Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
nguyen thi cam tu

Bình Luận của nguyen thi cam tu

cac ban oi cho minh y kien nhe. vay tom lai ho quy ly duoc xem la anh hung hay gian hung
ngo panbin

Bình Luận của ngo panbin

Khong nen binh luan danh gia cac nhan vat LSU mot cach thieu cong bang. Troi sinh ra kg ai hoan hao. trong cuoc song ban muon lam viec that hoan hao, nhung co bao gio dc kg ??? vi vay lanh dao mot dat nuoc khi hanh dong trong cong viec, cung nhu trong cuoc song doi thuong,co gi do kg hoan toan tot dep,co gi do khiem khuyet, ta cung nen luong thu ma bo qua cho ho, mien sao cai sai kg qua tram trong,cai lam duoc cho dantoc datnuoc de den hom nay chung ta va lich su thay dung dan co ich la qua tot va can ton vinh cong lao do, Cac ban co khi nao lam lanhdao va dung truoc ap luc that su lon chua ??? khi do kho tam lam ban oi !!!
Vay nen toi khuyen cac ban can co tam long bao dung hon voi nhung ai da lam tot, co loi cho datnuoc va dantoc vietnam, Du ho khac ching kien khac quan diem chinh tri voi ban, nhung chung ta la mot me auco sinh tram trung, va bo coi viet nam neu co mat vao tay ke nuoc ngoai ban chac se that su dau long. Con ben CSan hay QGia thi suy cho cung chua phai qua toi te, truoc het la cham dut chien tranh som di doi voi dong nghia su giet choc nhau giua nguoi vnam voi nhau kg con,dat nuoc ven toan mot moi, dan bot lam than kho cuc,Phia ban va phia toi, tat ca la conrongchautien,
Toi kg quan trong cai ten, CN CSan, CN MACLENIN hay chu nghia nao nao di nua, nhung dem lai dieu tot cho dongbao datnuoc vnam la dc, CN nao cung vay neu kg dclongdan, ban kg can thucday kg can dautranh ma tu no cung sup do va dongbao trong nuoc se lam viec do,
Phan Văn Hoàng

Bình Luận của Phan Văn Hoàng

Xin góp hai ý :
1- Tên tờ báo là NÔNG CỔ MÍN ĐÀM (nghĩa : uống trà nói chuyên làm nông và buôn bán). Không phải MÍM ĐÀM.
MÍNH là trà non. Cụ Huỳnh Thúc Kháng có bút hiệu MÍNH VIÊN (vườn trà non)
Người Nam Bộ phát âm -IN thành -INH, nên viết MÍNH thành MÍN.
2- Người ĐỒNG BANG là người cùng chung một nước.
Do người Nam Bộ phát âm lẫn lộn -AN và -ANG nén viết sai đồng BANG thành đồng BAN.
PVH
Bút Ký
Biển thì thầm

 
Hồi những năm tám mươi của thế kỷ trước, Đồ Sơn rất hoang vắng, cho dù việc cấm vào khu 2 đã bãi bỏ, thì người ta đi biến cũng không đông như bây giờ. Một lần, thủ trưởng của tôi, Trung tá Chủ nhiệm Hoá học Nguyễn Trung Tuần nhân có việc ra Đồ Sơn, ông đã bảo tôi cùng ông đi sâu vào Khu Ba. Hồi đó, khu vực này là bãi tắm bé tý, đi hết đường, chỉ có một cái nhà, sau này sửa lại chính là làm sòng bạc. Ông đứng một hồi, nhìn ngắm chán chê, rồi nói: “Đây là nơi xuất phát của những con tàu không số”.

Tôi khi đó mới 22 tuổi, trung uý mới tò te ở Bộ Tư lệnh Hải quân, lần đầu tiên nghe thấy cụm từ “tàu không số’. Ông Trung tá Hải quân khi đó khoảng gần sáu mươi, không liên quan mấy đến hoạt động của đường Hồ Chí Minh trên biển, nhưng ông ấy công tác ở Bộ Tư lệnh Hải quân, nên những câu chuyện bè bạn và ký ức về những chuyến tàu không số còn tươi mới. Ông đã kể cho tôi vắn tắt một vài việc, tôi nghe và cảm thấy đúng như huyền thoại, và trộm nghĩ không biết ông ấy có bịa ra không. Khi đó phương tiện thông tin đại chúng còn kém, không có mấy ai biết một cách hệ thống về những chuyến tàu chở hàng chi viện miền Nam. Gương anh hùng của Phan Vinh đã lên báo chí, nhưng chỉ có khúc giữa, đó là việc tàu hải quân ta đánh nhau với địch ở chiến trường miền Nam mà thôi.

Sau này, khi làm bộ phim tài liệu nhựa “Tiền cụ Hồ”, tôi lại đi cùng đạo diễn đại tá Lê Thi đến quay phim ở bến Nghiêng và cột mốc lưu niệm nơi xuất phát những chuyến tàu không số. Căn nguyên của chuyện đó là vì có một sự thật nho nhỏ: Trong những chuyến tàu không số, không chỉ có vũ khí mà còn có cả tiền Việt Nam cộng hoà, ngoại tệ chi viện cho chiến trường miền Nam. Đạo diễn Lê Thi cũng chính là đạo diễn làm bộ phim tài liệu đầu tiên về đường Hồ Chí Minh trên biển. Ông đã mò vào kho tư liệu, đưa lên phim những thước phim rất quý báu, trong đó có hình ảnh của liệt sĩ Đặng Thuỳ Trâm. Xen giữa lời bình của nhà văn Nguyên Ngọc, là lời phát biểu của sĩ quan hải quân, nhân chứng đã được Đặng Thuỳ Trâm cứu chữa. Sau này, độc giả cả nước biết được rằng, bộ phim ấy chiếu lại đúng ngày giỗ Đặng Thuỳ Trâm, cả nhà cô đã nhận ra cô, từ đó câu chuyện về Đặng Thuỳ Trâm và cuốn nhật ký dần dần hiện ra với công chúng. Ngay cả khi đã chỉ còn ký ức, con đường mòn Hồ Chí Minh trên biển với những chiếc tàu không số tiếp tục viết nên những huyền thoại mới. Tôi cứ nghĩ tỷ mẩn nghĩ rằng, mỗi sự kiện lịch sử dân tộc có thể ví như những mặt trời nhỏ, nó tiếp tục phát xung năng lượng xuyên thời gian, chiếu rọi đến tận sau này, đến thời hiện đại. Sự kiện đường mòn Hồ Chí Minh là một mặt trời như thế.

Hãng phim Hội Nhà văn cũng có một cơ duyên, gần đây đã hỗ trợ Đạo diễn Nhà văn Minh Chuyên làm sê-ri phim 20 tập “Đường Hồ Chí Minh trên biển”. Nếu chỉ ghi chép lại những điều anh Lê Thi và Minh Chuyên nói, thì có thể viết nên những bộ sách. Nhân chứng của một huyền thoại dần dẫn đi vào cõi vĩnh hằng, phải chăng những ghi chép còn lại về một sự kiện cách chúng ta nửa thế kỷ là một việc hết sức quan trọng.

Đạo diễn Lê Thi đã kể cho tôi nghe câu chuyện cảm động khi anh làm phim Đường Hồ Chí Minh trên biển. Một người vợ có chồng đi tàu không số, chỉ gặp chồng bí mật những ngày chồng trở về bến, rồi lại hối hả ra đi. Chị có thai, cái thai cứ dần lớn lên. Điều tiếng xóm giềng chị chịu vì bà con chỉ thấy những người lính cộng hoà qua lại đó. Nếu quân đội Việt Nam cộng hoà có cuộc điều tra nghiêm túc, thì chúng có thể tìm ra nguyên nhân của việc một phụ nữ có chồng tập kết bỗng dưng có chửa. Đôi khi, những chiến lược, chiến thuật được vạch ra hoàn hảo trên bàn các vị tướng, có thể đổ vỡ chỉ vì một nguyên nhân thế thái nhân tình. Bất luận kết quả thế nào, dù có bị lộ hay không bị lộ, thì con người trong cuộc chiến đấu ấy là cá thể chịu hy sinh ghê gớm. Câu chuyện ấy tôi đã viết thành một truyện ngắn. Bỗng nhiên không thể nghĩ ra một cốt truyện có những số phận và kịch tính như thế.

Ngày nay, chúng ta chỉ nhìn thấy kỳ tích, có đong đếm được số người hy sinh, nhưng chắc hẳn không đo được chiều sâu chiến công vĩ đại của những chuyến tàu không số. Họ là những người lính đương đầu trên chiến trường, đằng sau là một lực lượng chỉ huy chiến lược, là những công việc đóng tàu, chuẩn bị bến bãi, là những người vợ hy sinh thầm lặng. Có lẽ nói không ngoa, những đau khổ hy sinh, cũng như chiến công vĩ đại chỉ có thể so sánh cùng biển cả.

Ngày hôm nay, nghe những người lính hải quân đã về hưu của những chuyến tàu không số nói: “Nếu bây giờ hải quân cần, chúng tôi vẫn sẵn sàng”. Nghe điều đó, chắc hẳn mỗi người Việt Nam chúng ta đều cay mắt. Cuộc chiến đấu vì biển đảo ngày nay phải được trao cho thế hệ trẻ hôm nay và phải được coi là nhiệm vụ của toàn dân. Những người đang sống phải có nghĩa vụ xứng đáng với những thế hệ đi trước. Họ tiếp tục tiếp bước con cháu với di sản tinh thần để lại.

Hơn tám trăm năm trước, nhà thơ hoàng đế Thái tông Trần Cảnh đã viết “Người lính già đầu bạc, còn kể chuyện Nguyên Phong” (Bạch đầu quân sĩ tại, vãng vãng thuyết Nguyên Phong). Chiến thắng quân Mông Cổ năm Nguyên Phong (cuộc chống Mông Cổ lần thứ Nhất- 1258) cũng là một huyền thoại, mà những người lính già kể mãi cho con cháu. Chắc chắn là chính con cháu những người lính già ấy, khi làm nên chiến thắng Bạch Đằng năm Trùng Hưng, trong tâm khảm còn tươi rói câu chuyện thắng quân Mông Cổ năm Nguyên Phong.

Ngày nay chúng ta vẫn nghe thấy tiếng thì thầm kể chuyện của họ. Những người lính già đầu bạc phơ của các đoàn tàu không số chắc chắn cũng đã nghe thấy tiếng vọng ấy và ngày nay đang kể câu chuyện huyền thoại về thời Nguyên Phong mới.

Có một lần, tôi và một anh bạn có dịp nằm ở quân cảng Sơn Trà. Khi đó chúng tôi là những sĩ quan đến để khai thác khí tài hoá học trên các tàu chiến của hải quân Vùng 3. Đường từ Thành phố Đà Nẵng đến Sơn Trà còn là con đường qua một vùng nông thôn hoang vắng. Rừng Sơn Trà suốt đêm cứ ầm ì một tiếng động rì rầm rất lạ. Một đại uý hải quân cũng ở trạm khách nói với tôi: “ Đó là tiếng sóng biển dội lên. Những vùng rừng ven biển thường có âm vang như thế”. Hôm sau, tôi gặp một người dân đi rừng, vác một bó củi khô xuống núi, thì ông ấy bảo: “Sóng nào ở rừng, thế mà anh cũng nghe. Chẳng qua mưa tạnh rồi, nhưng rừng thì vẫn tiếp tục mưa mãi. Anh cứ vào rừng mà xem…”

Câu chuyện đó cứ theo tôi mãi. Sau này, khi tôi quay lại Sơn Trà một ngày Đà Nẵng hiện đại, phố xá san sát thành quận nội thành gần đến cảng Tiên Sa, tôi không còn nghe thấy tiếng rì rầm trên rừng Sơn Trà sau trận mưa như xưa nữa. Nhưng tiếng rì rầm của biển cả thì cứ vang vọng mãi trong tâm trí tôi. Lẽ nào, những người ngày nay không nghe thấy âm vang của sóng biển dội lên những cánh rừng ven biển, dội lên bờ bãi đất đai.

Hiện tại, nếu đi dọc biển Việt Nam hôm nay, sẽ thấy những hoạt động du lịch, đánh cá hay khoan dầu nhộn nhịp. Chúng ta nhìn sâu vào biển cả, chắc hẳn sẽ thấy Trường Sa kiêu hùng và Hoàng Sa còn chìm trong mù mịt… Nhưng liệu có phải tất cả chúng ta đều nghe thấy tiếng thầm thì của biển kể câu chuyện của nó từ muôn đời trước, đến ngày nay và sẽ đến muôn đời sau nữa. Trong câu chuyện phong hoá từ khai thiên lập địa, có những cổ tích mới một ngàn năm từ thời Đinh Lê, thời Nguyên Phong hay Trùng Hưng, một trăm năm hay năm mươi năm của đoàn tàu không số. Những chuyện một đời người còn nghe thấy từ nhân chứng sống.

Như chuyện đường Hồ Chí Minh trên biển chắc hẳn đã hoà vào tiếng thầm thì của sóng biển, nó sẽ kể mãi cho thế hệ sau… Ai sẽ chuyên chở và gìn giữ tiếng thầm thì ấy của biển cả, nếu không phải chính những con người hậu duệ của người lính Nguyên Phong, hậu duệ của các chiến sĩ tàu không số.

 


Chưa có bình luận nào !
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : h61qfc
Bài viết khác