Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Nguyễn Việt Long

Bình Luận của Nguyễn Việt Long

Chi tiết "lãnh tụ cực tả của QDĐ Lão Trung Kha" viết sai tên. Chả có ai là Lão Trung Kha cả, đó là Liêu Trọng Khải.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Tôi không rành về Lào cho lắm, nên không hiểu chế độ hiện nay như thế nào? Nhiều khi thấy thế giới phân loại các quốc gia cộng sản gồm 5 nước thì có Lào. Nhưng đọc một văn bản của Cộng đồng Châu Âu xếp loại 4 nước cộng sản trên thế giới thì không có Lào. Nghe nói, họ còn bảo VN sang mà đưa tượng ông cụ về đi.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
nguyen thi cam tu

Bình Luận của nguyen thi cam tu

cac ban oi cho minh y kien nhe. vay tom lai ho quy ly duoc xem la anh hung hay gian hung
Bút Ký
Câu chuyện vô thường. Bài 3: Di sản Trúc Lâm.

Nói về Nho giáo, với ý kiến của ông Trần Đình Hiến, tôi bị một số ý kiến phản đối. Vậy cái gì là dân tộc? Việt Nam giáo ở đâu. Nếu nói đơn giản đó là Trúc Lâm thiền phái, thì hoặc là bị chê là "biết rồi, khổ lắm, nói mãi", hoặc là cho rằng võ đoán.

          Tôi không phải nhà lý luận, nhắc lại, đây chỉ là tâm sự, kiến giải của một nhà văn. Đây là câu chuyện về di sản Trúc Lâm, chứ không phải bài thuyết về Thiền Trúc Lâm. Dĩ nhiên, tôi phải nói lớp lang một chút.

 1.    Phật giáo đồng hành cùng với dân tộc.

Nói về Phật giáo, vừa dễ vừa khó. Dễ là vì thời đại ngày nay, các bộ kinh có thể xếp cao như núi. Nhiều giáo trình lịch sử Phật giáo ra đời. Có thể có vài chục tiết học Phật pháp để hiểu rõ lịch sử tư tưởng các Thiền phái, hay tìm hiểu lịch sử đạo Phật ở Việt Nam… vân vân. Nhưng cũng khó nói về nó bằng một ít lời.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong một trước tác, có nói, kinh Phật chân truyền chính là bộ kinh không có chữ. Kế thừa tập quán ngữ lục thoại đầu, câu nói của Thiền sư Nhất Hạnh là tổng kết đúng đắn nhất về kinh Phật. Hay đó là cách diễn đạt khác đi của phương pháp truyền thừa Thiền học: Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật. Không có văn mẫu, không có tư tưởng mẫu, không có độc tôn tư tưởng, mà nhà Phật khuyên người tu hành muốn học Phật phải “phá chấp”, tức phá bỏ những thành kiến định sẵn (bất lập văn tự), làm cho đầu óc rỗng không (trực chỉ nhân tâm), mới có thể thu nhận chân lý được. Đầu óc anh đầy những tạp luận, thì còn có chỗ nào chứa cái gì hơn nữa (lý do giáo ngoại biệt truyền).

Nền giáo dục Việt Nam ngày nay có lẽ nên nghiền ngẫm 12 chữ phương châm đó của giáo dục của Phật giáo. Trường ốc hiện nay hình như làm ngược hoàn toàn phương châm đó.

 

 

Tư tưởng Phật giáo có quê hương ở Ấn Độ, nhưng đó không phải là Ấn Độ giáo. Tiếp thu Phật giáo, nhưng chưa có nước nào có nguy cơ bị Ấn Độ hóa, hay lệ thuộc vào Ấn Độ. Đó cũng vì Phật giáo không hướng đến xây dựng con người "Hảo Ấn".

Nghiên cứu cuộc đời con người dưới lát cắt “khổ”, Đức Phật từ tầng cao xã hội, là một Thái tử, đã tìm sự cứu khổ từ chính nội tâm con người. Đó là lý thuyết giải thoát của con người đau khổ trong xã hội. Có một sự so sánh thô mộc đối với đạo Thiên chúa, khi họ xem xét cuộc đời con người với tiên đề là lát cắt “tội”. Nếu như Phật tử sẵn sàng nhẫn chịu khổ để hướng thiện thoát khổ, thì con chiên lại sẵn sàng chấp nhận có tội để rửa tội. Kết quả sự hành đạo cho thấy xã hội Phật giáo và xã hội Thiên chúa giáo khác nhau như thế nào.

Phật giáo Đại thừa, giáo lý Phật giáo đã qua nhiều lần kết tập chỉnh sửa, tỏ ra khá hợp với đặc tính dân cư lúa nước ở phía Bắc nước ta. Cuộc sống cư dân lúa nước khác hẳn với cư dân du mục Bắc sông Trường Giang. Đất đai nhỏ bé, không có ý chinh phạt. Con người hồn nhiên nhi nhiên, không có động lực tu thân hay tề gia. Phật giáo quả thật đã tìm thấy mảnh đất màu mỡ để bén rễ. Sau này, cùng với sự Hán hóa của Nhà nước Trung Quốc, thì Thiền học Bồ Đề Đạt Ma lại thâm nhập vào nước ta, đó là làn sóng truyền giáo lần thứ hai, sau trào lưu truyền giáo trực tiếp từ Ấn Độ với trung tâm Luy Lâu hồi đầu Công nguyên. Các tông phải Thiền Nam Trung Quốc phát triển cực thịnh suốt một thiên niên kỷ, cũng là nơi phát tích văn hóa Bách Việt. Một khi tông phái Thiền truyền thừa có gốc từ Trung Quốc, nhưng Phật tử cũng không có nguy cơ bị Hán hóa. Đó là cái duyên vô lượng của Phật tử, khác hẳn Nho gia. Phật giáo cũng là một bộ triết thuyết dự trên căn bản duy vật trực quan, chứ không phải như Nho giáo dự trên cơ sở Âm dương ngũ hành duy tâm, kinh nghiệm.

Do có cái nhìn về dòng chảy Nho giáo, chính là dòng sông chuyên chở con thuyền Hán hóa, mà càng công nhận tính đúng đắn của mệnh đề “Phật giáo đồng hành cùng dân tộc”. Phật giáo trong suốt gần hai ngàn năm, là dây neo hòa nhập vào xã hội Đại Việt, nó giữ hồn cốt dân tộc, âm thầm níu giữ cái văn hóa bản địa khác với Hán. Phép vua cứ thi hành, mà lệ làng thì cứ giữ. Tôi có một bài viết về các tên Nôm làng Việt, đăng tạp chí Hồn Việt. Các tên Nôm có sức sống lạ kỳ qua cuộc Hán hóa hai nghìn năm, là vì các từ thuần Việt vẫn được mặc nhiên chấp nhận trong cuộc sống thực tế, còn tên chữ Hán Việt chỉ dùng trong văn tự của Nhà nước. Những Kẻ Mọc, Kẻ Cót, Kẻ Mơ… vẫn sống dai dẳng, mặc cho trên giấy là Nhân Mục, Yên Quyết, Bạch Mai… Đáng tiếc thay, biết đâu hai ngàn năm nay vẫn sống, mà thời đại chúng ta lại khai tử nó đi qua cách đặt tên đất, tên đường.

Phật giáo, từ chỗ đồng hành cùng dân tộc, nuôi dưỡng tâm linh con người, sống mềm mại trong dân chúng, rồi vụt trở thành dân tộc với hệ tư tưởng Trúc Lâm.

 2. Sợi dây tinh thần huyền bí.

Đến thế hệ tôi, lớn lên nhìn thấy chùa làng, đình làng. Trong chùa lại có ban thờ Trần triều. Phật và Thánh, rồi Mẫu cùng chung hưởng. Mà rất nhiều tượng Phật. Từ ông Hộ Pháp đến các Bồ Tát, đều thành Phật cả. Bố mẹ ông bà thì hàng ngày vẫn có thể ăn thịt cá, rồi ngày rằm mồng một lên chùa. Khi đẻ đứa trẻ khó nuôi thì “bán khoán” cho chùa. Lúc chết nhiều người di chúc con cháu “gửi tro lên chùa” để cho siêu thoát. Ngôi chùa là một yếu tố tâm linh tự nhiên của làng quê. Đó là một thứ tôn giáo kỳ lạ đầy sức sống của cư dân Việt.

Khi mới thống nhất đất nước, có một anh bạn tôi nhà theo đạo Phật (Tiểu thừa) lần đầu ra Bắc, anh ta không thể hiểu nổi tại sao Phật giáo miền Bắc lại “lung tung” thế. Chỉ thờ một ông Phật “chính hiệu” thôi chứ. Đã theo đạo Phật thì kiêng sát sinh chứ, đã là Phật tử thì phải lên chùa thờ Phật, đọc kinh chăm chỉ chứ. Đã ăn thịt chó thì sao lại lên chùa?

Có lần gặp một sinh viên học triết học năm cuối bậc đại học, tôi hỏi lại câu hỏi của Phật tử tiểu thừa: Vậy thì tại sao lại thế nhỉ? Nếu mang câu hỏi này hỏi các cử nhân của ta, có lẽ phần lớn là bối rối khó trả lời. Tôi lại hỏi, rốt cuộc, Thiền phái Trúc Lâm là gì, bây giờ tôi muốn nhìn thấy một Phật tử Trúc Lâm thì giới thiệu cho tôi, nó khác gì so với Thiền phái không Trúc Lâm? Câu trả lời là một mớ giáo lý lằng nhằng đọc từ giáo trình ra, nào là thống nhất ba thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường… Rồi cuối cùng anh ta chỉ tôi đến… Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt.

Thì ra, là người Việt mà hiểu con người Việt cũng không phải dễ. Có thế thì trong cộng đồng mới nảy nòi ra các nhà văn, nhà thơ. Họ không trả lời rành rẽ rằng thế nào là Việt, nhưng trong tâm hồn họ cảm nhận được mạch nguồn hồn dân tộc. Thật bất hạnh cho các dân tộc không có các nhà văn, nhà thơ lớn.

Về đề tài tâm hồn dân tộc, trong một số báo Tạp chí Phật học đã đăng bài của tôi, nhận định bản Quốc ca của Văn Cao có bố cục và âm hưởng của Bát Nhã Tâm Kinh. Trước đây, tôi có làm Tạp chí Nghiên cứu Phật học mấy năm cùng các Hòa thượng ở Chùa Quán Sứ, các hòa thượng hoàn toàn nhất trí với phát hiện này.

Bát Nhã Tâm Kinh là bộ kinh cổ nhất, đơn giản nhất, ngắn nhất trong lịch sử Phật giáo, nó kể câu chuyện về cuộc chuyện trò giữa ngài Bồ Tát Quán Tự Tại và Phật tử Xá Lợi Tử, rằng nên hành pháp tu Phật như thế nào. Bồ Tát Quán Tự Tại chỉ ra rằng, mọi hiện tượng đều là Không, Sắc tức là Không, Không tức là Sắc. Vì vậy mà nếu Phật tử thấu hiểu lẽ đó, thì Tâm thoát khỏi mọi ràng buộc, đạt cứu cánh Niết Bàn. Và cuối cùng, Ngài Quán Tự Tại khuyên một câu thần chú, bằng Phạn ngữ, dịch ra có nhịp điệu thôi thúc: Vượt qua, vượt qua bờ bên kia, hoàn toàn giác ngộ. Âm Hán Việt là: "Yết-đế , yết-đế , Ba-la yết-đế . Ba-la-tăng yết-đế Bồ-đề tát-bà-ha". Bản tiếng Pháp và Anh dịch: Đi lên, đi đến bờ bên kia, reo vui" (La tinh hóa: Gate gate, Pàragate, Pàrasaṃgate, Bodhi svàhà)

Nói không ngoa, toàn bộ giáo lý thực hành Phật pháp xoay quanh việc nhận chân "Sắc sắc, không không". Và bài Tâm kinh ra đời từ năm 100 trước Công nguyên là sách kinh vỡ lòng, căn bản của Phật tử. Điều khá ngạc nhiên là kết cấu của bản Quốc ca Việt Nam cũng tương tự như một bài Tâm kinh của thời đại mới. Sau khi trình bày hành khúc hành động của đoàn quân giải phóng, đập tan xiềng xích để xây đời mới, một kiểu giải thích cuộc đời này vì sao ta phải hành động, thì câu kết cũng vang lên giục giã "Tiến lên, tiến lên, nước non Việt Nam vững bền". Đó không khác câu thần chú bản Tâm kinh thời hiện đại của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Văn Cao đọc Tâm kinh hay không không còn quan trọng. Điều hay là bài Tiến quân ca có sức sống lâu bền. Không nói ra lời, mà ai cũng thấy nó quen thuộc, như có sợi dây tinh thần sâu xa liên kết một đoàn tín đồ. Điều quan trọng là bài Tiến quân ca cũng kêu gọi người ta xây đắp một lý tưởng, cứu cánh "nước non vững bền" như một thể Niết bàn thời đại. Ai cũng thấy Tiến quân ca có vẻ gì đó quen thuộc, thôi thúc, hùng tráng mà thâm trầm. Đó là âm hưởng chính yếu của Bát Nhã tâm kinh đã sống hơn 2100 năm nay.

 

3.    Phật giáo trước Trúc Lâm.

Tuy rằng Phật giáo Đại thừa có vẻ là tín ngưỡng phù hợp với cư dân lúa nước ở đồng bằng sông Hồng, nhưng tự nó cũng phải đổi mới để vượt qua thử thách thời đại. Trước thời Lý Thánh tông, nhà chùa và triều đình phân biệt. Nhà tu hành và người làm quan khác nhau. Hẳn là khi xây dựng vương triều, nhà Lý bị đặt vào thế lựa chọn giáo lý làm hệ tư tưởng của triều đại, giữa Nho, Phật và Đạo. Cuối cùng, Lý Thánh tông chọn Phật. Từ Lý Thánh Tông, với Thiền phái Thảo Đường, ông quan có thể là Phật tử, nhà vua cũng là giáo chủ. Thảo Đường là Thiền phái hoàng gia ở Việt Nam. Một bước tiến đáng kể về lịch sử tư tưởng, khi mà Nhà nước công nhận thứ giáo lý bắt nguồn từ dân chúng, lấy đó làm hệ tư tưởng trị nước của mình.

Phật giáo từ chỗ sống trong dân chúng, đến lúc bắt rễ vào tầng lớp quý tộc, thì Nho giáo chắc chắn chỉ còn địa vị thứ yếu, con đường Hán hóa hẳn đã bị đẩy lùi xa lắm. Cái mà sau này gọi là "chủ nghĩa dân tộc" thì chắc phải là rực sáng ở thời Lý- Trần. Bởi vì lúc đó từ triều đình cho đến thần dân, đều chăm chú hướng đến tinh thần thuần Việt, không màng đến hình mẫu Hảo Hán của người Trung Quốc. Võ công hiển hách nhất chống Trung Hoa chính là xảy ra ở thời nhà Lý. Quân đội hùng mạnh nhất khu vực, kể cả so với nhà Tống, cũng chính là quân đội của nhà Lý.

Cho nên, khi học lịch sử, học sinh chỉ được học và nhớ một cách cơ học cuộc kháng chiến chống Tống, rồi đến chống Nguyên, chống Minh. Mà không biết nguyên nhân sâu xa của các võ công ấy cũng bắt nguồn từ văn hóa. Chỉ có văn hóa mới soi sáng được các hiện tượng lịch sử tưởng như rất giống nhau.

Cho đến nay, đã có hàng vạn cuốn sách nói về triều đại nhà Trần và cuộc kháng chiến chống quân Nguyên. Cũng có hàng vạn quyển sách nói về Vua Phật khai sinh Thiền phái Trúc Lâm. Nhưng có phải là Thiền phái này chỉ truyền từ Điều Ngự Giác Hoàng, đến Pháp Loa, rồi đến Huyền Quang là thất truyền hay không? Vậy thì các Thiền phái ở các chùa ngày nay, nào là Mật tông, nào là Tịnh Độ, nào là Lâm Tế… không còn là Trúc Lâm nữa ư? Thật bất ngờ, khi hỏi một nhà tu hành là chủ ngôi chùa rất hoành tráng, ông sư này cũng ngắc ngứ. Vậy thì Trúc Lâm Đại đầu đà chắc hẳn chưa thể siêu thoát được.

Nhà Trần chống Nguyên Mông thực sự là một cuộc kháng chiến, có giao chiến trên chiến trường cũng chỉ là chiến thuật, thắng bại từng trận trong một thế chiến lược là chống trả, giữ phẩm giá dân tộc, chủ quyền quốc gia, chứ không phải cuộc ra quân đối đầu, có tính toán vừa chinh phạt vừa giữ đất như thời Lý. Trong một cuộc kháng chiến như vậy, chỉ có đại đoàn kết dân tộc mới mong chiến thắng. Và, nhà Trần lại một lần nữa, và tiến xa hơn nhà Lý, chọn giáo lý Phật giáo làm sợi dây cố kết triều đình với thần dân, thực hiện đại đoàn kết toàn dân. Nếu như nhà Trần chọn Nho giáo, thì không bao giờ kháng cự nổi với Nguyên Mông. Hảo hán ở Trung Nguyên chẳng đã thua tan tác dưới vó ngựa quân Mông rồi đó sao, nói chi một sắc dân "giống như Hán". Sau này, khi cuộc kháng chiến ác liệt, tầng lớp Nho sĩ Thăng Long (tiêu biểu là Trần Ích Tắc) là đám người dễ đầu hàng nhất và thực tế đã đầu hàng. Nho sĩ thấm nhuần Nho giáo, vốn dĩ đã học làm Hảo hán, sẽ tìm thấy lý do bào chữa cho việc phản bội dân tộc, là đi theo tiếng gọi của đạo Thánh hiền. Xét cho cùng, triều đình phong kiến Việt Nam khi đã thấm nhuần Nho, thì không còn khả năng kháng cự cuộc chinh phạt của người Hán, kể cả văn và võ.

Thiền Thảo Đường thời Lý như thế nào? Phật tử hành đạo ra sao, nhà chùa là tu viện có dáng dấp khác ngày nay thế nào? Trong các sách về Phật giáo, rất nhiều lý luận mà rất ít mô tả thực tiễn. Nếu phải làm một bộ phim về Lý -Trần chắc rất khó mô tả cách hành đạo trước khi có Thiền Trúc Lâm. Viết một cuốn tiểu thuyết về Lý -Trần ư? Nếu chưa hiểu tinh thần Thiền Lý -Trần thì không thể viết. Một Hòa thượng có chức sắc ở chùa Quán Sứ đã nói với tôi, nhà văn hiện nay hiểu khác chúng tôi (vị hòa thượng này nói khéo, cách khác của nhận xét rằng các anh nhà văn chả hiểu gì) khi cho rằng Thái sư khai quốc thời Trần xử tội các cung nữ bằng cách cho họ lên giàn thiêu. Đó thật là xa lạ, ngược đời so với tinh thần văn hóa Phật giáo đương thời. Trần Thủ Độ có thể mai phục, có thể treo cổ, có thể chém ngang lưng đám cung nữ nhà Lý. Nhưng gia tộc sùng Phật như Trần gia thì không bao giờ xử tội kẻ có tội bằng giàn lửa.

 

4. Vì sao nhà vua đi tu?

Câu chuyện vua Trần Nhân tông đi tu được diễn giải rất nhiều, với nhiều cách hiểu khác nhau. Một ông vua đi tu, đơn giản thôi, mà vĩ đại. Vĩ đại ở chính cái điều không ai làm được. Từ bỏ cái khoái sướng chót vót mà con người Nho gia phấn đấu để đoạt lấy, quay về nơi tu hành đau khổ. Nhìn nhận với nhân sinh quan Nho giáo, hóa ra, ông vua ấy đi ngược quy luật Thánh hiền Trung Quốc đã dạy. Giở Đại Việt sử ký toàn thư ra mà xem Nho gia thời Lê nhận xét về vị vua vĩ đại của người Việt thế nào. Dĩ nhiên là chê trách ông ấy quá phiền lụy vì Phật giáo, trước khi nói đạo Phật là sằng bậy.

Có nhiều sách vở dạy cho hậu thế về bài học đạo đức của vua Trần Nhân tông. Con người làm vua, sống đời sống đế vương, mà bỏ ngai vàng "như trút đôi dép rách". Nếu chỉ làm gương đạo đức cho thần dân bằng cách tu Phật, thì có đáng làm như vậy không?

Là Tổng chỉ huy cuộc kháng chiến chống Nguyên, vua Trần Nhân tông hẳn hiểu hơn ai hết mối nguy xâm lược. Ông cũng hiểu vì sao người Trung Hoa thất bại trước quân Nguyên. Nho giáo là nền tảng xã hội Trung Quốc, lấy "trị, bình" làm căn bản đối xử với dân chúng, sẽ làm cho triều đình xa thần dân. Khi không có dân ủng hộ, triều đình chỉ là một đám người yếu ớt, không thể kháng cự với một đội quân hung hãn. Bài học "chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân" thấm nhuần từ Trần Quốc Tuấn, chắc hẳn nhà vua hiểu rõ.

Làm thế nào để giữ cho dân tộc không quay vào quỹ đạo của kẻ xâm lược phương Bắc? Câu trả lời là phải giữ được phẩm giá Việt Nam. Thực ra bài học này đã có từ thời Lý Thánh tông. Nhà Lý đã công nhận Phật giáo vốn là tôn giáo sống với dân gian, làm nền tảng tư tưởng của triều đình, biến quan lại thành Phật tử, biến nhà vua thành Giáo chủ, nên một bộ phận dân chúng theo Thiền phái Thảo Đường mặc nhiên là đệ tử của nhà vua, sống chết với triều đình. Vua Trần Nhân tông chỉ thực hiện điều tương tự Lý Thánh tông ở quy mô lớn hơn, mức độ cao hơn, tính chất thâm sâu hơn. Đầu tiên ông sáp nhập tất cả các thiền phái. Phép sáp nhập dĩ nhiên phải xóa bỏ sự khác nhau, tổng hòa sự tương tự, chủ yếu là về phương pháp truyền thừa và cách thực hành Phật pháp. Sao cho toàn bộ dân chúng đều có thể là Phật tử, đó là thắng lợi về chính trị của nhà vua đi tu. Muốn thế, thì cách hành đạo phải đơn giản, quan niệm về đạo và đời phải hết sức "thoáng".

Đó là cách lập luận duy lý. Nếu như vua Trần Nhân tông làm vua ở vùng đất khác, ông có thể thành công khi lựa chọn phương pháp ấy không? Câu trả lời là không cần trả lời. Triết lý Thiền Trúc Lâm được diễn tả bằng khá nhiều chữ, nhưng căn bản dựa trên ngữ lục đơn giản, dễ hiểu là "Cư trần lạc đạo". Ở với trần gian bụi bặm, mà vẫn có thể đắc đạo. Phương pháp hành đạo là "Tùy duyên". Đó là thứ giáo lý "thoáng" nhất có thể, không thể đơn giản hơn được nữa. Từ sau Trúc Lâm, thần dân Đại Việt của nhà Trần có thể ăn thịt chó, mà ngày rằm mồng một vẫn lên chùa cầu Phật. Là thần dân của nhà vua, lấy vợ sinh con, chăm lo làm lụng, cũng có thể hướng đến Niết Bàn nơi cửa Phật.

Thật sự thì quan niệm của Thiền Trúc Lâm cũng không phải do nhà vua đi tu áp đặt nên, hay muốn nghĩ ra là được. Đó là một cuộc chuyển biến về nhận thức Phật pháp từ từ, lâu dài. Con đường Phật giáo đi vào dân chúng phải kinh qua hơn một nghìn năm, đến Trúc Lâm, thì Phật giáo từ chỗ đồng hành cùng dân tộc, trở thành tôn giáo chuyên chở tâm linh dân tộc, là dân tộc.

Về mặt đạo pháp, tôi chỉ nói theo kiến thức sách vở như sau: Cuộc sinh nở Thiền Trúc Lâm có lẽ được thai nghén từ vua Thái tông. Trong Khóa hư lục, chân lý "Phật tại tâm" đã được phát biểu như một phát hiện, chính vì lẽ đó mà Trần Thái tông đề cao sám hối, một kiểu phê và tự phê hiện đại, để mong "kiến tính", thấy được bản tính mình, từ đó đi đến giác ngộ. Một khi "Phật tại tâm" thì nhà vua và dân chúng đều có thể bình đẳng đi đến bến bờ giác ngộ. Đến Tuệ Trung Thượng Sĩ Trần Tung, thì quan niệm "Hòa quang đồng trần" lại dấn thêm một bước, mang "đạo" về gần với "đời". Tuy nhiên, đó vẫn là thế giới quan nhìn từ trên cao xuống, mang ánh sáng cao khiết hòa vào trần gian. Người/Phật thực hiện hành động "hòa quang" trong quan niệm của Tuệ Trung Thượng Sĩ là ngôi thứ nhất, là chủ thể. Tuệ Trung Thượng Sĩ là người thày về tư tưởng của vua Trần Nhân tông, Người lẫn trong ánh sáng nhìn xuống dân gian. Và cho đến Trần Nhân tông, trần gian không phải là đối tượng để thứ ánh sáng nào chiếu dọi, mà trần gian chính là chủ thể, biến ánh sáng "đạo" thành khách thể. Trần Nhân tông nói: Cư trần lạc đạo. Có thể nói với Trúc Lâm, vua Trần Nhân tông biến mình thành một trong số thần dân, chính ông là một phần của trần gian bụi bặm.

Quan niệm "Tùy duyên" lại tỏ ra rất phù hợp với tâm lý người Việt. Người Việt xưa vốn là cộng đồng dân cư nông nghiệp, canh tác tùy theo khí hậu trời đất, sống hồn nhiên nhi nhiên. Hệ tư tưởng với quan niệm đơn giản "cư trần lạc đạo" khiến cho hầu hết thần dân trở thành Phật tử, thống nhất phần hồn con người tôn giáo với phần xác con người xã hội. Nói đó là chiến thắng chính trị của vua Trần Nhân tông cũng không sai. Nhà vua đi tu, trở thành Giáo chủ không phải là một hành vi tôn giáo, hay tấm gương đạo đức, mà trước hết, đó là hành động xây dựng nên hình mẫu con người mới, sinh ra nền văn hóa mới.

Thực ra, "tùy duyên" cũng là cách diễn tả khác đi, cụ thể hóa trong trường hợp hành đạo của nguyên lý "vạn vật vô thường" của nhà Phật. Vạn vật không ngừng biến đổi, nên ứng xử với vạn vật cũng phải tùy duyên. Đơn giản thế thôi.

Đơn giản thế, nhưng Thiền Trúc Lâm lại làm được một việc mà lịch sử tư tưởng Việt Nam chưa bao giờ lặp lại. Đó là một lần tư tưởng Việt thắng thế trong xã hội, một thời kỳ mà triều đình cai trị dân chúng không phải bằng mệnh lệnh hành chính áp đặt các giáo lý ngoại lai, một lần xã hội Việt thoát khỏi ảnh hưởng của văn hóa Hán. Nhưng sao lại gọi Trúc Lâm là một hệ tư tưởng. Xin thưa, đó là tôi cảm nhận thấy như thế. Nó có lý do ở chính sự thất truyền về mặt danh nghĩa Thiền, mà bất diệt ở phong tục và cách nghĩ của người dân.

 

5. Trúc Lâm không đơn giản là Thiền.

Vậy nó là gì? Trả lời: Đó là một hệ tư tưởng, một hệ thống nhân sinh quan của người Việt.

Cũng có nhiều sách bàn về sự thất bại truyền thừa của dòng Thiền Trúc Lâm. Chỉ sau khi vua Trần Nhân tông mất, Trúc Lâm sống qua Pháp Loa, rồi đến Huyền Quang, sau đó không ai chính thức được coi là nhận chân truyền.

Có ý kiến cho rằng, triều đình thời mạt Trần đi vào suy vi, tầng lớp Nho sĩ lớn mạnh, thiền Trúc Lâm không còn địa vị trong Phật giáo thời Lê. Sau này, thiền sư Hương Hải thế kỷ 17 được coi là người đã cố gắng khôi phục Thiền Trúc Lâm, nhưng rồi cũng không có ai kế tục.

Tại sao thế? Một thiền phái do chính vị vua vĩ đại tạo lập, lại chịu số phận đáng buồn như thế ư?

Sử Phật giáo cũng có ghi lại các tài liệu về cách hành thiền của vua Trần Nhân tông, như cuộc giảng thiền tại chùa Vĩnh Nghiêm, hay lễ truyền tông ấn cho Pháp Loa. Giáo sư Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận đã dẫn lại một buổi hành thiền của Điều Ngự, cho thấy Điều Ngự không có biện pháp gì cao siêu hơn cách hành thiền trước đó. ( "Trúc Lâm được sống nhiều năm trong thiền viện và đã sinh hoạt theo thể thức và quy chế thiền viện. Vua đã nhiều lần kết hạ an cư, đăng đàn thuyết pháp và chủ tọa những buổi đại tham, tức là những cuộc tham vấn về thiền trong đó toàn thể đại chúng trong thiền viện được tham dự. Những buổi tham vấn nhỏ thì được gọi là tiểu tham. Trúc Lâm thường bắt đầu buổi đại tham bằng lễ niệm hương. Kế tiếp, vua nói một vài lời mở đầu, và sau đó trả lời những câu hỏi"). 

Tuy nhiên, cách diễn đạt về tư tưởng Thiền của Trúc Lâm thì dường như các vị Thiền sư, cao tăng hầu như ít có điều để nói, ngoài những câu kệ, ngữ lục và mấy bài thơ nôm của nhà vua đi tu. Ông Nguyễn Lang cho rằng: "Bí quyết của Trúc Lâm là làm cho tâm hồn không vướng bận. Lòng không vướng bận nghĩa là không bị ràng buộc bởi thành bại đắc thất và bởi sự dồn chứa kiến thức". 

Cũng không có gì xa khác quá, nhưng tại sao nhà vua lập ra một giáo hội, mà không có tổ truyền thừa, để đến nỗi sau này không còn thấy một dòng Thiền Trúc Lâm trực tiếp chân truyền nữa.

Tôi cho rằng, tìm hiểu tư tưởng vua Trần Nhân tông, có lẽ chìa khóa là việc "sáp nhập 3 thiền phái" và "sự thất bại truyền thừa".

Sáp nhập thì phải hình thành một Thiền phái, sau này Pháp Loa và Huyền Quang đã rất cố gắng tạo dựng các yếu tố của một thiền phái riêng, nhưng tại sao vẫn không thể truyền được. Cũng không có sách nói sau khi sáp nhập thì các Thiền sư giữ lại yếu tố nào của Thiền phái nào, bỏ yếu tố nào. Phải chăng, khi lập ra Thiền phái Trúc Lâm, thì 3 thiền phái trước đó, Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường tự tan rã. Hoặc chính Trần Nhân tông có ý đồ giải tán cả ba thiền phái đó. Từ lâu, các sử liệu nước ta đều viết là "nhập 3 thiền phái" thực ra chỉ là một cách nói cho đẹp, một kiểu mỹ từ mà thôi.

Bởi vì với tư tưởng Thiền "làm cho tâm hồn không vướng bận" đến tư tưởng hành đạo "cư trần lạc đạo" thì khác hơi xa so với cách hành đạo của 3 phái thiền trước đó.

Cũng vì tư tưởng Thiền của Trần Nhân tông là hướng đến Phật tử, một tư tưởng tự do khó chấp nhận với mọi dòng thiền, nên sau này, không có một dòng thiền nào chấp nhận cách quan niệm về hành thiền như thế.

Không có chính danh một dòng thiền nào mang tên Trúc Lâm tồn tại sau Huyền Quang, nhưng dân chúng, thần dân của vua Trần Nhân tông thì bắt đầu được ngôi chùa phù trợ tâm linh. Tuy dòng Thiền mang tên Trúc Lâm không còn, nhưng tư tưởng Trúc Lâm thì sống mãi trong cộng đồng dân chúng.

Ở đây, lại có một mẫu số chung giữa các học thuyết có sức sống. Chỉ với những lời rời rạc do học trò đời sau chép lại, mà Luận ngữ khai sinh ra Nho giáo, rồi phủ bóng lên lịch sử Trung Quốc. Một cách tương tự, tuy nhiên khác về tính chất nội dung và quy mô, Trúc Lâm thực ra cũng là một hệ thống Thiền, thông qua ngữ lục, song đã làm một cuộc cách mạng về tư tưởng, ảnh hưởng lâu đời với dân cư Việt. Vua Trần Nhân tông hẳn là hiểu sâu sắc thần dân và dân tộc mình, mới truyền bá tư tưởng Trúc Lâm như vậy.

 

6. Biểu hiện di sản Trúc Lâm.

Di sản Trúc Lâm sống lâu bền trong cách tồn tại của ngôi chùa làng quê Bắc Bộ. Cách đối xử với nhà chùa của người dân chính là thừa hưởng tư tưởng của Thiền Trúc Lâm. Dù cho thiền sư có thể biến thành sơn môn nào, theo thiền phái nào, thì dân chúng và Phật tử, vẫn đối xử với ngôi chùa bằng tinh thần có từ thuở Trúc Lâm. Điều này chắc chắn có bị mai một qua thời Lê sơ, nhưng được nhà Mạc khuyến khích, rồi sống bền bỉ qua sóng gió của thời Lê Trung hưng và Nguyễn. Ăn thịt chó, ngày rằm mồng một lên chùa. Phật không phải là sư, sư không phải là Phật. Trong không gian trần thế bụi bặm, vẫn có một góc tâm linh siêu việt hướng về Đạo và có thể "lạc đạo". Đó là triết lý Phật giáo diễn tả bằng tâm lý Việt. Đó là một cách thực hành của tư tưởng "làm cho tâm hồn không vướng bận" trong tư tưởng Thiền của Trần Nhân tông.

Tư tưởng Trúc Lâm phản ánh tâm lý người Việt, cũng tham gia hình thành cách sống Việt. Nó có mặt hay, cũng có cái dở. Người Việt ưa mềm mại, dĩ hòa vi quý, vốn thờ phụng nước. Gọi lãnh thổ là nước, chắc ít có dân tộc như dân tộc Việt. Tùy duyên mới có thể tồn tại qua phong ba bão táp lịch sử, trước những can qua, do địa chính trị của nước Việt. Cư trần lạc đạo chính là triết lý lớn, mà vua Trần Nhân tông phát biểu "giúp" dân tộc. Đời và đạo, thì coi trọng đời, coi trọng "cư trần", có cư trần thì mới lạc đạo. Đạo gì cũng phải bắt nguồn từ trần. Lấy đạo áp đặt lên bụi trần, thì không còn đạo, mà cũng không còn trần.

Nói về thời hiện đại, một số Thượng tọa chức sắc ở Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng đồng ý với tôi, ngày nay Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt cũng chỉ là "Trúc Lâm Đà Lạt" mà không bao giờ là hậu duệ của "Trúc Lâm". "Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử" lại là chi nhánh của Trúc Lâm Đà Lạt, càng không phải Trúc Lâm nguyên thủy. Vua Trần Nhân tông hành đạo ở vùng Đại thừa Bắc bộ, nơi dân chúng "cư trần lạc đạo". Chùa của vua Trần Nhân tông là chùa Đại thừa, cả một xã hội trần gian đều thành Phật. Vào chùa là vào một cung đình, thứ thế lớp lang như đời, mà là Phật. Khác hẳn với Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt, rất đắc dụng ở phép dưỡng sinh, nhưng giáo lý thì chặt chẽ, ảnh hưởng tiểu thừa rõ rệt ở cách bày biện nhà chùa, cho đến hành lễ. Đó chắc hẳn không phải Thiền Trúc Lâm của vua Trần.

 

7. Về trường hợp Tây Du ký: Hình bóng Trúc Lâm.

Trong một bài xuất bản trên mạng, tôi có dẫn ý kiến ông Trần Đình Hiến, về nghi ngờ Tây du ký có nguồn gốc từ Đại Việt. Sau đó có nhiều ý kiến phản đối. Một trong các lý do là cái bóng quá lớn của văn hóa Hán. Nó là Hán, sao lại là mình được?

Một là, chính người Trung Quốc nhiều thế hệ nghi ngờ sự xuất hiện của tác phẩm được gán cho Ngô Thừa Ân. Tác phẩm ra đời sau khi Ngô gia chết mấy chục năm. Hai là cuộc cướp phá văn vật thời Minh thuộc, có sử liệu nói rõ phái đoàn các Nho gia sang cướp bóc văn tự, kể cả đình chùa. Ông Trần Đình Hiến có nghiên cứu về mối liên hệ dòng họ Ngô của Thừa Ân và Ngô ở Việt. Ba là, một số chi tiết nội dung, sự đối xử thờ ơ và tệ bạc với phái đoàn của nhà Đường, coi như không ai biết đến nước Đường to vật vã trong thiên hạ. Nếu nước Đường ấy bị chữa từ Đại Việt ra, thì hợp lý với nội dung.

 Nhưng có nguyên nhân sâu xa này: Tôi thì cho rằng, xét về hành trạng Tôn Ngộ Không, Chư Bát Giới, Sa Tăng, thì họ chính là Phật tử của Thiền phái Trúc Lâm. Cư trần không gì hơn Chư Bát Giới. Trần tục và phàm phu đến bất ngờ. Tùy duyên không đâu bằng cách Tôn Ngộ Không ứng xử. Phật tử Trung Hoa không có thế. Các thiền phái Trung Hoa có sư hổ mang, có sư giả cầy, nhưng không có sư "tùy duyên" đến như con khỉ và con lợn biến thành. Tư tưởng Trúc Lâm đậm đặc trong các nhân vật của sứ đoàn lấy kinh.

Trong Tây du, Phật Bà Quan Âm là chúa tể, là đấng cứu thế, cứu giúp thày trò đi lấy kinh. Cách tôn kính Phật Bà quan âm có nguồn gốc từ Thiền Đại Việt và khu vực văn hóa Bách Việt thờ phụng vua Bà. Nếu Tây Du ký là sản phẩm của các vùng văn hóa Bách Việt thì có thể đúng.

Một chi tiết tưởng như hài hước, vu vơ, là chuyện thày trò Đường Tăng nhận được những quyển kinh không có chữ, rồi quay lại đòi đổi lại. Phải người am hiểu Phật pháp mới viết đến như thế. Giống như ngày nay Thiền sư Nhất Hạnh nói, chân kinh là kinh không có chữ. Lần thứ nhất, thày trò Đường Tăng chính là được chân kinh. Qua đó, có thể thấy quan niệm của tác giả, việc đi lấy kinh cũng là hành động kỳ khu, không cần thiết. Toàn bộ cuộc đi lấy kinh chỉ là tưởng tượng, hành vi phi Phật pháp, không đúng tinh yếu của Phật pháp. Cuộc đi lấy kinh, dưới mắt nhà chùa, chỉ là hành động mang tính xã hội, chứ không có mấy ý nghĩa về Phật pháp.

Vậy mà, Trung Quốc thời Đường quả đúng là có sư Huyền Quang đi Ấn Độ lấy kinh. Sau này, vận chuyện Tây du cho Huyền Quang, cũng là khiên cưỡng. Những nghi vấn của ông Trần Đình Hiến quả là có lý do, mặc cho câu trả lời có thể mãi mãi không có, nhưng không phải vì không có câu trả lời mà không có bài toán đặt ra.

 

 

Chưa có bình luận nào !
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : j5727b
Bài viết khác