Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Nguyễn Việt Long

Bình Luận của Nguyễn Việt Long

Chi tiết "lãnh tụ cực tả của QDĐ Lão Trung Kha" viết sai tên. Chả có ai là Lão Trung Kha cả, đó là Liêu Trọng Khải.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Tôi không rành về Lào cho lắm, nên không hiểu chế độ hiện nay như thế nào? Nhiều khi thấy thế giới phân loại các quốc gia cộng sản gồm 5 nước thì có Lào. Nhưng đọc một văn bản của Cộng đồng Châu Âu xếp loại 4 nước cộng sản trên thế giới thì không có Lào. Nghe nói, họ còn bảo VN sang mà đưa tượng ông cụ về đi.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
nguyen thi cam tu

Bình Luận của nguyen thi cam tu

cac ban oi cho minh y kien nhe. vay tom lai ho quy ly duoc xem la anh hung hay gian hung
Bút Ký
Nói chuyện Trung Quốc với Nhà văn Trần Đình Hiến và Hà Phạm Phú (bài 7- bài cuối)

  

Ông Trần Đình Hiến cười mỉm nói: Tam quốc diễn nghĩa có hay không? Hay chứ. Người Trung Quốc và Việt Nam mấy trăm năm truyền tụng. Không ít anh lấy đó làm sách gối đầu giường, rồi tốn bao nhiêu giấy mực, bàn tán không ngớt. Tào Tháo trở thành chót vót gian hùng. Nào Lưu, Quan, Trương, nào Ngô, Thục… Vô vàn mưu ma chước quỷ, thủ đoạn phô bày. Ông Hiến nói, do vị trí công tác, ông Hiến đã nói chuyện với nhiều anh ở các đại sứ quán một số nước phương Tây, họ ngạc nhiên sao người ta lại có thể say mê tán tụng một quyển sách đồi bại như thế. Họ cho rằng, trong Tam Quốc diễn nghĩa không có dòng nào xây dựng nhân cách, không có khát vọng tự do, tất cả đều ca tụng sự nô dịch. Tóm lại, theo họ, đó là một cuốn sách hủ bại. Bởi vì nó cổ vũ tiêu diệt nhân cách, phi nhân tính. Những người ở nền dân chủ phương Tây, thấm nhuần văn hóa nhân bản, ngạc nhiên thấy có thể tán tụng một cuốn sách dạy băng hoại nhân cách như vậy.

Tôi ngẫm thấy cũng có lý. Con người trong xã hội Tam Quốc lúc nào cũng phải mưu mẹo, nghĩ kế lừa nhau. Sinh linh trong xã hội Tam Quốc không hơn con nhái con cá. Một trận có thể chém hàng trăm thủ cấp chỉ vì một ý thích vớ vẩn của một viên tướng. Tào Tháo thua trận Xích Bích, mấy chục vạn quân chết trong một ngày, sau đó chạy tả tơi, vẫn ngửa cổ lên trời cười và cám ơn trời vẫn còn cho ông ta sống. Rồi những nhà Tam Quốc học tán tụng nhân cách phi thường của Tào Tháo.

Có lẽ, sống trong cái thiên hạ bá chủ là Hán, đầy những mưu mô thủ đoạn, nên người ta cũng tự vũ trang cho mình một loại mưu sống. Thật thật mà giả giả thì sống, chứ cứ thật như đếm thì chết. Ngô hay Thục đều quay cuồng trong cái bể Nho giáo cả, vùng vẫy trong học thuật của người Hán, rồi cuối cùng thua anh Tào Tháo gian hùng, một người xuất thân từ nước Ngụy phía Bắc Trung Quốc. So với Lưu và Tôn, thì Tào có chất Hán hơn cả. Tào Tháo là đại hảo Hán. Tam Quốc diễn nghĩa chính là sản phẩm của nền văn hóa Hán.

Theo ông Trần Đình Hiến, trong “tứ đại kỳ thư” mà người Trung Quốc tuyền tụng, thì Tam Quốc diễn nghĩa chiếm vị trí chót vót, rồi đến Hồng Lâu Mộng, và Thủy Hử. Xét cho cùng, “Hồng” và “Thủy” là hai tác phẩm con đẻ của nền văn hóa Hán lấy Nho giáo làm nền tảng. Hàng trăm năm nay, nguyên sách tán tụng các tác phẩm này mà xếp liền nhau có thể lên mặt trăng được. Nghe ông Hiến nói vậy, tôi mới thấy sáng ra điều này, Xã hội Trung Quốc trong hai tác phẩm đó từ câu đầu đến chữ cuối thấm đẫm nặng Nho. Đến nỗi, thế hệ sau này, sự giáo dục Nho giáo đã phai nhạt khá nhiều rồi, mà cứ đọc hai quyển ấy là hiểu cơ bản về Nho giáo. Coi như nó là loại “thực hành Nho giáo” vậy.

Còn quyển tiểu thuyết thứ tư, Tây Du ký, lại có số phận hoàn toàn khác. Theo ông Trần Đình Hiến, dù có bênh vực cho văn hóa Hán như những tay trí thức Hán có tư tưởng Đại Hán, thì cũng phải công nhận Tây Du ký có khá nhiều nghi vấn.

Nghi vấn thứ nhất là hoàn cảnh ra đời. Hàng trăm năm nay, ngay tại Trung Quốc, ngay từ khi tung ra Tây Du ký, đã có nghi ngờ đây không phải tác phẩm của Ngô Thừa Ân. Tại sao sau khi Ngô Thừa Ân chết rất lâu, thì người cháu của ông mới công bố tác phẩm này? Theo ông Hiến, thư tịch cổ Trung Quốc cũng phân tích những tác phẩm thực sự của Ngô Thừa Ân, mà không hiểu nối tại sao ông ấy lại có cuốn tiểu thuyết này giấu đi?

Ông Trần Đình Hiến nghiêng về ủng hộ một phát hiện lý thú: Tây Du ký không phải sản phẩm của nền văn hóa Hán. Thứ nhất, Phật giáo thời Ngô Thừa Ân không đủ cơ sở lý luận để ra đời một bộ sách như Tây Du ký. Điều này có lẽ phải nghiên cứu lịch sử Phật giáo Việt Nam và Nam Trung Quốc thì mới thấy sáng tỏ ra được.

Lập luận thứ hai, từ chính văn bản Tây Du ký. Nghiên cứu Tây Du ký, trật ra đầy rẫy những khập khiễng. Nếu chỉ từ văn bản, cũng thấy nếu từ kinh đô Đại Đường đi Tây Trúc, thì phải là Nam du, chứ sao lại Tây Du đâm đầu vào Tây Tạng. Một loạt nước mà thày trò Đường Tăng gặp trên đường đi, tại sao không có nước nào nằm trong ảnh hưởng của nước Đại Đường, mặc dù họ biết Đại Đường, nhưng coi nước Đường như một nước bé tý, chả ra gì. Vào thời Đường, nước Đại Đường tất nhiên là một nước lớn trong thiên hạ, các tiểu quốc nếu gặp thày trò Đường Tăng không thể khinh thị coi thường đến thế.

Vấn đề thứ ba là, con người Tôn Ngộ Không, Sa Tăng, Chư Bát Giới đúng là con người của nền văn hóa nông nghiệp lúa nước, tư duy nhỏ bé, tủn mủn. Tư duy của Tôn Ngộ Không, Chư Bát Giới và Sa Tăng phù hợp một cách lạ lùng với triết lý “Cư trần lạc đạo” của Thiền Trúc Lâm. Dễ hiểu tại sao người Việt Nam từ xưa tiếp thu Tây Du ký một cách tự nhiên như thế. Nếu Ngô Thừa Ân viết Tây Du, chắc hẳn ông đã biết và đi tu theo phái Thiền Trúc Lâm của Việt Nam.

Vấn đề thứ tư là, vai trò Phật Bà Quan âm đặc biệt được đề cao. Vào thế kỷ 16, những phái Phật giáo ở Nam Trung Quốc không tôn thờ Quán Thế âm Bồ Tát như vậy, mà các Thiền phái còn đang đua nhau vai trò chủ lưu ở các thiền môn, loay hoay phát triển các lý thuyết Phật Đại thừa và đặc biệt là Thiền. Đằng này, miêu tả thời Đường như vậy thì càng lạ lẫm. 

Theo ông Trần Đình Hiến, nhiều năm qua ông đã tìm kiếm vết tích về một phả hệ họ Ngô của Ngô Thừa Ân, và tìm kiếm bất cứ dấu vết nào của Đại Việt từ vụ cướp phá văn hóa thời Minh. Đã có thông tin vào năm 1416, một đoàn các nhà Nho khoa bảng Trung Quốc đến Đại Việt, làm một sứ mạng là lấy đi bất cứ cái gì có văn tự, cái gì không mang đi được thì đập phá. Thời Minh thuộc, các đền đài lăng tẩm đều bị san bằng, văn tự bị cướp và đốt. Ông Trần Đình Hiến nói, có dấu hiệu cho thấy, nhà Minh có mang về Trung Quốc nhiều sách ở các nhà chùa Đại Việt. Một nghi vấn rằng, trong đó có dạng ban đầu của Tây Du ký, một dạng sách hoằng pháp của Trúc Lâm Đại đầu đà viết là có cơ sở đặt ra để tìm hiểu. Rồi cuốn sách đó bằng con đường bí ẩn nào đó rơi đến tay Ngô Thừa Ân, hoặc vào tay con cháu Ngô Thừa Ân?.

Có lẽ, Tây Du ký cũng nằm trong loạt thành tựu văn hóa Bách Việt như Kinh Dịch, Kinh thi, chỉ có điều khi lọt vào tay người Hán, nó được tô vẽ lại theo phong cách Hán, nhưng vẫn không gột rửa hết các tình huống và chi tiết Việt. Và nó nghiễm nhiên trở thành thành tựu của văn hóa Hán. Ở đây, xin mở ngoặc có chữ “có lẽ” chứ chưa (không) khẳng định. Hoặc quyển sách nhà chùa này có thể về Hán thông qua một dòng họ có Nho học, biết giá trị văn chương của nó.

Có một hệ quả trong quá trình nghiên cứu của ông Trần Đình Hiến. Đó là dòng họ Ngô của Ngô Thừa Ân có liên hệ nguồn mạch nào từ họ Ngô Sĩ sinh ra Ngô Sĩ Liên không? Ông Trần Đình Hiến đang tìm kiếm tài liệu về sự liên hệ này. Có dấu hiệu nào mách bảo ông Hiến điều đó không? Đây quả thật là một công việc vén màn bí ẩn đen đặc của lịch sử, nhưng không phải là không thể.

Ở Việt Nam, có tồn tại hậu duệ của Ngô Sĩ Liên không? Nếu Ngô Thừa Ân quả là hậu duệ và có liên hệ huyết thống với Ngô Sĩ Liên, thì tại Trung Quốc, tất nhiên phải có dấu vết. Các dòng họ ở Trung Quốc rộng lớn lại có tập quán ghi chép phả hệ rất cặn kẽ. Đến nỗi, Khổng tử cho đến nay người ta còn tính đếm rõ ràng con cháu ông là đời thứ bảy mươi mấy.

Ngô Sĩ Liên có sử sách ghi lại cuộc đời và sự nghiệp không nhất quán. Không rõ ông có theo Lê Lợi từ khi tụ nghĩa Lam Sơn hay không, nhưng ghi rõ là sau giải phóng Thăng Long khá lâu ông mới thi đỗ và ra làm quan. Theo ông Trần Đình Hiến, thì cách chép sử của Ngô Sĩ Liên là cung cách của một nhà Nho độc tôn Nho tiêu biểu. Với Ngô Sĩ Liên, Nho là học thuật cao nhất và duy nhất.

Một nghi vấn chính trị đối với Ngô Sĩ Liên là, tại sau sau khi ông viết Đại Việt sử ký toàn thư xong, thì bộ Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu cũng mất tích luôn? Không thể nói người Minh thu hủy bộ sử đó, vì cho đến Ngô Sĩ Liên viết sử, ông còn tham khảo từ chính bộ sử của Lê Văn Hưu kia mà? Vậy ai hay tác nhân nào đã làm cho Đại Việt sử ký biến mất? Chỉ có điều chắc chắn rằng, bộ Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu viết không phải với con mắt độc tôn Nho, mà Nho thời đầu Trần là “Nho nhạt”, con mắt của Lê Văn Hưu còn đủ tỉnh táo nhìn lịch sử bằng cái nhìn đậm chất Việt, có Phật, có Lão, có Nho, tức là con mắt tam giáo đồng nguyên của thời cuối Lý, đầu Trần. Cái nhìn của Lê Văn Hưu như thế, trong tư tưởng Ngô Sĩ Liên thì chắc chắn không phải chân Nho, có đốt hay hủy đi cũng không làm ông bận tâm.

Tóm lại, những con người trong Tây Du ký dường như sống trong thế giới tư tưởng Thiền Trúc Lâm, cộng với dấu vết lịch sử về cuộc cướp phá văn hóa Minh thuộc, cộng với nghi vấn về nguồn gốc Tây Du ký ở chính Trung Quốc, khiến cho ông Trần Đình Hiến đặt vấn đề nghi vấn Tây Du ký. Việc nghi vấn này, theo tôi cũng không khác các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã nghi, chỉ có điều ông Hiến đã đi tìm một dấu vết về Ngô Thừa Ân và Ngô Sĩ Liên mà thôi. Đó chắc hẳn là một bí ẩn khủng khiếp.

Ông Trần Đình Hiến có lý do để tìm kiếm điều bí ẩn này của lịch sử.

 

Vũ Xuân Tửu Gửi lúc : (21/08/2012 | 08:07:00)
Cám ơn nhà văn Trần Đình Hiến, Hà Phạm Phú và Nguyễn Xuân Hưng với loạt bài thú vị này.
Vũ Xuân Tửu
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : yn46q7
Bài viết khác