Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Duy Minh

Bình Luận của Duy Minh

Nhiều lần đọc những bài viết của nhà văn, biết bác người xứ Đông cháu cũng cảm thấy đồng cảm như người đồng hương. Liệu có một ngày nào đó, Hải Dương và Hải Phòng có thể nhập lại làm một, cái tên Hải Đông có lẽ thích hợp hơn cả. Thật buồn là đến giờ nhiều người ở VN (bao gồm không ít người có uy tín trong các ngành văn hóa, giáo dục, sử học) và cả những người Việt sống ở hải ngoại vẫn cho rằng nhà Mạc ra đời là một sai lầm của lịch sử VN và Mạc Đăng Dung cắt đất cho ngoại bang! Hành động hạ mình có vẻ thái quá của Thái thượng hoàng nhà Mạc (lúc này ông không còn làm vua nhưng nhiều người không quan tâm chi tiết lịch sử này) sau này vua nhà Lê trung hưng lặp lại thì lại được sử quan triều Lê-Trịnh cho qua! Giờ đang sống trên mảnh đất Nam bộ vốn là đất cũ của Chân Lạp, cháu tự hỏi không có thế kỷ 16 với những biến động lớn thì liệu dân Bắc Hà chúng ta chỉ có mỗi cái chốn Hà Thành để tranh giành quyền cai trị lẫn nhau hết đời này qua đời khác thôi sao?
Nguyễn Việt Long

Bình Luận của Nguyễn Việt Long

Chi tiết "lãnh tụ cực tả của QDĐ Lão Trung Kha" viết sai tên. Chả có ai là Lão Trung Kha cả, đó là Liêu Trọng Khải.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Tôi không rành về Lào cho lắm, nên không hiểu chế độ hiện nay như thế nào? Nhiều khi thấy thế giới phân loại các quốc gia cộng sản gồm 5 nước thì có Lào. Nhưng đọc một văn bản của Cộng đồng Châu Âu xếp loại 4 nước cộng sản trên thế giới thì không có Lào. Nghe nói, họ còn bảo VN sang mà đưa tượng ông cụ về đi.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Bút Ký
Nói chuyện Trung Quốc với ông Trần Đình Hiến và Hà Phạm Phú (bài 1)

 Không nước nào như Trung Hoa, tầng lớp trí thức lại có một lịch sử truyền thống đặc biệt gắn bó với giai cấp thống trị bằng một loại nghề như thế. Đó là nghề quân sư. Thuở xa xưa, đó là những anh thuyết khách, kiểu như Tô Tần, Trương Nghi. Sau đó, Khổng tử cũng là một loại trí thức bôn ba, tìm cách tiếp cận với chính quyền để làm sao thực thi được cái đạo của mình. Rồi suốt lịch sử Trung Quốc, bao giờ các vị quân vương muốn trị quốc, bình thiên hạ cũng đều phải có quân sư. Lưu Bị phải 3 lần nhún mình, mới mời được Khổng Minh ra làm quân sư cho mình. Tào phủ thì đầy chặt quân sư từ Tuân Úc, Tuân Du cho đến Tư Mã Ý. Khổng Minh là một trường hợp tiêu biểu, khi ông ta làm quân sư thì rất sáng láng, đến khi làm Thừa tướng, tức là trực tiếp cầm quyền, thì hầu như kế sách của ông ta đều bị Tư Mã Ý cũng là quân sư tham chính, phá được. Khi anh không là quân sư nữa, thì anh ta cũng tầm thường như quan lại thường tình thôi.

Ông Trần Đình Hiến lý giải, tầng lớp người thuyết khách ở Trung Quốc thời Xuân Thu như Tô Tần, Trương Nghi, đến Khổng tử là những “túi khôn” trong một xã hội phong kiến vốn tôn ti trật tự, quan lại bậc cao thì thế tập, người thường không sao len chân lên tầng lớp chính quyền được. Họ chỉ có một cách là dùng ba tấc lưỡi để làm cho người cầm quyền dùng họ, thi hành cái “đạo” của họ. Ông Hiến cho rằng, xã hội Trung Quốc rất đặc biệt vì có tầng lớp quân sư này, nó có quan hệ quan trọng với sự hình thành Nho giáo và tư tưởng Đại Hán. Nhà Hán vĩ đại vì bắt đầu nắm lấy Nho giáo để trị quốc, từ đó các quy tắc tuyển dụng trí thức, làm cho trí thức bám chặt với chính quyền và nhuộm trí thức thành những ông quan để phục vụ cho vua. Hình mẫu quân tử theo các chuẩn mực Nho giáo có sự phân hóa thú vị, nếu anh ta có thể làm quan thì phục vụ triều đình, còn nếu không thể làm quan, cũng là vươn đến cấp độ “hảo hán” (một người Hán tốt) mà thôi.

Chu Ân Lai trong lịch sử hiện đại cũng là một kiểu quân sư tiêu biểu. Ông ta quê ở Thiệu Hưng, Triết Giang, một huyện có truyền thống hàng ngàn năm làm quân sư. Đó thực chất là vùng văn hóa Bách Việt truyền thống. Sau khi Hán hóa Trung Quốc, anh Bách Việt chỉ có cách chui vào chính quyền trung ương bằng nghề quân sư. Tôi đã nói chuyện với nhiều người Trung Quốc, họ nói Chu Ân Lai nếu là quân sư như thời trước khi làm Thủ tướng thì tốt, được Mao coi trọng, sau khi làm Thủ tướng, cũng như Không Minh làm Thừa tướng mà thôi.

Ông Hà Phạm Phú thì cho rằng, thực chất Trung Quốc hàng ngàn năm không có tầng lớp trí thức. Những kẻ có học, có tri thức luôn luôn có nguyện vọng cơ hữu với chính quyền. Khi anh luôn khao khát là một bộ phận của chính quyền, thì không bao giờ có phản kháng, không có phản biện, nếu có nói đến cái bánh thì thực ra chỉ là cái bánh vẽ mà thôi. Còn nếu anh vẫn muốn giữ tiết tháo, giữ nhân cách thì anh phải ở ẩn, về gõ đầu trẻ hoặc làm thuốc cứu người. Đó là tình thế hàng ngàn năm nay ở Trung Quốc.

Tôi nhớ lại Phạm Đông Vũ, đồng đạo diễn phim Vượt qua bến Thượng Hải, khi làm phim này, anh ta đề nghị một trường đoạn như sau: Khi ông Nguyễn Ái Quốc và người bảo vệ bị lùng sục, bị đói ở Thượng Hải, đợi giao liên của Tống Khánh Linh, thì ông Nguyễn có vẽ một cái bánh ra lề tờ báo. Người bảo vệ hỏi: “Anh vẽ cái gì đấy?” Nguyễn Ái Quốc trả lời: “Cái bánh. Người Trung Quốc có câu, ăn bánh vẽ cũng đỡ đói hơn không ăn gì”. Nói xong hai người cười hả hê. Phạm Đông Vũ lý luận: “Ông Nguyễn am hiểu Trung Quốc, mà trong khó khăn, ông Nguyễn luôn lạc quan hài hước. Người Trung Quốc cũng hay nói câu đó”. Phim quay rồi, nhưng khi duyệt tại Cục Điện ảnh thì chi tiết ấy bị cắt. Tôi và Vũ đều tiếc.

Nếu theo dõi cái Nho giáo Trung Hoa, thì thấy nó đi liền với tư tưởng Đại Hán. Chính nó góp phần quan trọng cho việc hình thành nền văn hóa Hán. Nếu nghiên cứu Khổng tử mà không có phản biện, thì vô tình đi vào con đường xuất khẩu tư tưởng Đại Hán một cách tinh vi. Một trí thức Nho giáo, một quân tử Tàu theo hình mẫu truyền thống thực chất thế nào? Đạo nhân của Nho gia lấy hình mẫu “quân tử”, đó là hình mẫu của người cai trị. Vươn đến “quân tử” thì còn nói làm gì nữa. Cho nên mới phải noi theo hình ảnh lý tưởng của họ, nào là tam cương ngũ thường, nào là tu tề trị bình. Tất nhiên anh chỉ có thể mon men đến chỗ của các ông quan đứng bên cạnh nhà cầm quyền để thi hành cái đạo của họ. Đạo đó là cái gì? Nói thì văn hoa, là quân thần, phụ tử, phu phụ, là tôn ti trật tự, là nhân nghĩa lễ trí tín, nhưng thực chất là để đạt đến mức sống của ông quan hưởng lạc chót vót. Tu, tề, trị, bình để làm gì? Cũng là để đạt tới khoái sướng cá nhân quân tử trên cơ sở phủ định người khác. Nếu không có tầng lớp dân đen lúc nhúc ở tầng dưới, thì anh ta có thực hiện được hoài bão ấy không? Có cái đạo nào hướng đến sự hưởng lạc hơn đạo Nho, mà lại giấu kỹ thực chất ấy của con người hơn là đạo Nho. Đó là một cái đạo nâng dối trá đến mức nghệ thuật. Khinh thường phụ nữ, nhưng lại muốn có nhiều phụ nữ để cân bằng âm dương. “Quân tử thực bất cầu bão”, nhưng lại coi mục đích làm quan, vươn lên đứng dưới một người, trên vạn người, ăn gì thỏa thích, là con đường vinh dự.

Đặc tính thông thường của người ta là dễ làm những điều buông thả, dễ thực hiện dục vọng cá nhân, còn thì khó rèn dũa để vì cộng đồng, vì người khác. Điều quái lạ là nền văn hóa Hán với Nho giáo làm nền tảng tư tưởng lại rất hấp dẫn tầng lớp cầm quyền, dù là thuộc tộc người nào, bởi vì nó hướng vào khuyến khích dục vọng, nên nó dễ lây, dễ lan truyền. Nào là Nguyên Mông, nào là Mãn Thanh, nào là Khiết Đan… tất cả dù có đánh thắng người Hán, thì rồi cũng hấp thụ Nho giáo, vô tình biến thành Hán cả. Nói theo ngôn ngữ thời kỹ thuật số, thì cái đạo Nho đúng là tự nó có chức năng “portable”, tự chạy chứ không cần phải cài đặt, chỉ cần một phần cứng tối thiểu là tự chạy thôi. Nó tự lừa dối và hấp dẫn con người đạt đến nhu cầu cá nhân tối thượng là có quyền, có thế, có thể nô dịch người khác.

Ông Hà Phạm Phú nói, ông đọc sách chữ Hán, ngay người Trung Quốc cũng công nhận, trong lịch sử Trung Quốc, chỉ có Lưu Bang và Chu Nguyên Chương là các vua khai quốc đúng là gốc Hán. Dù cho tự nhận là Hán, nhưng họ Triệu lập nên nhà Tống lại có nguồn gốc du mục, và lạ thay, chính từ thời Tống nảy nòi ra Chu Hy, người đã nâng Nho giáo lên đỉnh cao. Tống Nho thành một hòn đá tảng học thuật gia cố Nho giáo, trở thành một tôn giáo, thành Đạo Nho tỏa bóng lên xã hội và con người Trung Quốc.

Hùng mạnh như Kim Quốc, Nữ Chân hay Nguyên Mông, Mãn Thanh, mà nô dịch người Hán thì con cháu họ cũng thành Hán. Còn Đại Việt nhỏ bé đánh thắng, đuổi người Hán đi, nhưng tình nguyện “vờ” làm chư hầu, thì dù ít hay nhiều cũng bị Hán hóa. Dân tộc thì còn, nhưng tập tục thì dần biến đổi. Thời Minh thuộc, sự tiêu diệt văn hóa ghê gớm nhất đối với Đại Việt, sau đó nhà Minh bại trận. Nhưng Đại Việt của Lê Thái tổ sau chiến thắng thì bắt đầu mô phỏng xã hội Nho giáo Trung Hoa ở mức toàn diện nhất từ trước đến đó. Từ tam giáo đồng nguyên thời Lý cho đến Phật giáo chủ đạo thời Trần đã tàn lụi để cho Nho giáo độc tôn. Việc này có hậu quả dai dẳng cho đất nước và dân tộc mấy trăm năm, từ Mạc đến Lê Trung hưng và Nguyễn.

Thời Trần, chỉ có Trần Ích Tắc hàng quân Nguyên. Ích Tắc là quân tử hào hoa ở Thăng Long thấm nhuần Nho giáo. Cho đến Lê Chiêu Thống, một sản phẩm của xã hội Nho giáo thời Lê, không ngần ngại gọi người Thanh vào đất nước mình. Khi anh cùng hệ tư tưởng với nhau thì đôi khi quên dân tộc, chỉ thấy đâu cũng là Nho, Trung Nguyên hay Đại Việt cũng Nho cả, mà không thấy Nho chính là Đại Hán. Thời nhà Mạc, tư tưởng Nho giáo mất địa vị chủ đạo, vẫn tuyển bổ quan lại, nhưng phục hồi Phật giáo, Lão giáo, các vua Mạc sau khi mất kinh đô, trấn thủ biên cương Cao Bằng, dù cho yếu thế, nhưng tại sao không hề có ý định mời người Trung Quốc vào giúp mình, đó là một bí ẩn lớn hậu thế cần suy xét. Tôi cho rằng điều này có nguồn gốc về hệ tư tưởng. Nhà Mạc nghi ngờ Nho giáo, có bài học do sửa chữa sự suy đồi của xã hội Nho giáo cuối Lê. Chính điều đó khiến họ bị trả giá, bị tập đoàn phục Lê tiêu diệt. Nhà Mạc còn bi kịch ở chỗ, dù còn trấn thủ Cao Bằng, nhưng không có một sử gia riêng nào để lại một chữ thanh minh cho hậu thế, đến nỗi sau này, tất cả tài liệu lịch sử đều do các Nho gia phò Trịnh phò Nguyễn viết ra cả.   

Chưa có bình luận nào !
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : hdktv4
Bài viết khác