bao giờ Triệu Đà và con, cháu nội của ông chịu công nhận lãnh thổ Nam Việt là của nhà Hán. Cũng như các triều đại sau này ở Việt Nam, có lúc triều đình Trung Quốc ngạo mạn chỉ phong cho các vua của ta là quận vương, quốc vương, thì không có nghĩa là đất đại của chúng ta thuộc về Trung Quốc.

Như vậy, người Việt Nam hoàn toàn có quyền và tự hào rằng, thuỷ tổ của chúng ta khởi phát từ Lĩnh Nam, ngày nay nằm trong lãnh thổ Trung Quốc, qua biến chuyển của thời gian dằng dặc mấy nghìn năm, chúng ta vẫn giữ được bản sắc Việt và là dân tộc duy nhất trong đại gia đình Bách Việt không bị Hán hoá. Chúng ta không có tham vọng đòi lại lãnh thổ của tổ tiên, nhưng chúng ta ghi nhớ rằng, Nam Ngũ Lĩnh thời xa xưa trong truyền thuýết và Lưỡng Quảng “gần đây” theo lịch sử thành văn, vốn là một phần lãnh thổ của người Việt chúng ta.

 

 

Chưa có bình luận nào !
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : mjwi1i
Bài viết khác