Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
nguyen thi cam tu

Bình Luận của nguyen thi cam tu

cac ban oi cho minh y kien nhe. vay tom lai ho quy ly duoc xem la anh hung hay gian hung
ngo panbin

Bình Luận của ngo panbin

Khong nen binh luan danh gia cac nhan vat LSU mot cach thieu cong bang. Troi sinh ra kg ai hoan hao. trong cuoc song ban muon lam viec that hoan hao, nhung co bao gio dc kg ??? vi vay lanh dao mot dat nuoc khi hanh dong trong cong viec, cung nhu trong cuoc song doi thuong,co gi do kg hoan toan tot dep,co gi do khiem khuyet, ta cung nen luong thu ma bo qua cho ho, mien sao cai sai kg qua tram trong,cai lam duoc cho dantoc datnuoc de den hom nay chung ta va lich su thay dung dan co ich la qua tot va can ton vinh cong lao do, Cac ban co khi nao lam lanhdao va dung truoc ap luc that su lon chua ??? khi do kho tam lam ban oi !!!
Vay nen toi khuyen cac ban can co tam long bao dung hon voi nhung ai da lam tot, co loi cho datnuoc va dantoc vietnam, Du ho khac ching kien khac quan diem chinh tri voi ban, nhung chung ta la mot me auco sinh tram trung, va bo coi viet nam neu co mat vao tay ke nuoc ngoai ban chac se that su dau long. Con ben CSan hay QGia thi suy cho cung chua phai qua toi te, truoc het la cham dut chien tranh som di doi voi dong nghia su giet choc nhau giua nguoi vnam voi nhau kg con,dat nuoc ven toan mot moi, dan bot lam than kho cuc,Phia ban va phia toi, tat ca la conrongchautien,
Toi kg quan trong cai ten, CN CSan, CN MACLENIN hay chu nghia nao nao di nua, nhung dem lai dieu tot cho dongbao datnuoc vnam la dc, CN nao cung vay neu kg dclongdan, ban kg can thucday kg can dautranh ma tu no cung sup do va dongbao trong nuoc se lam viec do,
Phan Văn Hoàng

Bình Luận của Phan Văn Hoàng

Xin góp hai ý :
1- Tên tờ báo là NÔNG CỔ MÍN ĐÀM (nghĩa : uống trà nói chuyên làm nông và buôn bán). Không phải MÍM ĐÀM.
MÍNH là trà non. Cụ Huỳnh Thúc Kháng có bút hiệu MÍNH VIÊN (vườn trà non)
Người Nam Bộ phát âm -IN thành -INH, nên viết MÍNH thành MÍN.
2- Người ĐỒNG BANG là người cùng chung một nước.
Do người Nam Bộ phát âm lẫn lộn -AN và -ANG nén viết sai đồng BANG thành đồng BAN.
PVH
Bút Ký
Câu chuyện vô thường, bài 2: Hình bóng Nho giáo

 Nói như ông Hà Phạm Phú, rất hiếm có hình thái xã hội nào trên thế giới ít biến đổi như xã hội Trung Quốc. Con người từ Tần Hán cho đến Thanh, đến thời cận đại, chỉ có quần áo là khác, còn hành vi nhân bản, nếp ăn ở, suy nghĩ, cho đến chữ nghĩa, đều gần như cũ. Cũng lại thấy vai trò của Nho giáo. Trước kia là một thiên tử, ngày nay là một ông Mao và ai đó kế thừa. Một người chưa có đủ bóng lớn như Mao thì tập thể bẩy người, chín người. Xử thế về cơ bản không có gì khác.

Có một nhận định rất chính xác là, các nền văn minh cổ đại trên thế giới đều đã bị tuyệt diệt. Văn minh Hy-La, văn minh Ai Cập, Ăng Co hay In-ca, đều đã biến mất. Hậu duệ của những con người thời ấy ngày nay chỉ có thể nghiền ngẫm, suy tư về ánh hào quang đã mất của tổ tiên. Chỉ duy nhất có văn minh cổ đại Trung Hoa là còn lại. Con cháu của Tô Tần, Trương Nghi tiếp tục làm quân sư. Con cháu Tào, Lưu, Ngô tiếp tục dền dứ, lúc nào cũng sẵn sàng ra quân chinh phạt. Thứ chữ Hán, tiếng Hán vẫn là chữ viết và ngôn ngữ phổ thông… Đó là sức mạnh văn hóa ghê gớm của Trung Quốc. Yếu tố thành bại quan trọng trong quá trình phát triển của Trung Quốc bao giờ cũng là yếu tố con người, người Trung Quốc coi đó là sức mạnh mềm, thật không phải là nói quá.

 1.Ánh sáng chói chang

Tam Quốc diễn nghĩa có hay không? Hỏi như vậy, chắc khá nhiều người cho rằng người hỏi chả hiểu gì. Tam Quốc diễn nghĩa là một trong 4 bộ sách bất tử của nền văn hóa Trung Quốc và là bộ sách đỉnh nhất. Với Việt Nam, Tam Quốc diễn nghĩa trở thành sách gối đầu giường của cả tầng lớp tinh hoa lẫn bình dân. Điển tích Tam Quốc, nhân vật Tam Quốc hầu như ăn vào máu người Việt. Những mưu mô, thủ đoạn trong Tam Quốc được đưa ra bình luận, mổ xẻ, đến nỗi sách viết về Tam Quốc diễn nghĩa còn nhiều gấp hàng nghìn lần số trang của chính bộ sách này.

Ở Việt Nam còn như thế, thì ở Trung Quốc, Tam Quốc diễn nghĩa dĩ nhiên là một phần máu thịt trong đời sống văn hóa tinh thần của họ. Hiếm có tác phẩm nào trên thế giới có vị thế như vậy, có chăng chỉ có thiên "Nghìn lẻ một đêm".

Ông Trần Đình Hiến kể, trong cuộc đời ngoại giao của ông, ông đã gặp khá nhiều anh phương Tây. Và phần lớn trong số họ nhún vai, không thể hiểu nổi người Trung Quốc (dĩ nhiên, và cả Việt Nam) lại có thể say mê một bộ sách đồi bại như vậy. Đó là cuốn sách miêu tả say mê dục vọng con người. Con người trong Tam Quốc đầy mưu mô, thủ đoạn. Tính mạng con người như cỏ rác. Chỉ nhằm phục vụ ý định vớ vẩn nào đó của một ông tướng, cũng có thể giết hàng trăm thủ cấp. Không có mục tiêu nhân văn trong cái bộ sách đồ sộ vĩ đại đó. Thật lạ lùng là bao nhiêu thế hệ người Việt, say mê ca tụng Tam Quốc, vận nó vào mình, mà không khác hành động bản năng, làm mà không biết mình làm gì. Con cá bơi trong nước có thấy quá ướt át không? Không bao giờ. Chỉ khi con mèo ngồi trên bờ giật mình ngạc nhiên, sao con cá lại sống như thế, trong nước và không biết đến khí trời. Người Trung Hoa và Việt Nam cũng như con cá, ngàn năm hít thở không khí Nho giáo, cho dù thời cuộc hơn 100 năm nay đã khác, tư tưởng Nho giáo tiếp tục nhấn chìm con người và xã hội Việt Nam. Không còn cảnh miệt mài học sách thánh hiền, chữ thánh hiền, nhưng cái biến thể của nó, biểu hiện của nó vẫn còn đậm đặc. Say mê Tam Quốc, thần thánh hóa Tam Quốc cũng là một hội chứng mê lú vì Nho giáo mà không biết. Tiếc thay làm sóng Hán hóa đang biểu hiện rất nhiều, không khác đọc Tam Quốc là mấy.  

Khi người ta mê đắm, thì thường người ta không biết mình mê. Người Việt hàng trăm năm đã ăn phải bả cái Hán giáo, tự biến thành Hán, thì dù cho đã dừng ăn thuốc mê, vẫn tiếp tục bị mê một thời gian dài nữa chăng?.

Tam Quốc diễn nghĩa là tác phẩm văn học phát ra thứ ánh sáng chói lóa của Nho giáo. Khi đi trong đó, nhìn chỗ nào cũng thấy sáng chói, mà không biết còn có thứ màn đêm ở cuối chân trời. Có nhà văn nói ra là chống Trung Quốc, nhưng bất kể cái gì cũng vận dụng Tam Quốc để luận giải một cách say mê.

Nếu lùi lại một chút, như con mèo ngồi trên bờ đọc tác phẩm của con cá, tỉnh táo một chút, thì thấy đúng như vậy. Đó là một bộ sách thực hành Nho giáo. Toàn bộ tâm tư tình cảm, hành vi ứng xử của các nhân vật đều vùng vẫy trong cái bể Nho giáo của thời Nho mới chiếm được địa vị chúa tể trong xã hội. Con người nhân vật Tam Quốc là một xã hội Nho giáo tiêu biểu, điển hình. Cái hay cái dở của Nho giáo hiện rõ mồn một. Sự tráo trở và lừa bịp của đạo Nho cũng hiện ra ở đó. Quân thần ư? Quân thần đến nỗi Tào Tháo ép vua, cho vua nào được sống thì cho. Kết nghĩa vườn đào ư? Sao lại có cái kiểu nghĩa huynh đệ cực đoan đến nỗi vứt đi sự nghiệp chỉ để thỏa mãn ý nghĩ báo thù. Khổng Minh là tiêu biểu của trí tuệ bác học, là quân sư tuyệt vời, cũng là con người Nho gia u mê điển hình. Khi ông ta làm quân sư thi hành cái đạo của mình, nhờ uốn ba tấc lưỡi ký sinh vào vua, thì ông ta rất sáng láng. Khi làm Thừa tướng, tự mình trở thành một bộ phận của bộ máy cai trị, thì ra lại thua Tư Mã Ý về chiến lược lẫn chiến thuật.

Trong các nhân vật Tam Quốc, Tào Tháo là tiêu biểu nhất của con người gian giảo, mưu lược, thông thái pha lẫn tàn ác, bỉ ổi. Tào Tháo là Đại hảo hán, người Hán tiêu biểu mà người Trung Hoa say mê nhất. Một đạo diễn điện ảnh ở Hoàng Điếm, kinh đô điện ảnh Trung Quốc, nói với tôi rằng, riêng phim về Tào Tháo, cho đến năm 2009, đã có đến hơn 70 phim. Anh chàng đạo diễn kia cũng nói với tôi, nếu thăm dò dư luận Trung Quốc, thì Tần Thủy Hoàng và Tào Tháo là hai anh hùng dân tộc được ngưỡng mộ nhất. Người hiện đại được ngưỡng mộ nhất là ai? Tôi hỏi anh ta, anh ta trả lời không đắn đo: Đặng Nhỏ. Đó là ai? Là Đặng Tiểu Bình.

Có lẽ, lịch sử Trung Quốc sẽ ghi tên Đặng Tiểu Bình kế tục Tào Tháo về mức độ gian hùng. Đặng lên voi xuống chó, lên tột đỉnh quyền lực, rồi bị cách đến dân đen, cuối cùng ông ta vẫn có cách để đi vào lịch sử Trung Quốc. Ông Trần Đình Hiến kể, Sau cách mạng văn hóa, khi Đặng được phục hồi, dưới một người, trên gần tỷ người, thì Đại sứ quán Việt Nam là nơi ông ta đến đầu tiên, nói một câu ẫm ờ, cám ơn úp mở. Có lẽ chính vì lẽ đó mà nhiều người không ngờ chính ông ta ra lệnh đánh Việt Nam năm 1979, rồi chính con người đó ra lệnh đàn áp ở Thiên An Môn. Sau Tào Tháo, triều đình nhà Hán đã đổi khác; sau Đặng Tiểu Bình, nước Trung Hoa cũng lột xác là một nước Trung Hoa khác. (đoạn bị cắt)

 2. Bóng tối.

Tôi tán thành ý kiến ông Trần Đình Hiến, bóc tách lớp lang tư tưởng Nho giáo, thì thấy rõ ràng Nho giáo là bộ hệ thống giáo lý tự lừa dối mình và lừa dối người khác. Nói thế này thật phạm thượng. Bao nhiêu thế hệ ông cha ta đã là Nho gia cơ mà. Nhưng quả thật có thế. Sự dối trá khoác cái áo màu mè là tôn ty trật tự, là lễ nghĩa. Tệ nhất là khi ông thày Nho giáo nói những câu rời rạc, nói trong hoan cảnh cụ thể, nó có ý nghĩa cụ thể trong ứng xử cha con, thày trò, nhưng rồi sau này nó là kim chỉ nam cho mọi cách ứng xử trong xã hôi.

Một trong luận điểm lạ lùng của nhà Nho là quan niệm về con người. Nho giáo coi con người chia làm 3 hạng: thánh nhân, quân tử và tiểu nhân. Phụ nữ xếp vào hạng nào? 50% nhân loại được Nho gia coi như hạng tiểu nhân.

Một câu nói của Khổng tử "duy nữ tử dữ tiểu nhân vi nan dưỡng dã" khiến cho hậu thế bàn mãi xem Khổng tử nói về phụ nữ nói chung, hay chỉ là nữ ở dạng tỳ thiếp, nói về tiểu nhân theo nghĩa đối ngược với quân tử hay là trẻ nhỏ. Không cần bàn luận về "Tử viết" (Khổng tử nói) đó, hãy xem tôn ty trận tự xã hội mà Khổng giáo dạy cho vào nền nếp, phép tắc, bằng các cặp quan hệ: Quân thần, phu phụ, phụ tử (vua tôi, vợ chồng, cha con) thì thấy người đàn ông có thể tìm kiếm khoái lạc khi anh ta làm cha, làm chồng, còn khi đã làm vua thì thôi rồi khỏi bàn làm gì. Che đậy cái mục đích tìm kiếm và hưởng lạc bằng những nghi lễ, phép tắc tưởng như trời sinh ra thế. Bóc tách những lời dạy rời rạc của Khổng tử, có không ít nội dung mâu thuẫn, lại được giải thích đầy ngụy biện. Ví dụ: Một trong nội dung của đức Nhân (cùng với Nghĩa, Lễ, Trí, Tín là 5 đức của người quân tử) là câu nói nổi tiếng: Kỷ sử bất dục, vật thi ư nhân. Điều gì mình không muốn, thì đừng nên thi hành với người khác. Nhưng nếu như vậy thì làm sao có quân thần, phu phụ. Nếu anh không muốn áp chế người khác, sao anh lại "trị quốc" và "bình thiên hạ". Nếu không có lúc nhúc đám dân đen chỉ yên phận tu thân thì sao các anh ở đỉnh cao chót vót mà "trị" với "bình".

Một cột trụ quan trọng dạy người xử thế là "trung chính". Mạnh tử chỉ có câu đó phát triển thành một "luận án" mang tên "Trung Dung". Nhưng có lẽ đó là ước mơ của Khổng tử thổi vào Nho giáo nguyên thủy mà thôi.

Trung Quốc ngày nay ra sức truyền bá Khổng tử, coi đó là truyền bá văn hóa Trung Quốc, một loại sức mạnh mềm. Quan sát điều đó, lại càng thấy nhận định "Nho giáo là Hán giáo" của ông Trần Đình Hiến là chính xác.

Do những mâu thuẫn che đậy dục vọng, mà khi nói đến đàn bà, là chỗ yếu nhất của Nho gia. Người quân tử Tàu xông pha chiến trận, bách chiến bách thắng, nhưng có khi chết trên giường đệm của đàn bà. Lịch sử Trung Quốc chẳng đã có bao nhiêu Võ Tắc Thiên, Từ Hi Thái hậu, cho đến Giang Thanh khuynh đảo xã hội đó thôi.

Văn học Trung Quốc có một dòng văn học thú vị, đó là văn học son phấn. Nhà văn Trung Hoa dĩ nhiên hiểu rõ con người dân tộc họ. Mang son phấn đàn bà làm tấm gương soi, người quân tử sẽ hiện ra rõ mồn một cái bản chất người của anh ta. Hồng Lâu Mộng, Thủy Hử đều có những trang tuyệt kỹ miêu tả son phấn đàn bà. Tam Quốc diễn nghĩa đầy gươm đao, nhưng thấp thoáng cũng có những bóng giai nhân như Điêu Thuyền, Kiều nữ. Những tác phẩm như Kim Bình Mai, Nhục Bồ Đoàn cũng khiến độc giả say mê. Và, một trăm phần trăm các bậc Nho gia đều trở nên hề trước đàn bà. Nói cách khác, nếu như Nho giáo làm ánh sáng soi đường cho sự chinh phạt của người quân tử, thì bóng đêm của Nho gia chính là son phấn đàn bà.

Một bộ giáo lý như vậy là một bộ giáo lý hủ bại, con người mà giáo lý ấy hướng tới, hình ảnh quân tử chỉ đẹp khi được tô vẽ bằng xảo ngữ, thực chất là giả dối, phi nhân tính.

Tuy nhiên, cũng như một cái cây, nói quật đổ nó thì nói, mà quật được đổ cũng không dễ. Nó đổ rồi thì bật rễ, cây cành làm tan hoang một vùng, bóng rợp của nó vốn dĩ che nắng, nay để lại một khoảng trống vắng. Bóng rợp của nó mất, nhưng cái bóng trong tâm hồn con người vẫn còn.

Nhật Bản, Hàn Quốc đã ứng xử thế nào với Nho giáo của họ, chắc không khó kiếm tài liệu nói về điều đó. Nho giáo cũng có cái hay, đó là dạy người ta tu thân, tề gia. Những quốc gia có truyền thống Nho giáo rất có lợi khi tổ chức xã hội khi có minh quân. Nhưng nếu có hôn quân thì mặt trái Nho giáo bắt đầu phát tác. Diễn dịch hủ Nho hay chân Nho lúc đó chỉ là tương đối. Một nền Nho giáo thịnh hành, được gọi là chân Nho, khiến cho xã hội Việt Nam thời Lê Trung hưng hèn yếu, phụ thuộc nặng nề vào Trung Quốc.

 3. Nỗi niềm bi phẫn Nguyễn.

Nhà Nguyễn sau khi đánh thắng triều đình Tây Sơn, thống nhất đất nước, phải giải một bài toán khó. Đó là sự có mặt của các viên quan mũi lõ người Pháp. Nếu đọc sử liệu, mới biết triều Gia Long có bao nhiêu quan Tây mang hàm nhất phẩm, nhị phẩm. Như vậy, thời kỳ đầu triều Nguyễn, có một không gian mới đối với khái niệm "thiên hạ", trước kia thiên hạ là Trung Quốc, đến lúc đó, thiên hạ hóa ra rộng lớn hơn nhiều.

Thực ra, có một đoạn lịch sử 200 năm người Việt Nam biết rất ít, đó là thời kỳ các chúa Nguyễn. Nguyễn Hoàng vào Nam lần cuối năm 1598 rồi không ra Thăng Long nữa. Cho đến năm 1621, lãnh thổ các chúa Nguyễn mới mở đến Phú Yên. Rồi hai đời chúa sau thì gần như đã đến cửa ngõ Đồng Nai. Thời kỳ chúa Nguyễn Hoàng và Nguyễn Phúc Nguyên là thời kỳ cực thịnh của Đàng Trong, khi đó, người Bồ, người Hà Lan đã đặt chân đến Đàng Trong truyền giáo, giao thương. Tôi đã viết cuốn tiểu thuyết "An lạc dưới trời" mô tả giai đoạn này.

Các chúa Nguyễn cai trị làm cho Đàng Trong hùng mạnh đến đời chúa Nguyễn Phúc Lan, Nguyễn Phúc Tần. Một trận hải chiến năm 1643, mà các chúa Nguyễn đánh thắng hải quân Hà Lan, khiến cho người Hà Lan từ đó không bao giờ ảnh hưởng đến Đàng Trong được nữa.

Như vậy, để cho Gia Long lên ngôi được năm 1802, hay tính đến 1788 khi Quang Trung lên ngôi, thì các đời chúa Nguyễn đã có 190 năm hùng cứ Đàng Trong. Nói hùng cứ không phải là ngoa ngôn. Vì đó là một quốc gia thật sự, có triều đình riêng, có quân đội riêng (mạnh), nền kinh tế riêng (giàu có). Quân đội 4 đời chúa Nguyễn ban đầu là một quân đội, ngoài biển thì đánh thắng phương Tây, phía Bắc cự với nhà Trịnh, phía Nam mở mang bờ cõi. Tại sao thời kỳ đó các chúa Nguyễn lại làm được như vậy. Về mặt kinh tế, chúa Nguyễn tạo dựng một cơ chế mà ngày nay gọi là "cơ chế mở cửa", buôn bán bình đẳng với ngoại bang. Và, có điều này, hầu như ít có học giả nào nghiên cứu, hệ thống khoa cử, trường ốc của các chúa Nguyễn có phải dập khuôn hoàn toàn Đàng Ngoài không? Có lẽ không phải. Điển hình là câu chuyện Đào Duy Từ. Trong khi hệ thống thi cử Nho giáo chặt chẽ phía Bắc không dung, thì Duy Từ được thi thố tài năng ở phía Nam. Những giai thoại về tiến cử Đào Duy Từ chủ yếu là do sau này đơm đặt. Tuy nhiên, không ai có thể phủ nhận các chúa Nguyễn không coi trọng nặng về các giáo lý Nho giáo, mà chú trọng mang Phật giáo để giáo hóa dân chúng mới theo về, từ một nền văn hóa khác, vốn có ở bản địa.

Đến đây, tôi lại thấy một mẫu số chung giữa các chúa Nguyễn với thời nhà Lý, đó là một thời kỳ Nho giáo mất địa vị độc tôn, thời kỳ đa dạng tư tưởng, quay về tìm kiếm hệ tư tưởng có tính bản địa. Và, đó là một thời kỳ dân tộc hùng cường.

Sau này, các chúa Nguyễn về sau ngày càng có chân đứng vững trên phần đất mới, thì càng có ý thức xây dựng triều chính cho bề thế như Đàng Ngoài, như Trung Quốc. Hệ thống khoa cử Nho giáo bắt đầu kiện toàn, cũng là lúc triều chính bắt đầu có tham nhũng, dân bị bỏ rơi điêu linh. Và đó là điều kiện tất yếu phát sinh ra phong trào Tây Sơn.

Ngày nay, cứ nói đến Nhà Nguyễn là phần lớn người ta nghĩ ngay bắt đầu từ Gia Long 1802. Hơn 200 năm tổ tiên nhà Nguyễn là các chúa Nguyễn thật hiển hách, rồi Gia Long mới thừa hưởng một giang sơn như thế chứ. Gia Long cũng có bài học của cha ông là dựa vào ngoại bang để xây dựng quân đội mạnh, nhưng cách ứng xử với văn hóa để trị quốc của các vua Nguyễn thì thấp xa một trời một vực so với các chúa Nguyễn tổ tiên.

 Ở đây lại thấy lại một hiện tượng lịch sử, đó là khi Quang Trung là một đội quân nông dân, mới xây dựng triều đình hoàn toàn không có Nho gia, hoặc dựa rất ít vào Nho gia, thì bách chiến bách thắng, mà sau đó đóng đô ở Phú Xuân, triều chính đề huề, thì lại đại bại. Quang Trung đánh thắng nhà Lê mục nát, nhưng rồi lại xây dựng chính quyền giống như Lê. Gia Long hậu duệ của các chúa Nguyễn, đánh thắng Quang Trung, lại xây dựng một triều đình theo khuôn mẫu cũ. Vua Gia Long tiếp tục truyền thống xưng chư hầu với nhà Thanh đang suy yếu và dứt khoát quay lại với Nho giáo. Đó là sự lực chọn tiềm ẩn nguy hiểm mà hậu quả sau này các vua Nguyễn mắc vào một nỗi bi phẫn lớn.

Có thể vua Gia Long không thể có lựa chọn như các chúa Nguyễn Hoàng, Nguyễn Phúc Nguyên là bang giao, buôn bán bình đẳng với nước Pháp. Bởi vì chính nước Pháp giờ đây đang ở thế chủ nợ, nhiều người Pháp làm quan lớn ở triều đình. Nỗi lo sợ bị mất quyền trước người Pháp, khiến cho vua Gia Long, sau đó là Minh Mạng, đã có những cố gắng khoanh hẹp phạm vi ảnh hưởng của các viên quan đó, cho họ thuần túy bổng lộc kinh tế. Theo các ghi chép của một số giáo sĩ thời bấy giờ, sự nghi kị phương Tây vẫn thường trực trong triều đình. Đến thời Minh Mạng, một làn sóng bài Gia Tô giáo xảy ra. Nhà vua đã đào hố ngăn cách với văn hóa phương Tây.

Mặc dù một cuộc cách mạng mới về chữ viết vẫn âm thầm diễn ra trong phạm vi khu vực truyền giáo, triều đình vẫn không đánh giá đúng về tầm quan trọng của những thay đổi văn hóa ảnh hưởng đến sự phát triển đất nước. Ngay trước khi quân Pháp hoàn tất hành động xâm chiếm đất, áp đặt chế độ bảo hộ, biến nhà vua thành bù nhìn, thì mọi sự đổi thay từ văn hóa đến kinh tế diễn ra đã hầu như ngoài tầm "trị quốc" của triều đình.

Nhà Nguyễn có mối quan hệ rất tốt với nước Pháp, trong khoảng mấy chục năm từ Gia Long, đến Minh Mạng, Thiệu Trị, tức là trước đời vua Tự Đức, ba đời vua đầu triều đó hoàn toàn có thể canh tân đất nước, phát triển công nghệ và giao thương với phần "thiên hạ mới". Lo sợ mất thần dân bị cuốn vào thứ "đạo Chúa Trời", mà nhà Nguyễn dứt khoát trở về với Nho giáo truyền thống, để đối kháng với tôn giáo Phương Tây. Nhà Nguyễn đã phạm phải một sai lầm nghiêm trọng, nhầm lẫn truyền thống tư tưởng và truyền thống dân tộc.  Nhà Nguyễn chỉ lo giữ ngôi vị, lo sợ mất ngôi vị, hơn là tính toán để cho dân giàu nước mạnh. Khi đó, Gia Long hoặc Minh Mạng đủ thông tin để biết rằng, thiên hạ cũ hay thiên hạ mới mạnh hơn.

Quay về Nho tức là hướng về quan hệ bang giao truyền thống với nhà Thanh và tiếp tục là một bản sao mờ nhạt của nhà Thanh. Thử lần giở sử liệu mà xem, nhà Thanh suy yếu như thế nào thì nhà Nguyễn suy vi như thế ấy. Chỉ đến khi nước Pháp thiết lập quyền cai trị trên đất đai của các vua Nguyễn, thì mối quan hệ với nhà Thanh mới chấm dứt.

Rõ ràng, những tính toán lựa chọn Nho giáo của các vua Nguyễn không thể phù hợp với làn sóng phát triển của thời đại. Gần một thế kỷ từ Tự Đức đến Bảo Đại, là một thế kỷ loạn ly, khủng hoảng về tư tưởng. Cuộc chuyển biến chữ tượng hình sang chữ Latinh, bỏ bút lông sang bút sắt, bỏ truyền thống Đại Việt, hướng về nước Mẹ Đại Pháp, là một cuộc đứt gãy ghê gớm về văn hóa. Chống lại xu hướng thời đại, không bằng chủ động đón lấy làn sóng mới, có cách để chung sống với nó. Các chúa Nguyễn đã  làm thế. Chống lại xu thế mới, quay lại với hệ tư tưởng cổ hủ, các vua Nguyễn đã làm và để lại hậu quả lớn trong lịch sử dân tộc.

Một thời gian dài, sử sách hiện đại hầu như nói xấu về triều Nguyễn, coi những nhân vật của triều đại này như những kẻ bán nước, đầu hàng Pháp. Đó dứt khoát là một nhận định không đúng. Để cho đất nước suy yếu, rơi vào ách đô hộ của thực dân Pháp, nhà Nguyễn chịu trách nhiệm lớn, nhưng đó là hậu quả từ lựa chọn văn hóa sai lầm của các vua Nguyễn. Nhà Nguyễn đã phải trả giá cho những sai lầm đó. Ban đầu, khi Pháp mới xâm lược, nhà vua và các quan lại cũng hăng hái chống Pháp, nhưng dĩ nhiên là không nổi. Nhà vua Tự Đức buộc phải chọn con đường tồn tại. Đó không chỉ là bi kịch như Mạc. Nhà Nguyễn vẫn còn, đủ để làm bù nhìn mà thôi. Đó là nỗi bi phẫn lớn. Bi phẫn của một triều đại, nỗi khổ cực và hèn yếu của cả một dân tộc.

 

Vũ Xuân Tửu Gửi lúc : (11/01/2013 | 07:42:00)
Nhân bài viết của nhà văn Nguyễn Xuân Hưng, có nói đến ảnh hưởng của văn học Trung Quốc đối với Việt Nam, tôi xin dẫn ra 1 số bài hát Lượn Cọi của dân tộc Tày, Nùng đều có nhắc đến Lưu Bang, Tiêu Hà, Trương Lương (Hán):
Lưu Bang tạo nên đường vào bản/ Minh Nga đặt ra bạn yêu thương; hoặc là, Dây buộc màu hoa đào tựa gương/ Sánh tày ngựa Trương Lương phò Hán; hoặc là, Lợp nên hình nhạn phương uyên ương/ Sánh tày nhà Trương lương, Tiêu Hà; còn nhắc đến Lưu, Quan, Trương thì khá nhiều, vv...
Vũ Xuân Tửu
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : oa6x0c
Bài viết khác