Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Nguyễn Việt Long

Bình Luận của Nguyễn Việt Long

Chi tiết "lãnh tụ cực tả của QDĐ Lão Trung Kha" viết sai tên. Chả có ai là Lão Trung Kha cả, đó là Liêu Trọng Khải.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Tôi không rành về Lào cho lắm, nên không hiểu chế độ hiện nay như thế nào? Nhiều khi thấy thế giới phân loại các quốc gia cộng sản gồm 5 nước thì có Lào. Nhưng đọc một văn bản của Cộng đồng Châu Âu xếp loại 4 nước cộng sản trên thế giới thì không có Lào. Nghe nói, họ còn bảo VN sang mà đưa tượng ông cụ về đi.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
nguyen thi cam tu

Bình Luận của nguyen thi cam tu

cac ban oi cho minh y kien nhe. vay tom lai ho quy ly duoc xem la anh hung hay gian hung
Bút Ký
Kỳ tích sông Hàn hay thư ngỏ gửi Văn Công Hùng

  

 Văn Công Hùng thân mến.

             Tôi chưa đọc ở báo nào mà có đến 2 bài về Hội nghị nhà văn 3 nước Việt Nam -Lào -Campuchia và trao giải sông Mê Công như website của anh. Ngay khi ông Nguyễn Chí Trung còn đăng đàn diễn thuyết huấn thị các nhà văn về truyền thống, thì web của anh đã post ảnh và đưa tin rồi, trong khi đó web của Hội ta thì chưa kịp làm gì. Tôi cũng là người có thời làm báo, tôi bầu cho anh một phiếu: anh là nhà báo thứ thiệt dong chơi, còn hơn khối nhà báo (không rong chơi) đang làm việc. Do vậy, tôi viết cho anh, dĩ nhiên là để anh post lên web thành bài thứ 3 nhân có cái hội nghị bé tý và bình thường ở Đà Nẵng, chắc chắn sẽ lập một kỷ lục nào đó, và cũng vì tôi hơi nghi ngờ rằng liệu có ông tổng biên tập nào đăng bài này của tôi chăng?

            Tôi không rõ ai là người đầu tiên trong lãnh đạo Hội Nhà văn đã đề nghị lấy Đà Nẵng làm nơi hội nghị lần này, việc đó chứng tỏ người lãnh đạo Hội đã có cái nhìn tinh tế. Đà Nẵng đang là một thành phố năng động, phá rào, bứt phá, thay da đổi thịt… Tuy vậy, đó cũng chỉ là những ngôn từ chết, nó âm vang không hồn, nếu như không một lần đến đây, như tôi đến Hội nghị lần này. Tôi tự thấy nên viết điều gì đó. Anh cũng đến, và tôi muốn chia sẻ với anh.

            Ba mươi năm trước, năm 1982, là một sĩ quan Hải quân, tôi lần đầu đến Đà Nẵng, rồi chật vật thuê xe đạp chở từ Cảng Đà Nẵng ra đến Sơn Trà. Khi đó chỉ có xe đạp ôm mà thôi. Bên kia sông Hàn làng quê thưa thớt, tôi đã đi qua đó để đến căn cứ Hải quân vùng 3 ở Sơn Trà. Có hôm lang thang mép biển, dọc làng chài Mỹ Khê đón thuyền cá về chỉ để xin mấy con cá nhỏ nướng uống bia. Ba mươi năm quá dài, sau đó tôi còn quay lại nhiều lần nữa, đến những năm chín mươi vẫn không có gì mới hơn. Từ năm 2000 đến nay, Đà Nẵng vang bóng trên báo chí, nhưng những khu đô thị dường như cũng bắt gặp ở Hà Nội hay bất cứ nơi nào. Có một điểm mới mẻ chăng là những cây cầu bắc qua sông Hàn. Những cây cầu ấy mới đối với Việt Nam, với Đà Nẵng, nhưng cũng không có gì lạ so với những thành phố ở nước ngoài. Những điều đó thì ai cũng thấy, cũng biết rồi. Tôi cũng biết.

            Nhưng hóa ra chúng ta còn chưa biết nhiều điều.

            Khi tôi đến Đà Nẵng, cô nhân viên mượn được một chiếc xe của người thân chở đi làm việc theo đoàn làm phim. Anh lái xe người Quảng Ninh vốn là lái xe cho một cơ quan, đã chuyển tất cả vợ con vào Đà Nẵng mấy năm nay, anh nói: Lái xe ở Đà Nẵng có cái sướng mà Hà Nội, TPHCM không có, đó là đường xá thênh thang, đỗ xe có chỗ đàng hoàng mà không phải trả tiền, và điều quan trọng là không sợ công an. Đúng là tôi thấy các đường phố, như ở bờ sông Hàn hay bờ biển đều có vạch trắng đỗ xe, nhưng free và không có ai gõ cửa xe thu tiền. Anh lái xe nói: Đó là nhờ có ông Nguyễn Bá Thanh.

            Khi kể cho anh Mai lái xe Hãng phim Hội Nhà văn (lái thuê) mấy hôm ở Đà Nẵng, anh Mai thừa nhận anh lái xe Quảng Ninh không nói ngoa. Anh Mai kể cho tôi câu chuyện này. Anh và sếp công ty từ Hà Nội vào Đà Nẵng hồi tháng trước, khi anh đi đến đầu cầu sông Hàn, vừa định vào cầu thì có một anh công an xuất hiện. Anh Mai toát mồ hôi, nghĩ mình chắc "chết" rồi. Ở Hà Nội hay bất cứ tỉnh nào anh đã đi qua, nếu đã có anh công an yêu mến hỏi mình, thì không thể ra đi "nguyên vẹn". Anh Mai ngồi trên xe, hạ kính hỏi: "Tôi sai điều gì ạ?". Anh công an nhìn biển số xe Hà Nội, khiến cho lái xe Mai càng chắc chắn một vụ trảm xe ngoại tỉnh. Song, anh công an nói: "Anh không sai gì cả, mà chỉ vì cầu này cấm ô tô có thời hạn. Bây giờ đang là giờ cấm, có biển chắc anh không để ý, anh vòng sang kia, hoặc sang kia để đi theo cầu Thuận Phước hoặc cầu Nguyễn văn Trỗi". Anh ta nói xong, còn hướng dẫn cho lái xe rồi mới bỏ đi. Anh Mai nói với tôi: "Tôi lúc đó trút được gánh nặng và cảm động suýt khóc. Nếu như ở ngoài miền Bắc thì ít nhất cũng dăm trăm, nếu không thì một triệu. Mất toi một phần tư tháng lương của tôi rồi. Tôi đã từng bị rồi, tôi thấm lắm"

            Lái xe không sợ công an, điều bình thường ấy tưởng như không phải bàn cãi, thì lại là ước ao của cánh lái xe ở Việt Nam. Khi tôi đến Băng Cốc, Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Lương Bách đang dạy Đại học mang tên công chúa Thái Lan ở Chiềng Rai nói với tôi: Tôi xấu hổ với một người Thái vừa đi Việt Nam về, anh ta nhận định rằng, công an ở Việt Nam làm việc để trừng phạt, còn công an ở Thái Lan làm việc để hướng dẫn. Bách cười nói: Đừng nghĩ anh công an chỉ có liên quan đến người lái xe, đó là bộ mặt xã hội, người du lịch cũng sẽ nhận thấy có nên đến một đất nước như vậy không. Sao chúng ta chỉ tuyên truyền du lịch về vẻ đẹp tiềm ẩn, còn vẻ xấu lộ thiên lại là công an của chúng ta. Lần này, Nguyễn Lương Bách về, thế nào tôi cũng sẽ báo tin cho anh ấy, ở Việt Nam có Đà Nẵng làm được gần như Thái Lan, công an không phải công cụ để trừng phạt. Khi anh không kiếm cớ trừng phạt, thì anh không cần nấp. Tại sao Hà Nội hay ở đâu đó lại không thấy xấu hổ khi phải có một quy định công an không được nấp khi làm nhiệm vụ?.

            Một người bạn của tôi cùng ở bộ đội, đến Đà Nẵng và rồi ở lại thành phố, lấy vợ, sinh con, lập nghiệp. Anh kể: Hai mươi năm đầu tôi ở nhà khu ổ chuột bên kia sông Hàn, cuộc sống cũng bươn chải, vất vả như mọi người. Nhưng mươi năm nay, mua được nhà bên này mặt đường gần chợ gần sông, đỡ vất vả hơn, nhưng cái chính là mình được sống thoải mái đàng hoàng. Nhà cửa thì tàm tạm thế, công việc về hưu cũng không vội, sáng chiều thong dong. Anh nói rồi kết luận: Cũng là nhờ ông Nguyễn Bá Thanh.

            Tôi hỏi: Anh có biết hay gặp ông Thanh không?

            Anh trả lời: Không, tôi dân thường, có gì mà phải gặp, mà cũng không được gặp, nhưng tôi biết, nếu không có ông ấy thì Đà Nẵng có được như bây giờ không? Tôi không phải người không bao giờ đi ra khỏi cổng tỉnh, tôi đã về Bắc, đi khắp nơi, tôi biết chứ. Bây giờ ra đường, nếu có gặp ai vứt rác, thì hỏi ra đúng là người nơi khác đến.

            Lại thế nữa.

            Tôi để ý thấy đường phố Đà Nẵng đúng là một đường phố sạch. Thật mỉa mai ở Hà Nội có cái khẩu hiệu "Vì thành phố xanh sạch đẹp" mà cúi xuống chân mình đang đi, thì đầy rác. Hãy đến Hà Nội để kiểm chứng điều này.

            Lúc ăn trưa do UBND Thành phố Đà Nẵng chiêu đãi, tình cờ tôi ngồi cùng mâm với nhà văn Trần Kỳ Trung. Tôi chưa quen nhà văn Trần Kỳ Trung, chỉ đọc website của anh, những bài gai góc, loại bài có thể xếp vào diện "lề trái" mà ông Ba Sàm thích điểm. Nhưng thật lạ là ông nhà văn đang sinh sống ở miền Trung này cũng lại ca ngợi ông Nguyễn Bá Thanh. Một người lái xe, một viên chức về hưu ca ngợi lãnh đạo thành phố thì có thể do kết quả của việc tuyên truyền, cũng có thể ông Thanh có chiến lược mị dân, nhưng đến một ông nhà văn lớn tiếng chê nhiều thứ, mà lại khen nhiệt thành thì tôi cũng nên lắng nghe. Tôi tự hỏi, liệu Hội nghị này tổ chức ở Hà Nội hay Hải Phòng, thì bí thư thành ủy có ngồi dự suốt 100% thời gian như ông Nguyễn Bá Thanh đã dự không, và tôi cũng chưa từng thấy một vị bí thư thành ủy mấy thành phố lớn mời cơm cánh nhà văn. Hay là các bí thư thành ủy khác thì bận nhiều việc hơn bí thư Đà Nẵng? Không phải. Trần Kỳ Trung lý giải: Đó là cách đối xử thẳng thắn, không đãi bôi, không ngoại giao của ông ấy. Anh kể: Khi đoàn nhà văn làm đơn xin kinh phí đi họp và giao lưu với các bạn Lào nhân tết của nước bạn, các anh đã phải làm đơn xin kinh phí thành phố. Ông Thanh bảo: "Xin kinh phí thì phải có cơ chế duyệt, có lớp lang, tầng tầng lớp lớp thủ tục, làm sao có ngay được. Khi có thì hết tết Lào rồi. Bây giờ tôi cũng có lộc, tôi duyệt chi cho các anh 50 triệu, lần sau nên làm kế hoạch sớm".

            Ông ấy nói thế là hiểu rõ cái thủ tục tầng tầng lớp lớp, (...)  cũng chẳng hoạnh sao nhà văn phải đi chơi nước Lào. Bây giờ liệu có ai tin các ông bí thư tỉnh ủy chỉ có lương không thôi? Nhưng thể hiện sự không giả dối được như ông Thanh cũng là hiếm, có mấy ai làm được.

            Tôi biết có đoàn thanh tra của Bộ Kế hoạch và Đầu tư vào Đà Nẵng, ông Thanh cũng phải thừa nhận với họ: Có làm thì có sai. Sai thế nào, lách thế nào thì chắc không ít người biết. Tôi cũng biết tý chút. Có cái sai công khai như không tuyển viên chức học tại chức. Có cái sai tinh vi lách luật như đầu tư xây dựng. Làm bí thư thành ủy, xây dựng cả một thành phố mới, tất nhiên phải có lộc lá chứ, nhiều là khác, nhiều khó đếm được ấy chứ. Nhưng cái sai ấy, cái lộc ấy đem lại điều gì mới là quan trọng. Làm sao để người ta thấy anh là quan cách mạng vì dân vì thành phố. Hẳn là người Đà Nẵng biết điều đó, nên họ đều nhớ ơn ông Nguyễn Bá Thanh. Chắc là ông ấy cũng xây dựng được một đội ngũ biết làm việc, biết có lộc nhưng cũng biết vì dân. Bây giờ không ít cán bộ lộc cứ hưởng bất tận mà địa phương mình thì sập sệ, dân của mình thì đau khổ. 

            Tôi cũng đã sống ở Hải Phòng những năm tám mươi, thời kỳ ông Đoàn Duy Thành làm bí thư thành ủy. Ông Thành khi đó có điều gì đó tương tự như ông Thanh bây giờ, tất nhiên quy mô bé hơn. Hải Phòng bỗng thay đổi, thành phố như khoác áo mới, và điều quan trọng là con người Hải Phòng dám nghĩ, dám làm. Tay chơi Hà Nội khi đó lấy Hải Phòng làm nơi đến để làm lụng và ăn chơi. Nhưng ông Thành cũng bị vây đánh tứ phía, thậm chí có nhiều đảng viên lão thành cho ông là phản động. Sau ông Đoàn Duy Thành là triều đại 2 nhiệm kỳ của ông Lê Danh Xương, không có sai lầm gì, nhưng Hải Phòng trở thành một thành phố trì trệ, mà Hạ Long thì vươn lên, đến nỗi người Hải Phòng phải đặt ra câu ca cay đắng: Ai về thành phố Hạ Long, ghé thăm thị trấn Hải Phòng quê tôi.

            Nghĩ lại, đối chiếu lại với Hải Phòng ba mươi năm trước, thì phương pháp luận của ông Nguyễn Bá Thanh cũng không phải là chống chế, mà là nói thật. Có làm thì có sai. Nhưng cái chính là ông ấy biết ông ấy làm gì, ông ấy biết dân biết việc làm ấy. Các nhà lãnh đạo thi đua thời kỳ chống Mỹ đã tiên tri về cặp đôi hoàn hảo Hải Phòng - Đà Nẵng chăng, bởi vì ngày đó hai thành phố được cho là kết nghĩa anh em đấu tranh thống nhất. Sau này ông Đoàn Duy Thành rời khỏi thành phố lên chức đến Phó thủ tướng, nhưng sự nghiệp của ông ấy thì không còn vang dội nữa. Bây giờ, ông Nguyễn Bá Thanh nếu đi khỏi thành phố mà lên chức thì không biết có tránh được vết xe của ông Đoàn Duy Thành không? Ông ấy đi khỏi thành phố thì Đà Nẵng có tránh được một ông Lê Danh Xương mới không? Bây giờ thế giới nhỏ bé nhờ thông tin, không thể bưng bít dân tình được, người ta sẽ nói cái điều mà các ông quan nếu không chính trực thì không dám nghe. Ông Thanh nên nghe (và chắc đã nghe) lời ca ngợi, thì cũng nên nghe (và sẽ nghe) những lời chê trách và cảnh báo.

            Theo tôi, cái kỳ tích mà ông Thanh làm được ở Đà Nẵng (cũng như ông Thành đã làm ở Hải Phòng), không phải là xây 5 hay 10 cái cầu qua sông Hàn, cũng không phải là làm được dải phố bờ biển, phố bờ sông, bao nhiêu khu đô thị hay bắn pháo hoa hàng năm… vân vân. Cái mà ông ấy làm được là làm cho người dân thành phố này niềm tin và vui sống. Khi người ta vui sống thì người ta trở nên tử tế, khi có niềm tin thì bắt đầu manh nha thấy hạnh phúc ở chân trời. Những nhà quản lý hạng bét đã từng kêu ca về dân trí, sao họ không nghĩ ngợi một chút về Đà Nẵng. Dân Đà Nẵng có phải ở đâu "luân chuyển" đến đâu, vẫn là chính họ, mà ngày trước thì khác, bây giờ khác, chỉ có các ông quan là khác mà thôi.

            Khi tôi và anh vào khu vui chơi giải trí ở Bà Nà -Hil, tôi và anh chơi xe điện, do vô ý tôi đã rơi cái kính ở túi áo lúc nào không biết. Tôi có báo với nhân viên ở đó, họ đã tìm rất lâu nhưng không thấy. Tôi bảo: Thôi vậy, không sao, kính ấy cũng phải thay số rồi. Hai tiếng đồng hồ sau, khi đang đi thì có người gọi và mang trả kính, nhân viên bảo vệ bảo, anh ta tìm thấy ở góc nhà và đi tìm tôi rất lâu rồi. Đó cũng là một câu chuyện mới nữa khiến tôi suy nghĩ. Đà Nẵng tôi đã biết, và Đà Nẵng ngày hôm nay có một tâm thế khác. Cái điều mà nhà báo không thể phản ánh, nó là tầng sâu trong tâm khảm, chỉ nhà văn mới có thể đụng đến. Nhưng tôi biết các nhà văn còn nợ một hình tượng về sự biến đổi này của nhân cách thành phố cảng miền Trung.

            Bỗng có một ngày rất nhiều nhà văn tụ hội về một thành phố, danh chính là họ đi hội nghị, nhưng hội nghị cũng là đi chơi. Chắc hẳn có kẻ sẽ ném đá về điều này, nhưng nếu các nhà văn không chơi thì viết cái gì? Lao động nhà văn đỏng đảnh và cô độc, khi anh và tôi viết, thì không ai biết. Tôi biết các nhà văn đang giao lưu, đi chơi với nhau, chính là lúc đầu óc họ đang làm việc. Riêng tôi thì làm việc thật, chứ không chơi, và đó là một thiệt thòi cho tư cách nhà văn. Một đoàn làm phim thì khi đến phải đến trước, khi đi phải đi sau. Khi các anh ca hát nhảy múa thì là lúc chúng tôi vác máy, chạy chỗ này chỗ kia như một lũ điên. Khi các anh trao đổi ở hành lang cũng lại là cảnh quý cho chúng tôi bấm máy. Cho nên đó là trớ trêu buồn, làm việc mà lại là không làm được cái gì. Cho nên, khi các anh ra về rồi, tôi còn ở lại dạo một vòng Đà Nẵng bằng con xe Juli ghẻ. Để làm gì? Để thấm cái sung sướng của anh lái xe không sợ công an. Để được ghé vào bãi biển, mà vứt xe bất cứ chỗ nào chả sợ người ta hoạnh họe thu tiền hay phạt tiền. Đó là một hạnh phúc bình dị mà Hà Nội không có được. Một thành phố cho phép ngành giao thông vạch đường tràn lan để đỗ xe thu tiền, thì đó là cách kiếm tiền dễ nhất, việc gì phải lo lắng đến quy hoạch giao thông nữa.

            Mời anh khi nào ra Hà Nội, hãy đến 65 Nguyễn Du để chứng kiến một đoạn đường "thập cẩm". Xe ô tô để ngổn ngang, để cả trên hè phố, để trong vạch vôi thì có cô trông xe thu tiền của Sở Giao thông, để ngoài vạch vôi hay bên kia đường là đỗ liều. Hè phố thì có người bán hàng nước hoặc phở. Thậm chí cổng 65 Nguyễn Du của Hội Nhà văn không có lối vào vì Sở Giao thông công chính đã vạch đường để giữ xe thu tiền mà không có bất cứ lối nào lên vỉa hè ở chính cái cổng ấy. Sự việc vẫn diễn ra như thế, nhưng bất ngờ có một hôm có đoàn các anh công an đi một vệt, phạt từng xe ô tô một, phạt bà bán phở, bà hàng nước, ông cắt tóc chiếm dụng vỉa hè. Nhưng khi các anh công an đi rồi, thì đâu lại hoàn đấy. Và cuộc sống lại bình thường, bởi vì nó vẫn như thế cơ mà. Thế thì, hiện thực cuộc sống đang là nơi làm tiền của công an, là nguồn thu cho ngân sách. Và cái hiện thực ngổn ngang ấy đang làm cho đô thị Hà Nội càng nhếch nhác. Bởi vì các nhà quản lý đô thị và cả bộ máy sức mạnh đang là người thu tiền trên sự xuống cấp xấu xa của chính đô thị mình. Tôi đã ngồi ở một vỉa hè Đà Nẵng và quan sát xem có chuyện tương tự như vậy không? Có lẽ là không có. Một thành phố không có ăn xin, không có rác, lái xe không phải sợ công an, vậy thì thành phố ấy đang sinh lợi trên sự đàng hoàng to đẹp của mình. Phải không anh?

            Chúc anh khỏe và chơi web vui vẻ.

 

smiletuan Gửi lúc : (29/11/2012 | 09:53:00)
Thêm một dấu ấn hay về ông Nguyễn Bá Thanh
Người tài là người xoay chuyển được tình thế, và có hàng nghìn người giúp việc.
Trên người tài là người có hàng trăm cộng sự và khi họ ra đi, họ chọn được người thay thế mình, và sự nghiệp vẫn phát triển, văn hóa vẫn thăng hoa.
Cầu mong ông Nguyễn Bá Thanh làm được việc đó. Cầu mong hiến pháp mới cũng làm được việc đó.
Vũ Xuân Tửu Gửi lúc : (22/09/2012 | 10:06:00)
- Tôi có đọc ở đâu đó một bài viết về giao thông ở nước ngoài, một nước chậm phát triển như kiểu Việt Nam, nhưng khi dân phạm luật giao thông, cảnh sát giao thông không phạt tiền, mà nhắc nhở, rồi đưa cho một tờ giấy có ghi điều luật đó cho dân về tự học, rút kinh nghiệm. Tôi nghi nghi, sao có thứ chính quyền tốt thế, tốt đến nghi ngờ?! Có khi nước họ không có khẩu hiệu sáo bã, kiểu như: của dân, do dân, vì dân; mà họ thể hiện bằng hành động thực tế.
- Tôi có được đọc bản hồi ký Làm người là khó, của ông Đoàn Duy Thành và rất cảm phục. Nay đọc bài của nhà văn Nguyễn Xuân Hưng, về ông Nguyễn Bá Thanh (Đà nẵng), thấy nhiều điều lạ ở xứ ta. Vậy tại sao không bầu ông ấy giữ cương vị điều hành đất nước cho dân nhờ, còn được ngày nào hay ngày ấy...
Vũ Xuân Tửu
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : bcpo9h
Bài viết khác