Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Duy Minh

Bình Luận của Duy Minh

Nhiều lần đọc những bài viết của nhà văn, biết bác người xứ Đông cháu cũng cảm thấy đồng cảm như người đồng hương. Liệu có một ngày nào đó, Hải Dương và Hải Phòng có thể nhập lại làm một, cái tên Hải Đông có lẽ thích hợp hơn cả. Thật buồn là đến giờ nhiều người ở VN (bao gồm không ít người có uy tín trong các ngành văn hóa, giáo dục, sử học) và cả những người Việt sống ở hải ngoại vẫn cho rằng nhà Mạc ra đời là một sai lầm của lịch sử VN và Mạc Đăng Dung cắt đất cho ngoại bang! Hành động hạ mình có vẻ thái quá của Thái thượng hoàng nhà Mạc (lúc này ông không còn làm vua nhưng nhiều người không quan tâm chi tiết lịch sử này) sau này vua nhà Lê trung hưng lặp lại thì lại được sử quan triều Lê-Trịnh cho qua! Giờ đang sống trên mảnh đất Nam bộ vốn là đất cũ của Chân Lạp, cháu tự hỏi không có thế kỷ 16 với những biến động lớn thì liệu dân Bắc Hà chúng ta chỉ có mỗi cái chốn Hà Thành để tranh giành quyền cai trị lẫn nhau hết đời này qua đời khác thôi sao?
Nguyễn Việt Long

Bình Luận của Nguyễn Việt Long

Chi tiết "lãnh tụ cực tả của QDĐ Lão Trung Kha" viết sai tên. Chả có ai là Lão Trung Kha cả, đó là Liêu Trọng Khải.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Tôi không rành về Lào cho lắm, nên không hiểu chế độ hiện nay như thế nào? Nhiều khi thấy thế giới phân loại các quốc gia cộng sản gồm 5 nước thì có Lào. Nhưng đọc một văn bản của Cộng đồng Châu Âu xếp loại 4 nước cộng sản trên thế giới thì không có Lào. Nghe nói, họ còn bảo VN sang mà đưa tượng ông cụ về đi.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Bút Ký
Với Dashtseven

Nhà văn Mông Cổ Dashtseven năm nay ngoài bảy mươi tuổi, thuộc thế hệ các nhà văn lớp trước, giao du với các vị trưởng lão của văn học Việt Nam như Tô Hoài, Nguyễn Công Hoan, Ma Văn Kháng… và nhiều nhà văn đương đại Việt Nam. Ông là nhà văn, và là nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử của Viện hàn lâm Khoa học xã hội Mông Cổ. Nhà văn Dashtseven nói thạo tiếng Việt, từng học đại học Tổng hợp Hà Nội những năm đầu thập kỷ sáu mươi, lấy tên Việt là Viên, đương kim Chủ tịch Hội Hữu nghị Mông Cổ- Việt Nam. Do điều kiện đặc biệt, tôi có dịp tiếp xúc gần gũi với ông Viên nhiều năm. Câu chuyện trên những nẻo đường gợi cho tôi viết thiên bút ký này…

 1.     Người Mông Cổ và người Mông.

Khi tôi đến Ulan Bato, ông Viên đã hỏi rất kỹ về người Mông ở Việt Nam. Tôi không có nhiều kiến thức dân tộc học, nên tra Google để nói chuyện với ông Viên. Khi trở về Việt Nam, tôi đi phượt lên Bắc Hà, đi Mộc Châu, đến Lào, đều chú ý xem xét người Mông. Đó là do cảm hứng từ gợi ý của ông Viên Dashtseven.

Rồi ông Viên đến Hà Nội, thế là hai anh em hành trình lên Bắc Hà, làm một chuyến đi mà theo ông “nhiều năm đã từng mong muốn”. Ông Viên tâm sự, con người dân tộc nào cũng có một tâm cảm chung, đó là “lá rụng về cội”. Càng nhiều tuổi càng hào hứng nghiên cứu về gốc rễ, dân tộc, quê hương bản quán. Số phận người Mông Cổ và quốc gia Mông Cổ của ông vô cùng đặc biệt, mỗi người chỉ cần phát hiện một phần rất nhỏ giá trị tinh thần của ông cha, cũng là một việc rất tốt trả nghĩa tổ tiên, thôi thúc người Mông Cổ hướng đến tương lai. Nhiều năm nay, ông Viên cố gắng đến những nơi có cộng đồng người Mông Cổ, những cư dân vốn là hậu duệ của các chi tộc Mông Cổ thế kỷ mười ba đã từng thống trị thế giới. Đặc biệt, ở châu Á, ông đã đi Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Singapore, Lào, Campuchia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc. Ở Trung Quốc, ông đến chân núi Himalaya, cách thủ phủ Tây Tạng hai trăm kilomet, tiếp xúc với cộng đồng rất lớn người Mông Cổ đã ở đó từ sau khi nhà Nguyên thất bại. Các dòng họ đều tự nhận mình là Mông, giữ lại truyền thuyết về quá trình di cư của mình. Ông Viên đã xâu chuỗi những kinh nghiệm đó, và rút ra kết luận, người Mông ở Việt Nam, ở Lào, ở Miama và khắp Đông Nam Á di cư từ Nam Trung Quốc, và đều là những chi lưu người Mông xuất phát từ thảo nguyên Mông Cổ. Đó là lý do ông Viên hằng mong đến nơi sinh sống của người Mông Việt.

Tôi tra tài liệu ở Việt Nam, kỳ lạ thay, không có tài liệu nào nói về người Mông như ông Viên đã nói. Mọi tài liệu đều chỉ nói rằng, người Mông (trước đây gọi là Miêu, Mèo, Hmong) di cư từ Nam Trung Quốc cách đây 300 đến 500 năm, gần nhất là khoảng 100 năm vẫn còn nhiều người tiếp tục di cư từ phía Bắc xuống Việt Nam.

Ông Viên Dashtseven có lập luận khác, đó là khi nói về nguồn gốc dân tộc, các nhà nghiên cứu cần có tâm thế “lạnh”, khách quan, căn cứ chủ yếu từ tài liệu thành văn, từ kết quả khảo cổ. Còn nhà văn có một kênh thông tin khác, đó là những giá trị tinh thần phi vật chất, sợi dây duy tình có tính tâm linh. Đôi khi không thể chứng minh bằng lý, lập luận đậm chất duy tâm, linh cảm lại không thể nào bác bỏ được.

Tôi đã xem bảo tàng các dân tộc ở Mông Cổ, thật ngạc nhiên khi thấy một số dân tộc có trang phục giống như trang phục của người Mông Việt Nam, Mông Lào, có dân tộc trang phục giống với người Dao Việt. Theo lý tự nhiên, bộ phận di cư thường mang theo, gìn giữ tập tục cổ sơ từ thời điểm xuất phát. Còn bộ phận dân cư nơi gốc gác có thể có những thay đổi do hoàn cảnh xã hội. Cho nên, trang phục ngày nay của người Mông Việt, lại đúng như trang phục cổ của người Mông Cổ ở một số địa phương.

Đến Bắc Hà, ông Viên chăm chú xem chợ ngựa. Những con ngựa Mông Việt Nam nhỏ bé, leo núi giỏi, nếu đứng cạnh ngựa thảo nguyên Mông Cổ, chỉ như lũ ngựa con. Ông Viên hỏi cặn kẽ tiếng Mông, những danh từ chỉ hàm thiếc, yên cương, chỉ ngựa đực, ngựa cái, ngựa con… Con ngựa quả thực gắn bó với đời sống người Mông, tập quán từ ngữ liên quan đến ngựa cũng tương tự như người thảo nguyên với ngựa, nhưng có thể thấy, âm phát thì ít giống nhau. Ông Viên lý giải: “Du mục thảo nguyên, đến chỗ du mục trên những triền núi quả thật không thể giống nhau… Vả lại, ngôn ngữ là sinh ngữ, nó phải biến đổi theo điều kiện xã hội và môi trường sống”.

Đối xử với con ngựa, còn một đặc điểm giống nhau nữa, là khi phải dùng ngựa làm thực phẩm, thì người Mông Cổ rất coi trọng bộ ruột ngựa, coi đó là bộ phận thức ăn bổ dưỡng, ưu tiên người cao tuổi trong nhà. Ông Viên rất thích thú thưởng thức món “thắng cố” ngựa. Theo ông, người Mông đã di cư mang theo tâm thức về món ruột ngựa, đến một nơi ẩm thực chế biến giỏi như cộng đồng người Việt, có các gia vị địa phương đặc biệt, thì ắt sản sinh ra món thắng cố.

Tôi đã đến thảo nguyên Mông Cổ, cảm nhận được vai trò con ngựa trong đời sống hàng ngày của cư dân. Người Mông Cổ tự hào là bộ phận dân cư duy nhất trên thế giới còn giữ được phong tục quý báu của tổ tiên là hàng ngày uống sữa ngựa. Đồng cỏ Mông Cổ hàng nghìn năm trước như thế nào, ngày nay vẫn như vậy. Dân du mục Mông Cổ sống gần giống với tổ tiên hàng nghìn năm nay. Ông Viên nói với tôi: “Các nơi khác dùng sữa bò, sữa dê làm thực phẩm đồ uống, coi là bổ, nhưng ở Mông Cổ thì sữa bò sữa dê chỉ để chế biến thức ăn khô dự trữ hoặc bán cho các công ty chế biến sữa. Thức uống hàng ngày với người dân là sữa ngựa, cội nguồn sức mạnh của thảo nguyên. Sức khỏe người du mục là bắt nguồn từ sữa ngựa”.

Tôi đã thấy người Mông Cổ vắt sữa ngựa. Điều đặc biệt ở loài ngựa, khác hẳn loài bò, là chỉ cho vắt sữa khi có con ngựa con của nó đứng cạnh. Từ sữa ngựa uống hàng ngày, người ta làm ra bia sữa ngựa, một loại sữa lên men độ rượu nhẹ có hương vị đặc biệt, dùng khi lễ lạt, hội hè. Không phải ngẫu nhiên mà một bộ phận cư dân buộc phải chọn núi cao làm nơi sinh sống, như người Mông Việt, vẫn gắn bó với con ngựa. Tưởng như những con ngựa không còn phi nước đại như ở thảo nguyên, thì nó vẫn cần mẫn với người, qua những triền núi cheo leo. Đây có thể là một luận điểm trong giả thuyết nguồn gốc người Mông rất khó chứng minh họ xuất phát từ thảo nguyên Mông Cổ, nhưng lại khó bác bỏ. Tại sao rất nhiều dân tộc ít người khác không gắn bó với con ngựa trong đời sống, như người Mông Việt?

Về phong tục, người Mông Cổ thảo nguyên khi xưa, cũng có nhiểu bộ tộc có tục bắt vợ. Và, một nét văn hóa đặc biệt nữa, là người Mông Cổ cũng như người Mông sinh sống và tổ chức đời sống theo từng dòng họ. Năm xưa chinh phục thế giới, người Mông Cổ cũng di cư theo dòng họ, trong tập quán nói năng cũng dùng tâm thức “cái lý” của người Mông Cổ mà nói với nhau, nói với người ngoại tộc.

Ông Viên Dashtseven cảm khái: “Tôi hằng mơ đến được Bắc Hà, lần này toại nguyện”.

2.     Những ông vua Hùng…

Nhà văn Dashtseven là người nói tiếng Việt, cũng có thể coi là một nhà Việt Nam học, ông đã mở cho tôi một chân trời kiến thức đối chiếu về thời đại vua Hùng. Không chỉ tổ tiên người Việt là vua Hùng, mà tổ tiên các bộ tộc Mông Cổ cũng (gọi) là… vua Hùng.

Đi qua lối rẽ vào Đền Hùng, ông Viên hỏi tôi: “Theo anh, vì sao lại là vua Hùng?” Dường như giải thích câu hỏi, ông nói: “Họ là Hùng, hay tên, hay nước Hùng?”

Về chữ “Hùng”, sử gia và nhà văn hóa Việt Nam đã tốn không ít giấy mực. Nào là thời đại vua Hùng kéo dài hai nghìn năm, nào là các vương triều Hùng vương là các “dòng” vua, chứ không phải “đời” vua, có tài liệu còn viết giấy trắng mực đen các ông vua Hùng sống đều một trăm mấy chục tuổi… Tôi thì thích lý giải của ông Trần Quốc Vượng, nên nói với ông Viên Dashtseven ý kiến ấy. Thời xưa, người đứng đầu bộ tộc tiếng địa phương là Khun/Khung/Hung gì đó, thực ra hình dáng quốc gia không rõ ràng, các bộ tộc thường phục tùng một người đứng đầu của bộ tộc hùng mạnh nhất. Sau này, thời Hán hóa, sử gia Hán có chữ, bèn ghi lại âm đó bằng mặt chữ “Hùng”. Rồi con cháu tưởng tượng ra thời của tổ tiên cũng quy củ như thời có vua, bèn gọi “Hùng vương”.

Ông Viên gật đầu, thốt lên: “Đúng rồi”. Ông cũng nói rằng, đã tiếp xúc với nhiều người Việt, đã nghe nhiều người giải nghĩa chữ Hùng, đây là ý kiến ông cho là đúng nhất.

Vì sao?

Người Mông Cổ thế kỷ mười ba chinh phục thế giới, chính là hậu duệ của người Mông và các bộ tộc du mục làm nên cái gọi là Đế quốc Hung Nô, theo cách gọi của người Trung Quốc. Địa bàn của Hung Nô trải dài phần Trung Á, lãnh thổ Mông Cổ, Bắc Trung Quốc bây giờ. Đế quốc Hung Nô tồn tại khoảng trước năm hai trăm trước công nguyên (trước thời Tần) và hùng mạnh vài trăm năm đến khoảng thời Đường Trung Quốc. Trong thời Tần, Hán, người Hung Nô là nỗi khiếp sợ của quân đội Trung Nguyên. Tuy nhiên, Hung Nô tan rã bắt đầu từ thời trị vì của Hán Vũ Đế. Danh xưng Hung Nô là do người Hán đặt ra, có ý miệt thị và dồn vào đó nỗi căm tức: Người/nước Hung (là) nô lệ. Cho nên,  giờ đây người Mông Cổ chỉ nhận là hậu duệ của “đế quốc” Hung (mà không có chữ Nô). Cũng như nước Hung-ga-ri là hậu duệ của người Hung (nô) xâm chiếm châu Âu.

Ông Viên cho biết, người Mông Cổ và các bộ lạc thảo nguyên (cả Trung Á và Tây Tạng) đều gọi người đứng đầu bộ tộc là Hung. Có thể phát âm khác một chút tùy địa phương: Hung/ Khung/ Un/ Ung. Các bộ lạc thần phục, hay đất đai thần phục đều là của Hung/Khung/Un/ Ung. Do đó, tổ tiên của người Mông Cổ và các bộ lạc du mục cũng là Hung. Người Hán dùng chữ Hung để gọi, sau này thêm chữ Nô miệt thị. Còn tại Nam Trung Quốc, họ dùng chữ Hùng, hợp với tập quán đơn âm của vùng Bách Việt Lưỡng Quảng.

Một lần nữa, tôi đã kiểm chứng giả thuyết của ông Trần Quốc Vượng nêu ra về chữ Hùng và thấy linh cảm tài tình của nhà sử học khi nêu ra giả thuyết về một hiện tượng khó có thể chứng minh.

Các vua Hùng của vùng thảo nguyên Mông Cổ và Trung Á có thể tồn tại đến thời Tần Hán, còn các vua Hùng của Việt Nam đã bị Tần Hán chinh phục từ trước đó, ký ức huyền thoại chỉ còn giữ đến “đời Hùng vương thứ mười tám”, ký ức sử thành văn thì giữ đến nước Nam Việt của Triệu Vũ đế, nên các sử gia phong kiến đều coi nước Nam Việt của Triệu Đà là tiếp nối thời đại Hùng vương, Hai Bà Trưng khởi nghĩa là muốn khôi phục nước Nam Việt, khôi phục tổ chức xã hội Hùng vương. Trong khi đó, tương ứng thời kỳ nước Nam Việt, các vua Hung ở Mông Cổ vẫn còn thét ra sấm sét khiến người Hán kinh sợ.

Người Mông Cổ giờ đây cũng bắt đầu nghi ngờ và bác bỏ truyền thuyết Hung Nô là hậu duệ của vua Kiệt, một vị vua hung bạo trong lịch sử Trung Quốc (Kiệt, Trụ, đối lập với Nghiêu, Thuấn). Đó hẳn là sản phẩm Đại Hán. Kiệt là vua sống thời cuối Hạ, trong khi đó đất đai và dân cư của Hung tồn tại sớm hơn nhiều. Hay ho làm sao, người Việt tự viết nên huyền thoại về nguồn gốc của mình, tôn vua Hùng làm anh trưởng trong một bọc của mẹ Chim Âu, bố Rồng Lạc. Tôi đã cắt nghĩa nguồn gốc chữ “đồng bào” cho ông Viên, nhân bàn về các ông vua Hùng, vua Hung của hai dân tộc. Ông Viên thốt lên: vua Hùng Việt Nam thật may mắn, còn Hung (trong suy nghĩa, phất âm “Hung” đã hàm ý là thủ lĩnh, là vua rồi) của người du mục vẫn còn oan khuất.

 

3.     Gánh nặng quá khứ.

Đến Mông Cổ, du khách không thể bỏ qua các viện bảo tàng. Đập ngay vào mắt chúng tôi là bản đồ Mông Cổ thế kỷ mười ba. Vó ngựa người Mông Cổ đã đến gần hết cựu thế giới. Tôi đã đến bảo tàng ở UlanBato và nơi thờ phụng Tringit Khan (Thành Cát Tư Hãn) cách thủ đô gần trăm cây số, đều thấy những bản đồ kiêu hãnh của người Mông Cổ. Cho đến nay, cũng còn thấy dấu vết Mông Cổ khắp châu Âu, châu Á (trừ Ấn Độ).

Nhưng tại sao một dân tộc hùng mạnh như vậy, bây giờ chỉ còn vang bóng trong các viện bảo tàng?

Lịch sử Việt Nam cũng có một chút liên quan với Mông Cổ. Đó là dấu vết vó ngựa quân Nguyên Mông thế kỷ mười ba. Tại Mông Cổ, việc Mông Cổ có coi Việt Nam là khu vực chiếm đóng không, cũng là vấn đề không nhất trí. Tôi nhìn thấy một bản đồ ở Bảo tàng UlanBato có cả Việt Nam trong “khu vực thuộc Mông Cổ thế kỷ XIII”. Nhưng nhà văn Tô Đức Chiêu kể lại, trong chuyến đi Mông Cổ đã nhìn thấy một bản đồ không có lãnh thổ Việt Nam ngày nay nằm trong thành phần chinh phục của Mông Cổ và được lý giải là: Quân Mông Cổ có đến, nhưng không hợp phong thủy nên rút lui về. Cách nào cũng có lý giải hợp lý hợp tình, bởi vì, dù cho năm 1258 gọi là quân Mông đánh Đại Việt, thì chỉ có các tướng Mông, còn đạo quân gồm quân sĩ Trung Quốc, quan lại nhỏ đi theo là lũ Hán Nô. Cho đến cuộc viễn chinh đối diện với quân Trần của Hưng Đạo vương, thì ngoài vài tướng Mông Cổ, các tướng cũng đã là Hán Nô cả rồi.

Chiến thắng oai hùng của quân Mông dẫn đến việc các dòng họ Khan chia nhau chinh phục thế giới, riêng dòng họ Khan Kubilai (Hốt Tất Liệt) đã làm chủ Trung Hoa lập ra nhà Nguyên khét tiếng. Tuy nhiên, cũng như sông có khúc, người có lúc, một triều đại huy hoàng rồi cũng suy tàn, và nhà Nguyên đã bị nhà Minh đánh bại. Theo ông Viên, hoàng gia Nguyên gồm các quý tộc Mông ở Trung Quốc, toàn bộ đã kéo về nguyên quán. Hoàng gia Nguyên trở về mà không bị mất mát mấy. Sau đó, chính các dòng Khan từ Trung Quốc về lại tranh hùng với các Khan nơi bản quán.

Lý lẽ của ông Viên khiến tôi ngạc nhiên. Bấy lâu nay, người Việt thường có quan niệm là những người Mông, Mãn cai trị Trung Quốc, phần lớn bị Hán hóa, trở thành người Hán, do sức mạnh văn hóa Hán. Ông Viên Dashtseven cho rằng, có thể người Mãn kéo ồ ạt đến Trung Nguyên bị Hán hóa, do đặc tính thời đại, nhưng dứt khoát người Mông không có cái gọi là “bị Hán hóa”. Bởi vì người Mông Cổ thế kỷ mười ba dân số rất ít, di cư khắp thế giới, thì bộ phận tinh hoa hoàng tộc làm vua ở Trung Quốc cũng không nhiều, khi bị động, đã kéo hầu như toàn bộ trăm phần trăm về đất Mông Cổ. Bộ phận dân cư sinh sống xa kinh đô, thì như đã nói, đã thiên di gian khổ và lâu dài, trở thành dân tộc Mông, chứ quyết không thành người Hán. Thời gian và những biến cố phủ lên các tộc người di cư, làm biến dạng phong tục tập quán, phát sinh những tập quán mới, hình thành những cộng đồng, mà người Mông ở các nước phía Nam Trung Quốc là những cộng đồng ấy.

Một bộ phận dân cư Mông Cổ sau thế kỷ mười ba đã sinh sống và đan kết với thổ dân Tây Tạng, làm thành một nền văn hóa đặc sắc, có tự dạng chữ viết gần giống nhau. Ngày nay, Phật giáo ở Mông Cổ cũng thuần một dòng Mật tông với Tây Tạng. Tôi đã đến các ngôi chùa Mông Cổ, chứng kiến họ tự do công khai thờ Đại Lai Đạt Ma thứ 14 đang lưu vong. Đó là sự lựa chọn thuần tôn giáo mà nhà nước cũng không can thiệp được.

Một nét đặc sắc tương đồng nữa, là giống chó ngao Tây Tạng. Theo ông Viên, giống chó ngao Tây Tạng, thực chất là chó chăn cừu Mông Cổ. Con chó này theo chân quân viễn chinh, rồi định cư lại vùng người Mông cách thủ phủ Tây Tạng hai trăm kilomet. Cho đến năm 1980, nước Mông Cổ còn khoảng 500 con chó giống này. Nhưng đến nay đã hầu như vắng bóng chó thuần chủng, chỉ còn những con chó lai. Hậu quả của việc thu mua của người Trung Quốc, bởi vì người Trung Quốc sang thảo nguyên Mông Cổ mua giống chó này với bất cứ giá nào. Với đời sống du mục, và với nền quản lý hành chính còn yếu kém, thì người Mông Cổ không thể chống đỡ được cuộc xâm lăng chiếm dụng nguồn gen quý con chó thuần chủng.

Tôi đã đi xe ô tô trên thảo nguyên Mông Cổ, chứng kiến những con chó xù như con sư tử nhỏ, xông ra ác liệt sủa và chạy theo xe ô tô, đến một lúc đột ngột dừng lại, đó là phạm vi đất đai sở hữu của chủ chó. Không có hàng rào đánh dấu, chỉ có một hai mô đất nếu không để ý thì không thấy được. Nhưng con chó biết rất rõ phạm vi cương thổ của nó. Ông Viên chỉ những con chó ấy, nói rằng chúng chỉ là con lai của loài chó quý Mông Cổ đã bị người Trung Quốc thu mua như cướp mất, rồi chiếm dụng cả cái tên, đặt thành chó Ngao Tây Tạng.

Tôi đã đến thảo nguyên Mông Cổ, khi ấy là tháng Tám dương lịch, cỏ thảo nguyên đã hết lứa tốt nhất mọc từ mùa xuân, bắt đầu đến lớp cỏ tái sinh, rồi cũng sẽ bị lũ gia súc mót hết để đón mùa tuyết rơi. Tôi ngạc nhiên vô cùng khi phát hiện ra những loại có tên là “cỏ” trên thảo nguyên, khác hẳn với cỏ Việt Nam. Đây là những loại cây giống như những loại cây làm thuốc mà chúng ta thấy, và giống các loại rau thơm ở Việt Nam. Mỗi cây là một hình dạng, muôn vạn loại, muôn vạn hương hoa. Ngắt một cọng cỏ thảo nguyên Mông Cổ, xoa trong bàn tay, rồi đưa lên ngang mặt, sẽ cảm nhận được mùi hương hăng hắc thơm vô cùng quyến rũ.

Ông Viên nói: “Nó vẫn thơm như thế từ xa xưa…”

Ông tự hào nói: “Mông Cổ là nơi cư dân vẫn giữ nếp sống như cha ông mình cách đây hàng ngàn đời, đó là du mục; cỏ thảo nguyên này vẫn là hậu duệ của cỏ ngày xưa, ngựa bò dê cừu này vẫn là hậu duệ của cha ông chúng đã từng theo Thành Cát Tư Hãn…” Tôi hỏi ông Viên: “Anh có đọc quyển “Tô tem sói” của Khương Nhung bên Trung Quốc không?”. Ông Viên cười: “Có chứ. Người Mông Cổ may mắn không bị mất môi trường sống như Nội Mông, nhưng cũng đã  những cú sốc vì làn sóng định canh định cư hồi tập thể hóa (Mông Cổ chưa có công xã, chỉ có hợp tác xã chăn nuôi, nhưng quá trình tập thể hóa dù đau đớn cũng không thiệt hại nhân mạng. Tuy nhiên, hồi những năm ba mươi, hàng nghìn trí thức và sư sãi Phật giáo bị giết vì nghi là gián điệp Nhật, do quan hệ Nhật- Liên Xô hồi đó căng thẳng)…”

Chuyện công xã... Cũng là một khúc quá khứ. Đó cũng là một kiểu gánh nặng khác, giống như người Việt Nam hay nói, đó là vấn đề “nhạy cảm”

 

4.     Đối thoại

Nguyễn Xuân Hưng (NXH): Thưa anh,tại sao Mông Cổ một thời gian cũng phải theo phong trào “công xã nhân dân” mà nhịp sống truyền thống du mục vẫn giữ được?

Dashtseven (V): Có thể do sức mạnh truyền thống. Với chiều sâu hàng nghìn năm, mấy chục năm công xã tập thể hóa không thể xóa được, nhưng cũng để lại nhiều “vết thương” khó quên?

NXH: Như “cải cách ruộng đất” của Việt Nam chăng?

V: Có mặt nào đó tương tự, nhưng cũng có cái khác. Cải cách ruộng đất ở Việt Nam theo mô hình Trung Quốc. Còn công xã Mông Cổ là mô hình Liên Xô thời Stalin. Cũng là nỗi đau, nhưng vết thương có khác.

NXH: Trước hết, chúng ta nói về lịch sử, dường như Việt Nam và Mông Cổ cũng giống nhau ở chỗ, xuất phát của cách mạng là không phải hướng đến lý tưởng cộng sản, mà là những phong trào yêu nước.

V: Đúng. Xukhe Bato hướng đến nước Nga Xô viết không phải là xây dựng xã hội theo nguyên tắc của nhà nước xã hội chủ nghĩa, mà gần giống như Chủ tịch Hồ Chí Minh, giành độc lập là yêu cầu tối thượng. Thời kỳ này, Mông Cổ bị nhà Mãn Thanh cai trị, nên Xukhe Bato hướng đến nước Nga là đúng đắn. Sau Xukhe Bato, Troibanxan cũng không cương quyết theo con đường của Stalin, chỉ đến Xedenban thì cách mạng Mông Cổ mới bắt đầu một thời kỳ Xô viết, dập khuôn tập thể hóa, công xã nhân dân…

NXH:  Tuy vậy, có vẻ vết thương về thời kỳ đó không dai dẳng như cuộc cải cách ruộng đất ở Việt Nam.

V: Gần đây, các sự việc thời kỳ đầu thành lập nước mới được bạch hóa. Thực ra, trong hàng ngũ lãnh đạo cao nhất cũng có sự đấu tranh. Nguyên nhân cái chết của các lãnh đạo không muốn dập khuôn Xô Viết trong những cuộc thanh trừng, vẫn là một chủ đề tranh cãi. Từ đó, triển khai xuống cơ sở cũng không phải là dễ dàng, với một địa bàn dân cư thưa thớt, đi lại khó khăn. Vết thương về thời kỳ đó ngày nay không còn nhức nhối, có lẽ là kết quả của cuộc cách mạng dân chủ năm 1990. Đảng Nhân dân cách mạng Mông Cổ đã phải nhận lỗi lầm trước toàn dân về những sai lầm, nói khéo là do “học tập nước ngoài máy móc”, thực chất là phải làm theo Maxcova vô điều kiện.

NXH: Dù sao, nỗi đau Mông Cổ có lẽ cũng có cái lý. Hướng về nước Nga Xô Viết cũng là con đường tất yếu để chống lại Mãn Thanh Trung Quốc, kẻ thù truyền kiếp.

V: Đây cũng là một vấn đề phức tạp. Có thể lấy ví dụ cuộc đời Troibansan. Ông là người Staninnit, có trách nhiệm vì những làn sóng tập thể hóa, nhưng ông cũng là một người dân tộc chủ nghĩa nhiệt thành. Chính Troibansan thúc dục Liên Xô ủng hộ giấc mơ lấy lại Nội Mông, nhưng rồi do lợi ích nước lớn, mà Liên Xô đã thỏa thuận với Trung Quốc bất chấp lợi ích dân tộc Mông Cổ. Cái chết của Troibansan đang là một nghi vấn. Ông chết trong giai đoạn cuối đời thất vọng với chính sách của Liên Xô. Chỉ đến Sedenban, Mông Cổ mới hoàn toàn chịu “hữu nghị” với người anh em lớn ở phương Bắc.

NXH: Cuộc cách mạng dân chủ Mông Cổ liệu có phải là đổi một con đường cũ lấy con đường mới vẫn trên nền đường đó không, và được truyền cảm hứng từ sự sụp đổ của Liên bang Xô Viết?

V: Ở Mông Cổ có thuyết ấy, ám chỉ việc dù cho đổi khác thì vẫn là phụ thuộc vào nước Nga. Xưa nước Nga Xô Viết, ngày nay nước Nga nửa dân chủ. Thực tế không phải như vậy. Khởi nguồn cuộc cách mạng dân chủ là làm sóng phản đối chính sách lệ thuộc của nhà nước Mông Cổ. Có thể nói, những nhà dân chủ mà phần lớn là trí thức đã có sự thức tỉnh văn hóa, phản kháng trước rất lâu những lộn xộn dẫn đến đổ vỡ của Đảng cộng sản Liên Xô. Khi mà những biến cố ở Nga xảy ra, thì nó tiếp sức cho phong trào dân chủ ở Mông Cổ một sức mạnh, khiến nó thành công.

NXH: Tôi đã nhìn thấy những bức ảnh về phong trào này ở viện bảo tàng, người lãnh đạo cầm một cái loa điện, sau này là Tổng thống đầu tiên của Mông Cổ…

V: Điều lý thú là ông ấy là học sinh của Trường học số 14 mang tên Hồ Chí Minh ở thủ đô UlanBato. Các tượng đài Lê-nin, Stalin bị loại bỏ ở Ulan Bato, nhưng tượng đài Hồ Chí Minh tại trường này vẫn còn nguyên vẹn. Trường học mang tên Hồ Chí Minh đã đào tạo cho Nhà nước Mông Cổ thời kỳ dân chủ nhiều nhà lãnh đạo tài năng. Theo sau tổng thống đầu tiên, hai vị thủ tướng cũng xuất thân từ trường này. Hồ Chí Minh vẫn là một tên tuổi đáng kính trong xã hội Mông Cổ.

NXH: Tại sao vậy? Có gì khác với việc đánh giá lại các cán bộ lãnh đạo của Nhà nước Mông Cổ?

V: Hồ Chí Minh trước hết là người giống như Xukhe Bato, tìm con đường giải phóng dân tộc, chống ngoại xâm. Người Mông Cổ vẫn ngưỡng mộ Xukhe Bato. Không thể lấy những lỗi lầm của những người đi sau ông để hạ thấp vị trí của ông trong lịch sử. Sau năm 1990, mộ Xukhe Bato ở Quảng trường trung tâm thủ đô được dời đi, mang về quê chôn cất, là một cử chỉ tôn kính mang tính truyền thống, phù hợp với tâm linh dân tộc.

NXH: Vâng, tôi đã đến Quảng trường Xukhe Bato, vẫn còn tượng đài ông ấy cưỡi ngựa rất oai hùng.

V: Chỉ có nền dân chủ thực sự mới đảm bảo sự tranh luận công khai, công bằng trong xã hội. Vàng thau không thể bị lẫn lộn. Tượng đài một số vị bị hạ bệ, nhưng tượng đài Hồ Chí Minh thì vẫn tồn tại tại ngôi trường mang tên Người, một trường học hàng đầu ở thủ đô Ulan Bato, nơi đào tạo ra các lãnh tụ của nền dân chủ mới ở Mông Cổ.

 NXH: Chúng ta trở về một câu hỏi có tính phổ quát, ít nhạy cảm, đó là tại sao với một lịch sử oai hùng, nước Mông Cổ ngày nay vẫn là một quốc gia đang phát triển?

V: Gánh nặng chiến công quá khứ không ai cảm nhận hơn là người Mông Cổ ở chính thảo nguyên, nơi phát nguồn văn minh chinh phạt trên lưng ngựa. Quá khứ dù oai hùng đến đâu cũng chỉ là quá khứ. Các vấn đề của ngày hôm nay mới là những câu hỏi nóng bỏng. Người Mông Cổ cũng có những câu hỏi thôi thúc như Việt Nam: Tại sao nghèo? Vì sao không thể vươn lên? Sống ở nơi kẹp giữa các cường quốc, phải sống như thế nào? Đó là một câu hỏi không chỉ tôi và anh trả lời được.

 

5.     Những câu hỏi lớn (phần viết thêm)

Tôi đã cùng ông Viên Dashtseven đi thảo nguyên, sống một “khoảng khắc” thời gian với người du mục. Một mặt, người Mông Cổ tự hào đã sống lại cuộc sống cha ông vốn gián đoạn mấy chục năm công xã, một mặt khác, họ cũng cảm nhận sự thúc bách của cuộc sống toàn cầu hóa đang xâm chiếm đời sống thảo nguyên.

Đầu tiên nói về căn lều truyền thống. Người Mông Cổ đã giải quyết căn bản căn lều theo hướng… thị trường. Không còn căn lều hoàn toàn truyền thống như xưa nữa. Khung xương gỗ đã là gỗ công nghiệp, mái không phải là da thuộc, mà là da giả. Nói chung có mọi cấp chất lượng và giá cả căn lều, từ hàng thủ công đến công nghiệp, dao động lớn từ 400 đô đến 40.000 đô Mỹ. Điều đáng nói là phần lớn hàng lều công nghiệp đều là hàng Mông Cổ.

Thay cho xe ngựa kéo ngày xưa, ngày nay đã là xe tải, xe bán tải, xe ô tô nhỏ. Có mặt của những phương tiện này, kéo theo một vài rắc rối trong gìn giữ môi trường. Chất đốt vẫn là phân gia súc, nhưng sức kéo lại chạy bằng xăng dầu. Chỉ có những trung tâm thị trấn mới có trạm xăng dầu. Vậy thì phải dự trữ bằng can hay mọi loại đồ đựng khác. Cùng với hàng loạt đồ đựng khác, đồ nhựa có nguy cơ làm biến dạng sinh thái thảo nguyên. Tôi đã chứng kiến nhiều gia đình đi picnic, khi ra về, mọi người đều thu dọn rác rất kỹ, mang lên xe ô tô để về thị trấn, thành phố vứt vào bãi rác. Nhưng duy trì một nếp sống mới hà khắc như thế, cũng là một thách thức.

Một vấn đề ảnh hưởng lớn đến nếp sống, đó là cho con cái đi học. Một đất nước rộng gấp gần 6 lần lãnh thổ Việt Nam, chỉ có chưa đến 3 triệu dân. Ông Viên Dashtseven nói vui, Hội Phụ nữ Mông Cổ có nhiệm vụ ngược với Hội Phụ nữ Việt Nam, đó là thúc đẩy và khuyến khích sinh đẻ. Nhưng nuôi một công dân ở Mông Cổ vô cùng nặng nhọc, khó khăn hơn ở Việt Nam. Một huyện ở Mông Cổ mà tôi đến, có khoảng gần 100 hộ dân. Chủ tịch huyện có thể biết rõ tất cả dân cư của mình, nhưng khó mà đến ngay từng nhà, ngay cả thời điện thoại di động phổ cập. Bởi vì diện tích huyện lớn bằng khoảng gấp đôi tỉnh Hưng Yên, mà các hộ dân thì du mục, có ngày di động gần một trăm kilomet. Khi có đứa bé đến tuổi đi học, người mẹ phải đi cùng con đến thị trấn, ở với nó 1-2 năm, thì mới yên tâm cho con ở nội trú, trở về căn lều du mục. Tất cả các trường học đều có nội trú, nhưng cho đến nay, với mức độ xã hội Mông Cổ, không bà mẹ nào yên tâm để con mình ở trường một mình. Với người Mông Cổ, việc ăn đơn giản, thì việc ở càng đơn giản hơn, có thể sắm một cái lều, cắm ở đâu đó gần trường, gần nguồn nước, và thế là ở 1-2 năm cho đứa con cứng cáp để gửi gắm vào trường nội trú. Học hành là cả một vấn đề lớn cho xã hội du mục. Cho nên, việc vẫn có những người không đi học, hoặc học đủ đọc viết thôi, cũng là một vấn đề của người Mông Cổ.

Trong khi đó, người Nhật, người Hàn đã hiện diện ở Mông Cổ như những ông chủ đầy thế lực. Người Nhật, Hàn mang hàng hóa và ô tô đến. Họ thuê đất trồng rau. Tôi bảo ông Viên, liệu có đến ngày họ thuê đất chăn nuôi thức ăn công nghiệp không? Khi đó thì đời sống người Mông Cổ bắt đầu đối mặt với thảm họa mà thế giới và Việt Nam đang chịu đựng, đó là thức ăn bị đầu độc. Ông Viên tự tin cho rằng, điều đó chưa đến, chừng nào người láng giềng phương Nam khổng lồ còn chưa tràn qua biên giới…

Người láng giềng phương Nam của Mông Cổ, cũng là người láng giềng phương Bắc của Việt Nam. Hai nước dường như gặp cùng một vấn đề, nhưng hiện nay ở Mông Cổ vẫn còn cơ hội lạc quan. Trong chuyến đi thảo nguyên với tôi và ông Viên, có một nữ nhà thơ, đồng thời là chủ một doanh nghiệp xây dựng, doanh thu khoảng 50 triệu USD một năm. Bà chủ doanh nghiệp cho biết, bà buộc phải thuê nhân công xây dựng là người Trung Quốc, nhưng cũng có cam kết làm đúng luật, nghĩa là không cho người Trung Quốc ở quá 4 tháng, một người trong 3 năm không được gia hạn quá một lần. Bà nói, quy định này có thể thay đổi chút ít về thời hạn, nhưng mục tiêu là kiểm soát lao động và không để người Trung Quốc định cư ở lại. Theo bà chủ này, mỗi người chủ doanh nghiệp Mông Cổ vốn có sẵn tinh thần dân tộc trong máu, không bao giờ làm trái pháp luật, dù cho bà có thiệt hại tiền bạc, nhưng quyết không để thiệt đến quyền lợi chủ quyền đất nước. Đây là một lần tinh thần dân tộc được dịp phát huy, nhờ hun đúc từ tinh thần của các vua Hung và Thành Cát Tư Hãn ngày xưa.

Bằng thứ tiếng Anh không lưu loát, tôi đã hỏi chuyện một cảnh sát, và được biết, công việc quan trọng nhất của họ là tìm người Trung Quốc nhập cư bất hợp pháp. Còn người Việt thì sao? Anh ta cười, bảo tôi đến phố sửa chữa ô tô. Tại đó, có khoảng 700 người Việt làm thợ sửa ô tô. Họ chỉ làm thợ dưới sự cầm trịch của ông chủ Mông Cổ. Tại sao không người Việt nào đầu tư sửa ô tô ở Ulan Bato, mà chỉ làm thuê? Đó là một câu hỏi thú vị, nếu nghiên cứu Luật đầu tư nước ngoài của họ. Luật đảm bảo cho những nhà đầu tư lớn có tiềm lực đứng chân. Điều này Mông Cổ tỏ ra kế thừa trí tuệ và sức mạnh của các Hung và Thành Cát Tư Hãn mà con cháu vua Hùng nên học hỏi… Nương nhẹ với các bạn Việt Nam, kiên quyết với các bạn Trung Quốc, đó cũng là một cách làm đáng kính trọng, đơn giản tôi là người Việt.

Còn nhiều vấn đề khác thú vị mà tôi định nói, nhưng tôi muốn đến đất nước thảo nguyên ấy một lần nữa rồi mới viết…

hoak20bkhn Gửi lúc : (03/02/2015 | 10:25:00)
Một số ý kiến sau khi xem: Với Dashtseven

Người Mông ở ta trước đây gọi là người Mèo.Cổ nhất trong văn học,thì đọc Hai làng Tà phìn và Đông hía.Gần thì có Vợ chồng A phủ(Tô Hoài),phổ thông thì:Người Mèo có chữ rồi!Thời chiến tranh ,gọi người Mèo bên Lào thường là Mẹo.Mẹo Vàng pao(Vàng pao mới chết ở Mỹ,song chôn ở nghĩa trang nào cũng một hồi tranh cãi).Cho dù dân tộc Mèo ở ta có đổi lại tên gọi là Mông thì thế giới bây giờ đều xếp vào tộc người H” Mông cả:Người Miêu ở Trung quốc,người H”Mông ở Việt nam,Người H”Mông ở Mỹ…Tất cả nhóm người này cộng lại cũng xấp xỉ 8 triệu người,đều nói tiếng Miêu.( Xem Vikipedia tiếng Việt).Ở Mỹ ngoài một vài phiền toái của cộng đồng H”Mông với xã hội Mỹ,song thành đạt là không hiếm.Cũng chưa một thừa nhận nào gốc tích của người H” Mông,Miêu là huyết thống với Thành Cát Tư Hãn cả?
Lại nói về nước Hunggari.(Dễ dàng xem tóm tắt trên googl về nước Hung này).Nhưng lịch sử Hunggari,chưa bao giờ bị thống trị bởi quân Hung nô.Đế quốc Thổ nhi kì thì có.Ngay cái thời đế quốc Áo-Hung thì cũng do Áo dành nhiều quyền tự trị cho nước Hung mà thành.Đế quốc này cũng diệt vong từ chiến tranh thế giới thứ nhất.Ông anh ruột tôi là người Vn đầu tiên học văn học Hung,Dân tộc học Hung…Và cũng là người đầu tiên soạn cuốn Hội thoại Việt-Hung.Những năm 70 trở về trước,của thế kỉ trước,bác sỹ,chuyên gia …Việt nam sang Hunggari thực tập,công tác đều phải sử dụng cuốn hội thoại này.Cái thủa SKDA,bóng đá quân đội 12 nước XHCN sang ta ở giải giao hữu.Khi quốc ca của Hung tấu lên,cầu thủ Hung có hát theo.Tôi có hỏi ông anh:sao quốc ca Hung buồn thế?Trả lời:Hàng trăm năm nay nó thế ,dân Hung cũng là dân du mục.Lịch sử luôn bị thôn tính ,tự mình chưa một lần tự giải phóng, đều do nước khác giúp…Họ chẳng cần thay đổi, quốc ca,thế nào thì thế.Có thể câu nói:Nước tao chẳng có chiến thắng vĩ đại gì với ngoại xâm,nhưng dân tao lại bằng lòng với cuộc sống.Là từ mấy ông người Hung này chăng?...Cũng phải nói thêm vụ nhân văn giai phẩm ở ta,những năm 56-59 của thế kỉ trước cũng bắt nguồn một sự kiện ở Hunggari trước đó…Bài viết suy diễn từ Hung nô,sang từ Hunggari là không đúng?
Thành Cát Tư Hãn thì quá rõ:thôn tính Trung nguyên ,một phần châu Âu…suýt nữa cả đế quốc La mã.Nhưng đó là thời chiến tranh được giải quyết trên lưng ngựa.Cuộc chiến thôn tính ,đồng hóa người da đỏ ở Mỹ cũng vây.Lúc đầu người da trắng thất thế vì ít ngựa hơn người da đỏ.Nhận ra điều này,thì người da trắng chiến thắng bởi những tay chiến,trung đoàn kỵ binh…Ta ba lần thắng quân Nguyên –Mông một phần là ý chí dân tộc ,một phần địa hình của ta ngựa Mông cổ đâu làm được gì?...
Đất nước Mông cổ bao la,giàu khoáng sản.Nhưng thời tiết ở đất nước này vào loại khắc nghiệt và dữ dằn nhất thế giới.Đến người Nga mà còn sợ cái khắc nghiệp này.Dân số Mông cổ thấp vào loại nhất thế giới?Nhà nước Mông cổ có nhiều chính sách khuyến khích tăng dân số?Song chưa bao giờ thành công?Thời Liên xô cũ người Việt có ở Mông cổ về nói chuyện:không may làm phụ nữ Mông cổ có thai.Mình thì sợ,họ lại vui mừng.Thậm chí đến chúc mừng,mà không đòi hỏi rằng buộc gì…Giống ngựa chiến Mông cổ luôn quí?Nhưng nhập, giờ để làm gì?Ngựa đua thì lại khác,vả lại còn phải thuần hóa nó nữa.Thủ đô Ulanbato,giờ chắc hiện đại?Song tôi doan chắc thế nào cũng vẫn còn nhà lều truyền thống…
Biết thì nói,không biết thì thôi!Chỉ là những cái thấy…chứ chẳng phải nghiên cứu phản biện gì?Nên mong nhà văn thông cảm.Đoạn viết thêm hay nói về những biến cố của Mông cổ.Nhà văn có nói đến cái bi thảm của CCRĐ?Nhưng CCRĐ ở Liên xô cũ,hay Trung quốc liệu có bi thảm?Nên khó bàn luận.Tuổi thơ của tôi,lúc 5-6 tuổi,có đi xem đấu tố địa chủ ở vùng Hà đông cũ.Một ông già lắm yếu xiêu vẹo…được dẫn giải ra,trói và nhốt trong lồng sắt, quấn bằng dây thép gai.Mấy bà xắn váy quai gồng,xỉ và ,chửi bới cái ông già tội nghiệp kia…Tôi ngay lúc đó,chỉ thấy thương ông cụ,,nhiều đứa trẻ như tôi còn khóc ré lên.Thấy ghét các bà kia…Sao thế nhỉ?Cả nhà tôi cũng mới đi kháng chiến về,sao tôi lại xót thương địa chủ?Còn xử bắn,thì không dám xem và không ai cho xem rồi…1975,giải phóng Sài gòn xong.Tôi hỏi các bé Sài gòn.Thằng Nguyễn Văn Thiệu có yêu thiếu nhi không.Các bé vặn lại tôi:Sao gọi bằng thằng,ông người lớn mà nói lộn thế ư?
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : vnxzqv
Bài viết khác