Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Nguyễn Việt Long

Bình Luận của Nguyễn Việt Long

Chi tiết "lãnh tụ cực tả của QDĐ Lão Trung Kha" viết sai tên. Chả có ai là Lão Trung Kha cả, đó là Liêu Trọng Khải.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Tôi không rành về Lào cho lắm, nên không hiểu chế độ hiện nay như thế nào? Nhiều khi thấy thế giới phân loại các quốc gia cộng sản gồm 5 nước thì có Lào. Nhưng đọc một văn bản của Cộng đồng Châu Âu xếp loại 4 nước cộng sản trên thế giới thì không có Lào. Nghe nói, họ còn bảo VN sang mà đưa tượng ông cụ về đi.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
nguyen thi cam tu

Bình Luận của nguyen thi cam tu

cac ban oi cho minh y kien nhe. vay tom lai ho quy ly duoc xem la anh hung hay gian hung
Bút Ký
Nghiên cứu ông Cụ (bài 1)

I.

Nói gì thì nói, ông Cụ đã thành nhân vật lịch sử, như Oasinhton, như Lenin, như Hitle… vân vân. Rất hay và cũng rất dở là người phương Tây tư bản lại là những người nghiên cứu tiểu sử Ông Cụ nghiêm túc nhất, hay ho nhất. Do yêu cầu công việc, tôi cũng vô tình phải nghiên cứu ông Cụ này, giai đoạn 1930-1932 và 1941-1945. Giai đoạn 30-32 là vì vướng vào vụ tụng đình, những người tiền nhiệm làm phim “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Công”, có một tiến sĩ sử học Việt Nam kiện bản quyền, tôi là người kế nhiệm phải hầu tòa. Ông Cụ không biết vụ án của cụ, kéo dài đến tận năm 2016. Có dịp tôi sẽ kể về vụ kiện này, nhiều cái khoái chí chả kém vụ ông Cụ bị giam, nhân tình thế thái rất điển hình. Còn giai đoạn 1941-1945 là do tôi tự nguyện. Vốn viết tiểu thuyết lịch sử, sau những chuyện ông hoàng bà chúa, mà tư liệu rất ít ỏi, ngòi bút được tung hoành, thì giai đoạn rất gần chúng ta, tôi muốn nghiên cứu các nhân vật như nó thực sự thể hiện thế nào. Vấn đề này rất khó, phải vượt qua hàng rào những tuyên truyền ầm ĩ, cân đối nó với hàng rào kiểm duyệt, tham khảo tối đa những cái nghiêm túc mà phương Tây khách quan đã làm.
Trong quá trình xem xét (tôi muốn dùng từ này, tránh từ “nghiên cứu” của các nhà kinh viện tự xưng) tiểu sử ông Cụ, điều bất ngờ nhất là hầu như các tư liệu trong quá trình phát động cuộc học tập và làm theo đạo đức ông Cụ, đều vô dụng. Những chuyện kể, những đăng đàn diễn thuyết đều làm hình ảnh ông Cụ méo mó, cách xa sự thật. Có ông tiến sĩ HCB nào đó, còn đi nước ngoài nói chuyện về ông Cụ, như thể nói chuyện với đồng bào Tày Nùng vào năm 1941. Khi đó chắc ông Giáp vận động Việt Minh cũng không dám nói thần thánh hóa, sùng bái đến thế. 
Có 3 nguồn tư liệu qua trọng: 
1. Những tiểu sử hồi ký viết càng xa năm 1975 càng chân thực. Ví dụ loạt hồi ký của Võ Nguyên Giáp, các tướng lĩnh và nhà hoạt động cách mạng thời kỳ tiền khởi nghĩa: Nguyễn Lương Bằng, Phùng Thế Tài, Quang Trung, Lê Quảng Ba… Bóc tách những bình phẩm kính trọng và thần thánh hóa ông Cụ, còn lại sự kiện mà các nhân vật tham gia vào. Thời kỳ chống Mỹ, mà hồi ký vẫn nói ông Cụ thích Mỹ thì rõ ràng là rất khách quan, thời kỳ thân Tàu Bắc Kinh, mà những sự kiện mô tả ông Cụ thân thiết tướng lĩnh của Tưởng, thì đó là những sự thật không thể giấu được. Thời kỳ trước năm 1975, người viết người ghi rất rõ ràng, ông này kể, ông kia ghi. Đến như tác phẩm rất quan trọng của ông Giáp, cũng ghi rõ, ông Giáp kể, nhà văn Hữu Mai ghi. Không như sau này, nảy sinh một tầng lớp bồi bút (phải nói rõ thế, không có chữ nào thay thế), song song với nó, là những “ông chủ bút”, mà nhiều quyển hồi ký, hơi hướng hồi ký ghi tác giả là các nhà hoạt động có chức sắc, nhưng thật sự là người khác viết. Bỏ qua chuyện bản quyền, thì những người nghiên cứu nhân vật và sự kiện sẽ khó khăn bóc tách cái gì là tư liệu, cái gì là người viết thêm dấm ớt vào, hoặc nếu có hỏi thì sẽ hỏi được. Trong vô số chuyện kể lại, có những chuyện của những người chống chế độ XHCN Hà Nội cũng rất đáng xem xét. Ví dụ đoạn hồi ký của Bảo Đại, của Ngô Đình Diệm, của Linh mục Cao Văn Luận… vân vân
2. Những sách báo từ phía bên kia “chiến tuyến”. Chiến tuyến trong ngoặc kép. Có một số tác giả phương Tây, gặp ông Cụ thời gian ngắn, nhưng viết sách với sự kính trọng không giấu. Họ kính trọng ông Cụ không giống ông Tý bà Tèo được tuyên truyền, mà quan sát một nhân cách, một người lãnh đạo ở một giai đoạn nhất định. Liệt vào loại này có thể kể “OSS và Hồ Chí Minh” của Dixxe R. Bartholome, và quyển “Tại sao Việt Nam” của Archimedes L.A. Patti và một số hồi ức của những người khác. Nhưng tôi quan tâm nhất là dạng sách của những người thế hệ sau, viết về ông Cụ như những tác giả nghiên cứu chuyên nghiệp. Có thể họ viết sách không phải vì lòng kính trọng, mà là do yêu cầu công việc, do một sự ngẫu nhiên nào đó, chọn đề tài để làm luận văn, hoặc do thôi thúc tìm hiểu một giai đoạn mà dẫn đến nghiên cứu ông Cụ. Loại này có rất nhiều, nhưng tôi thấy thú vị nhất là sách của bà Sophi Quinn-Judge, bà này dành 10 năm nghiên cứu ông cụ, bỏ công tìm tư liệu ở Pháp, Nga, sục sạo vào kho lưu trữ của Mật thám Pháp và Lưu trữ của Đảng cộng sản Liên Xô, đã giải mật. Những chuyện ông Cụ có vợ, thư gửi mẹ vợ, hay chuyện sống thử với Minh Khai… đều có những kiến giải nhất định, có bằng chứng tư liệu. Bà này rất khách quan, cái gì ông Cụ còn thiếu mà rõ thì bà bảo có, cái gì đồn đại mà không có chứng cứ thì bà cũng bảo còn chưa rõ. Quyển tiểu sử thứ hai của ông CỤ là quyển sách của ông William J. Duiker. Quyển sách này có thời ầm ĩ trên sách báo của ta. Là vì ông Duiker muốn xuất bản sách ở Việt Nam, các anh xuất bản ở VN (dĩ nhiên là cấp trên các anh ấy) muốn cắt cứa một số chỗ, và hình như tiền trảm hậu tấu, nên ông Duiker có phản ứng sao đó. Ông Duiker không dấu sự kính phục ông Cụ, nhưng cũng như các nhà viết sử chân chính, cái gì hay thì ông bảo hay, cái gì dở thì ông ấy cũng bảo dở, thì có làm sao. Nhưng một thời gian người ta dị ứng với chuyện đó, đơn giản như chuyện ông Cụ yêu đương hơi nhiều, lại còn lấy vợ như một ông nhân viên văn phòng. Theo tôi, chuyện này nên dần dần nói cho công chúng biết. Dĩ nhiên còn bọn thần thánh hóa ông Cụ thì chuyện này còn chưa được. Thần thánh hóa là giết chết ông Cụ một lần nữa, họ không biết tác hại ra sao. Nếu bảo ông cụ có yêu, có vợ, thì sao nào? Thì thế hệ thanh niên thế kỷ 21 mới có thể kính trọng một con người, chứ không phải ông thần thánh nào đó.
3. Một nguồn tư liệu tham khảo rất dễ bỏ qua, nhưng phải sàng lọc, đó là những bài báo của những nhà nghiên cứu, nhà hoạt động giai đoạn trước, giải mật một số sự kiện quá khứ. Thời gian gần đây, tạp chí Hồn Việt hay đăng những bài như vậy. Người chủ bút tạp chí này, tôi không quen, nhưng nhiều nhà văn đánh giá là môt người bảo thủ hạng nặng. Nhưng thật lạ lùng, những bài báo giải mật lịch sử chỉ có thể xuất hiện ở tạp chí này, nếu đưa đến các báo khác, chắn chắn không dám đăng. Có mấy sự kiện đã được báo này nhắc đến:
a. Ông Cụ có đi lính cho Pháp khoảng 1912-1913, trong chiến tranh thế giới thứ nhất
b. Ông Cụ có tham gia Hội Tam điểm một thời gian ngắn
c. Đừng nói Trần Phú, Hà Huy Tập là học trò của ông Cụ, họ đã đấu tố ông Cụ, chỉ có may mắn lắm mới khiến Sit không đòm cho ông Cụ như các vị khác.
d. Vụ vượt qua nghi vấn năm 1935-1940, ông cụ bị ngồi chơi xơi nước, rồi QTCS lập ban xem xét nghi vấn, xét xử ông Cụ, Lê Hồng Phong và bà Vera bỏ phiếu tha nên ông Cụ thoát. Chuyện này trùng với khoảng trống trong tiểu sử ông Cụ.
e. Ông Cụ có thời gian đi nhà thờ, dòng Tin lành. Chuyện này nhiều nhân chứng kể lại. Cho nên phim “Vượt qua bến Thượng Hải”, các tác giả cho ông cụ tá túc ở nhà thờ, yêu một cô gái theo đạo công giáo.
f. Hồi gặp Stalin, Sit có hỏi ông cụ mấy câu: Vì sao giải tán Đảng, vì sao không cải cách ruộng đất, vì sao không đặt tên nước là Cộng hòa XHCN… Toàn chuyện bị giấu biệt.
Tóm lại: Tôi muốn xem xét một nhân vật của lịch sử, chứ không phải một lãnh tụ của Đảng. Một tác phẩm văn học nên viết như thế nào để trình bày những con người trong giai đoạn lịch sử đó? Đó là quan tâm của tôi. Cũng như quan tâm đến Gia Long, Nguyễn Huệ, Lê Chiêu Thống, Nguyễn Hoàng…v.v Tôi không có sức lực và trình độ để nghiên cứu khoa học tiểu sử ông Cụ, thì chí ít cũng làm như vậy thôi. Bài sau sẽ trình bày một số vấn đề mà báo chí, các bạn FB thì một số chửi rủa, một số ca tụng. Tôi cho rằng, sự thật lịch sử chỉ có một, chửi hay ca là do bạn chọn nên làm thế nào thôi. Tôi không chọn cả hai cách ấy.

 

II- Lược thuật giai đoạn “anh Thành”)

1. Tôi định bỏ qua giai đoạn Ông cụ hàn vi, có tên Tất Thành, vì giai đoạn này nhiều người biết. Song, đọc lại một số tư liệu, thì thấy có thể nhiều tình tiết còn mù mờ, mà không phải ai cũng biết.
2. Anh Thành xuống tàu “Đô đốc Latoutche Treville” đi Pháp năm 1911, làm phụ bếp. Tình tiết này các tài liệu đều nhất trí như tiểu sử chính thức của Ông cụ. Phụ bếp nhưng không có nghĩa là chỉ nấu nướng, anh ta phải làm mọi việc tạp vụ từ rửa ấm chén cho đến cọ nhà vệ sinh. Trong quyển sách của Trần Dân Tiên, có tình tiết khi nói chuyện ra đi với một người bạn, khi đó các anh đều không có đồng xu dính túi, thì anh Thành giơ hai bàn tay ra mà nói: “đây, tiền đây”. Trong các sách viết về một nhân vật, nhiều người không phân biệt được loại khảo cứu, tiểu sử và loại sách văn học viết về nhân vật. Sách của Trần Dân Tiên thuộc thể loại văn học, có hư cấu. Tình tiết giơ hai bàn tay ra, có thể là một tình tiết văn học, chứ thời điểm anh Thành đi Pháp tại Sài Gòn, cho đến nay các nhà viết sử không thể tra tư liệu được vì sao anh ra đi, vì liên lụy đến ông bố bị kết tội có tư tưởng chống Pháp, vì giao du với các phần tử nguy hiểm mà đi, hay vì mưu sinh, hoặc vì “tìm đường cứu nước”. Sau này, những sách loại như “Búp sen xanh” hư cấu ra cô Huệ, hoặc vẽ ra suy nghĩ lớn lao của anh Thành, cũng như tình tiết giơ bàn tay “đây tiền đây” mà thôi.
Cụm từ “tìm đường cứu nước” bị phái chống đối Hà Nội cho là đánh bóng Ông cụ. Tuy nhiên, đó cũng là một kiểu hành văn mà xem xét kỹ hoàn cảnh xã hội thời đó thì rất đúng. Dù anh ta có đi làm culi cu leo, thì mục đích tối thượng sau này đạt được đều có hành vi quá khứ. Ý thức về quốc gia, dân tộc của một thanh niên có học hoàn toàn hợp lý, khi nói anh ta ra đi để tìm đường cứu nước. Nhưng cứu nước thế nào, chắc chắn anh Thành cóc biết, đến loại đầu sỏ như các ông Phan còn lúng túng nữa là....
3. Sau khi tàu “Đô đốc LT” đến cảng Marseilles (Pháp), anh Thành có gửi cho Tổng thống Pháp một bức thư xin học bổng. Bức thư này hoàn toàn không có trong các sách chính thống về tiểu sử Ông cụ. ”Marseilles 15/9/1911 Thưa ngàI Tổng thống! Tôi rất rất lấy làm vinh dự được nhờ ngài một việc nhỏ để có thể được vào học tại trường Thuộc địa như một sinh viên thực tập. Hiện tại, để kiếm sống, tôi đang phải làm việc tại hãng Chargeurs Réunis (tàu đô đốc LT). Tôi đang bị bỏ rơi và rất muốn có được một nền giáo dục đầy đủ. Tôi muốn trở thành có ích cho nước Pháp về vấn đề các đồng bào của tôi, và giúp họ có thể được hưởng những thành quả của giáo dục. Tôi sinh tại tỉnh Nghệ an thuộc Annam. Vô cùng biết ơn Ngài Tổng thống đã ra tay cứu giúp Nguyễn Tất Thành, Sinh năm 1892 Con ông Nguyễn Sinh Huy (Tiến sĩ) Sinh viên Pháp ngữ và Hán ngữ”
Việc anh Thành làm đơn xin học bổng, cũng là chuyện đơn giản có thể hiểu được, tuổi còn trẻ, học hành dang dở ở trong nước, thì nguyện vọng vào trường Thuộc địa ở Mẫu quốc, cũng rất xác đáng. Nhưng đơn của anh Thành bị bác. Trường này hàng năm chỉ có 20 suất ưu tiên cho con quan lại, lọc lựa hẳn hoi, sau khi tra ra thân thế ông bố, thì cửa trường đóng sập với anh Thành. Giả sử anh Thành được nhận, có thể số phận dân tộc Việt Nam sẽ khác. Nhưng lịch sử không có giả sử.
4. Từ khi đến Pháp năm 1911, cho đến khi đi khỏi Pháp lần thứ nhất năm 1914, là giai đoạn cực khổ của anh Thành. Giai đoạn này các sách chính thống không nói đến. Đây là lúc Thành làm culi thực sự, kiếm sống thực sự. Nếu Thành là nhà văn, thì anh ta viết ra còn gấp mấy lần thực tế mà Macxim Gorki nếm trải. Anh làm vườn, quét tuyết, đốt lò, làm thuê các việc như một ô-sin thời nay, anh xuống tàu đi các nước. Chắc là xuống tàu cũng chỉ làm cao nhất là phụ bếp. Việc tính đếm các nước mà Ông cụ đặt chân đến chính là giai đoạn này, có mà vô số. Thủy thủ đến bến, chỉ có thế thôi, có gì mà tự hào, nhưng khối anh cũng nói được. Chỉ có một nơi sau này Ông cụ có nói đến, là nước Mỹ, tàu anh Thành có ghé qua. Ông cụ nói rõ đến Boston, làm bánh ở Khách sạn Omni Parker House. Mấy năm trước, khách sạn này làm cú PR ngoạn mục, tìm đâu ra cái bàn cũ đặt ở tầng hầm, bảo rằng Ông cụ làm bánh ở đó. Quan khách khắp nơi, nhất là từ VN, đến trầm trồ. Gần đây, tạp chí Hồn Việt có đăng bài khảo cứu của một người nước ngoài, vạch trần sự láu cá của các anh khách sạn Omni Parker House. Câu chuyện ông cụ làm bánh ở đó do ông cụ kể lại thì biết vậy, cái bàn kia chắc chắn là ngụy tạo, ông cụ đến năm 1913 hay sau năm 1917 cũng còn tranh cãi, có ở lâu ngày hay chỉ ở đó đợi tàu bảo dưỡng rồi goodbye thì cũng không rõ nốt. Giai đoạn gian khổ chìm nổi này của anh Thành kết thúc khoảng cuối năm 1914, khi Thành thực sự làm phụ bếp cho nhà đầu bếp nổi tiếng Auguste Escoffier trong Khách sạn Drayton Court.
5. Từ 1914 đến 1917 là giai đoạn trắng trong tiểu sử chính thống của Ông cụ từ trước đến nay. Bà Sophie Quinn-Judge cũng chỉ cố gắng đào bới tư liệu cho rằng Ông cụ ở Anh. Nhưng gần đây, người ta tìm ra chứng cớ là Ông cụ đăng lính gần 2 năm. Nguyên nhân là Auguste Escoffier có đứa con phải đi lính nghĩa vụ. Chiến tranh thế giới thứ nhất bắt đầu ác liệt. Nội vụ không biết thế nào, nhưng cuối cùng thì thay cho anh Escoffier là anh Thành đi lính. Anh đi đâu, đóng quân ở đâu, làm gì, có bắn đòm đòm ai không thì không ai biết. Nhưng giai đoạn ở Anh, anh Thành vẫn duy trì thư từ với cụ Phan Chu Trinh, những thư này sau này lọt vào tay mật thám Pháp, từ đó người ta dựng lại sơ bộ đời sống của anh Thành. Trong các thư gửi từ Anh, cũng không cho biết anh Thành chính xác ở đâu, làm gì, mà cũng có thể ông ấy chẳng ở Anh chỉ gửi người mang thư sang Anh gửi cho “chú Phan” mà thôi. Bởi vì khoảng 1917, khi tìm thấy thư của Thành gửi từ số 8, Stephen Street, Tottenham Court Road, London, cảnh sát đến nơi thì chả tìm ra ai cả.
6. Quan hệ của anh Thành với nhóm Phan Chu Trinh tại Pari cũng là một tình tiết gần đây mới có trong các sách tiểu sử ông Cụ, trước đây tuyệt nhiên không. Cụ Phan Chu Trinh và Phan Văn Trường tập hợp khoảng 20 chục người An Nam làm một nhóm gọi là “Hội thân ái”. Cụ Phan có tư tưởng, nhưng không có khả năng tổ chức, đi Pháp nhờ có học bổng chính phủ Pháp, còn ông Trường là Luật sư, quốc tịch Pháp. Các ông ở trong lòng nước Pháp, nghĩ cách chống lại nó, tất nhiên bị nó phát hiện. Hai ông bị bắt rồi thả ra. Mật thám cài người vào cộng đồng An Nam quanh các ông cấp tiến. Khoảng năm 1917, người ta thấy anh Thành xuất hiện trở lại Pháp, lúc này không còn dưới cơ các cụ Phan khá nhiều như dăm năm trước. Anh Thành đã đi nhiều nơi, đã đọc đã học, đã chiêm nghiệm, đã tiếp xúc nhiều. Giai đoạn này bắt đầu cuộc đời hoạt động cách mạng thật sự, và bắt đầu xung đột về tư tưởng với cụ Phan, dấu vết các cuộc tranh luận ấy còn trong các bức thư cụ Phan và anh Thành gửi cho nhau. Cụ Phan cho rằng Thành cấp tiến, giao du với đám cần lao cộng sản và khuyên Thành nên về nước vận động đồng bào. Trong các thư gay gắt của cụ, đọc ra ngay sự tức giận của người già, đáng lẽ mày phải là đồ đệ tao, nhưng nay mày muốn vùng thoát. Trong đó chen lẫn sự tranh luận, là mắng mỏ, ve vuốt của bậc chú bác đã đi trước. Thành chắc chắn nhìn thấy tư tưởng cụ Phan có sự bảo thủ và thụ động, nhờ Pháp thì không thể giành được độc lập cho đất nước. Thành cũng nhìn thấy đặc tính nhà nho ở các vị tiền bối, nói giỏi mà không hành động, không có khả năng tổ chức.
7. Giai đoạn 1917 đến 1920, từ khi anh Thành về Pháp, đến khi dự đại hội Tua, là giai đoạn bản lề trong cuộc đời dấn thân của anh Thành. Sự kiện hay được nhắc đến là năm 1919, anh Thành mang bản yêu sách 8 điểm “Yêu sách của dân An Nam” gửi các nước Đồng minh. Ký tên dưới bản yêu sách này là “Nguyễn Ái Quốc”. Bắt đầu một sự rắc rối lớn cho hậu thế tranh luận. Những người chống đối Ông cụ cho rằng cái tên Nguyễn Ái Quốc là chung cho cả nhóm Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Tất Thành mà sau này Ông cụ nhận tất cả. Điều này dẫn đến phải phân tích các sự kiện: Khi anh Thành từ Anh về Pháp, gặp lại hai cụ Phan, thì cái hội ái hữu của hai cụ sau khi bị mật thám khủng bố gần như tan rã. Họ thành lập một hội mới lấy tên là “Hội Ái quốc An Nam”. Có thể do cái tên này mà tất cả những người trong hội đều là “Ái Quốc”. Có tác giả còn nói, một số bài báo ký tên “Nguyễn Ái Quốc” cũng đều do hai cụ Phan viết, lý do là Thành không giỏi tiếng Pháp. Điều này khách quan mà nói chưa phải lý do chắc chắn lắm. Năm 1912 bảo Thành không giỏi tiếng Pháp thì đúng, nhưng năm 1919 anh Thành đã có 8 năm lăn lộn rồi, biết thêm tiếng Anh và đi chu du thế giới rồi. Ông cụ sau này có lúc nói rằng, Ông cụ viết bản yêu sách này, còn Phan Văn Trường có biên tập lại. Vấn đề là sau đó chính anh Thành là người phân phát bản kiến nghị tận tay các nghị viên và Tổng thống Pháp, chính Thành trao tận tay bản kiến nghị cho đại diện các nước đồng minh. Bản kiến nghị không đòi độc lập dân tộc, mà chỉ đòi một số quyền tự quyết về chính trị, bình đẳng nhân quyền, tự do hội họp, bãi bỏ một số thuế hà khắc… Công bằng mà nói, giả sử không biết ai viết ra, nhưng chỉ biết anh Thành là người dũng cảm đương đầu với chuyện phân phát một tài liệu chống chính quyền Pháp, thì anh Thành vẫn phải chịu trách nhiệm về nó. Sau này, chuyện bảo rằng bản yêu sách ký tên Nguyễn Ái Quốc là tên chung, cũng chỉ là đoán, một phương án giải mã quá khứ mà thôi.
Từ đó, tên Nguyễn Ái Quốc xuất hiện trên tài liệu của mật thám Pháp, trên báo chí Pháp, trong các buổi hội họp ở thủ đô Pari. Bản yêu sách không đi đến đâu, các đại biểu nhận nó rồi vứt đi. Còn anh Thành thì công khai nhận mình là Nguyễn Ái Quốc. Sự kiện này bác bỏ luận điệu những người chống Ông cụ bảo cụ nhận vơ tên của cả nhóm. Ông cụ ký tên, tự xưng tên khi các ông ở Hội Ái quốc An Nam còn sống nhăn ở giữa Pari cơ mà. Hoặc là có cụ Phan Chu Ái Quốc, Phan Văn Ái Quốc mà người ta không biết?

Top of Form

Bottom of Form

 

 

III. Sự kiện đáng chú ý ở Trung Quốc 1925-1927)

1. Một giai đoạn cũng rất hay trong tiểu sử Ông cụ, là từ khi Ông cụ tham gia Đại hội quốc tế cộng sản đến khi về Trung Quốc. Phân tích con người Ông cụ giai đoạn này liên quan đến nhiều sự kiện chính trị của phong trào cộng sản, sự đấu tranh nội bộ tổ chức cộng sản quốc tế này, tôi không post ở đây (s3,s4). Một thời, nhiều người Việt được tuyên truyền rằng Ông cụ dường như là lãnh đạo quan trọng của QTCS. Nhưng thật sự không phải như thế. Ông cụ là đại biểu của Đảng cộng sản Pháp, là một đảng viên thường thì sao có thể len vào hàng ngũ những nhân vật quan trọng của QTCS. Có một tổ chức được thành lập bên cạnh QTCS,đó là Quốc tế nông dân, tương tự như một tổ chức đoàn hội nằm trong mặt trận thống nhất dưới lá cờ của QTCS, và Ông cụ được bầu vào làm ủy viên BCH Quốc tế nông dân. Tổ chức này nhằm đoàn kết và vận động nông dân dưới cờ chủ nghĩa cộng sản
Những cố gắng hoạt động của Ông cụ ở thủ đô Liên Xô chủ yếu là nỗ lực cá nhân, do có một số quan hệ với các nhà lãnh đạo QTCS, trực tiếp là Ban Phương Đông, cơ quan theo dõi phong trào cộng sản của các nước châu Á. Quốc tế nông dân không phải một cơ quan trực thuộc hay cấp dưới của QTCS. Việc chọn hoạt động trong Quốc tế nông dân, chứng tỏ chí hướng nhất quán của ông cụ, là tranh thủ tổ chức này, phục vụ mục tiêu quan tâm đến vấn đề thuộc địa, cụ thể là thuộc địa Pháp, nơi nông dân chiếm đa số…

2. Năm 1925, Ông cụ về Trung Quốc, bắt đầu ở Bắc Kinh, sau đó về Quảng Châu. Từ 1925 đến 1931 là giai đoạn phức tạp nhất trong tiểu sử của Ông cụ. Sau này có nhiều cách diễn giải khác nhau, trong đó có sự kiện được cho rằng Ông cụ cưới vợ là Tăng Tuyết Minh gây đồn đoán nhiều nhất và sự kiện thành lập Đảng cộng sản Đông Dương. Sự kiện rất nhiều. Ngày nay tư liệu cũng rất nhiều, từ các nguồn giải mật của mật thám Pháp, của kho lưu trữ Đảng cộng sản Liên Xô. Người ta tìm thấy các báo cáo, thư từ của Ông cụ, các báo cáo của điệp viên Pháp trong tổ chức Thanh niên, của các nhà hoạt động khác liên quan đến ông Cụ. Giai đoạn 1925-1931 có thể tạm chia làm 2 thời kỳ, lấy năm 1927 làm điểm phân cách, thời điểm Quốc –Cộng ở Tàu bắn nhau, sau đó Ông cụ tẩu thoát sang Mat, rồi chu du châu Âu một số ngày, qua Thái cuối cùng mới về Hồng Công, tham gia thành lập đảng và năm 1931 bị bắt ở đó. Phần S1 tôi đã nói rõ, do thúc bách vướng vào vụ kiện “Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Công” sau khi chiếu phim “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Công”, mà tôi phải thận trọng xem xét giai đoạn này của Ông cụ. Cho nên ở đoạn S5 này, tôi chỉ nói đến một vài sự kiện ĐÁNG CHÚ Ý vào giai đoạn 1925-1927.
3. Cần phải biết hoàn cảnh Trung Quốc vào năm 1925. Tôn Trung Sơn cầm quyền ở TQ có chính sách đoàn kết với Đảng cộng sản TQ (Nội liên) và hướng về nước Nga Xô Viết. Từ 1923, nhiều cốt cán của Đảng Cộng sản TQ tham gia vào bộ máy Quốc dân đảng và giữ các chức vụ của tổ chức chính quyền, trong đó đáng chú ý có Học viện Quân sự Hoàng Phố. Phái đoàn của Bộ Ngoại giao Xô Viết đến TQ như một đoàn cố vấn, cơ cấu lại các tổ chức Quốc dân đảng theo kinh nghiệm Xô Viết, do Borodin cầmđầu. Khi đó, Quảng Châu là nơi có nhiều tổ chức quân sự, chính trị của Quốc dân đảng, và giữ cho việc quan hệ với TQ không công khai, nên phái đoàn Borodin không ở Bắc Kinh mà đóng ở Quảng Châu.
Trong các đoạn tiểu sử của Ông cụ, hay nhắc đến lơ lửng là Ông cụ với tên Lý Thụy, làm phiên dịch giúp việc cho phái đoàn Borodin, khiến nhiều người lầm tưởng là Lý Thụy là nhân viên chính thức hoặc “ký hợp đồng” với phái đoàn Borodin. Thực ra là Ông cụ về Tàu, không phải với danh nghĩa gì của Quốc tế cộng sản, hoặc thậm chí danh nghĩa Quốc tế nông dân. Ông cụ chỉ được cấp vé đi từ Mat qua ngả Vladivostoc, về Quảng Châu với tư cách cá nhân. Đến Quảng Châu rồi, Ông cụ phải tự “kiếm sống”, xoay sở thế nào đó mà lọt vào mắt Borodin, nhưng thực sự ăn lương của Chi nhánh Điện tín Nga tại Quảng Châu (ROSTA), tiền thân của Thông tấn xã Liên Xô TASS. Như thế, phải nói Ông cụ là nhà báo thông tấn xã trong thời gian đến Quảng Châu mới đúng. Phiên dịch cho Borodin chỉ là một việc phái sinh hoặc do nhu cầu hoạt động cách mạng. Borodin là người nhiều năm ở Mỹ, Lý Thụy cũng nói được tiếng Anh, tiếng Pháp, biết tiếng Tàu, nên thích hợp với chân phiên dịch cho Borodin. Trong các tài liệu để lại, cho thấy Lý Thụy ở trong trụ sở phái đoàn gọi là Bao công quán, cạnh cơ quan trung ương Quốc dân đảng TQ, như là một sự tá túc, do lòng tốt của Borodin, chứ không phải biên chế chính thức của phái đoàn.
4. Công việc của Lý Thụy giai đoạn sau năm 1925 ở Quảng Châu, nhiều báo chí chính thống nói đến, chính là thành lập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội, mở các lớp huấn luyện cách mạng cho thanh niên từ trong nước sang, gửi một số thanh niên đi học Học viện Quân sự Hoàng Phố, và một số đi học đại học cộng sản Phương Đông ở Liên Xô. Khi đến Quảng Châu, Ông cụ bắt mối với nhóm Tâm tâm xã đã được Nguyễn Hải Thần lập ra từ trước. Sau này có giai đoạn nói Ông cụ lập ra nhóm này là không đúng. Nhóm Tâm tâm xã có nhiều thanh niên nhiệt thành, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Hải Thần, một người tham gia Việt Nam Quốc dân đảng, chủ trương bạo lực bí mật. Chính nhóm này đã tổ chức vụ ám sát toàn quyền Merlin, khiến Phạm Hồng Thái phải tự vẫn. Trong những người Tâm tâm xã ở Quảng Châu, dần dần Ông cụ lôi kéo về phía mình được một nhóm trung thành với lý tưởng cách mạng của Ông cụ, hạt nhân là các thanh niên đồng hương Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong… có sự ủng hộ của Lâm Đức Thụ. Trong các hồ sơ giải mật, người ta đã chắc chắn là Lâm Đức Thụ làm gián điệp cho Pháp, y báo cáo chi tiết về Lý Thụy và tổ chức VNTN CMĐCH. Lâm Đức Thụ thể hiện là điệp viên 2 mang, y báo cáo với Lý Thụy và các đồng chí lãnh đạo là giả vờ cung cấp tin đánh lạc hướng, và nhận tiền của Pháp để lấy kinh phí hoạt động cho tổ chức. Chính hoạt động của Thụ gây hại cho Ông cụ.Sau này, các tài liệu,ảnh và lý lịch của những người tham gia lớp huấn luyện rơi vào tay mật thám Pháp, Hà Huy Tập đã báo cáo QTCS, quy tội nặng nề cho Nguyễn Ái Quốc, tuy không có bằng cứ phản bội, nhưng Tập đã cho rằng Quốc “yếu kém về tổ chức” và “lập trường thỏa hiệp với những thành phần không thuộc giai cấp vô sản”. Lâm Đức Thụ về Việt Nam sau năm 1945, trở về quê Thái Bình, chết không rõ làm sao.
5. Trong nghiên cứu của Duiker, về giai đoạn này ông viết: “Nhờ mối liên hệ của chính quyền Tôn Trung Sơn với QTCS, Quảng châu lúc đó được coi như là “Matxcơva của phương Đông” thu hút các nhà cách mạng từ Triều Tiên, Ấn Độ, Đông Dương và Tây Ấn thuộc Hà lan.(Tây Ấn: Indonexia). Từ kinh nghiệm hoạt động ở Paris, Quốc cùng với đặc vụ của QTCS người Ấn độ Roy và lãnh tụ cực tả của QDĐ Lão Trung Kha, thành lập “Hội các dân tộc bị áp bức châu Á”. Một lần nữa, lại thấy mối quan tâm của Ông cụ không phải là phong trào cộng sản, mà là phong trào dân tộc. Hội các dân tộc bị áp bức châu Á lấy việc làm cách mạng dân tộc làm chính, trong khi tư tưởng của QTCS theo Stalin là cách mạng dân tộc chỉ là bước đệm tiến tới cách mạng vô sản thế giới. Các tài liệu huấn luyện TNCMĐCH cũng được soạn theo tư tưởng mặt trận thống nhất khi tiến hành Đại hội 5 QTCS, nói cách mạng vô sản thế giới có 2 giai đoạn, và tập trung giảng giải cách mạng dân tộc trước. Những điều này là điểm chính yếu lập luận của nhóm Hà Huy Tập sau này quy kết cho Nguyễn Ái Quốc không phải người cộng sản chân chính, có tư tưởng độc hại với phong trào cộng sản. Những quy kết này rất nặng nề, chỉ có may mắn và do quan hệ cá nhân rộng với các nhân vật quan trọng, mà Ông cụ tránh được án tử của mật vụ QTCS dưới tay Stalin. Những quy kết của Hà Huy Tập chứng tỏ Tập trung thành mù quáng với chủ nghĩa Stalin, hoặc muốn chiếm quyền lãnh đạo đảng hay gì nữa, nhưng nói Ông cụ yếu kém về tổ chức thì có lẽ không phải. Điểm yếu nhất của các nhà cách mạng tiền bối như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu… là tổ chức thực hiện, thì điểm này, Ông cụ đã nhanh chóng học hỏi được qua cuộc đời sóng gió và dấn thân ba chìm bẩy nổi. Sau này, những thất bại của Đảng Cộng sản Đông Dương dưới sự lãnh đạo của nhóm cách mạng vô sản được huấn luyện từ Liên Xô, càng chứng minh con đường của Ông cụ ít nhất là không sai hơn họ.
6. Mật thám Pháp còn lưu trữ một bức thư Ông cụ gửi từ Thái Lan “cho vợ” khoảng năm 1928. Ông cụ đang yên ổn ở Quảng Châu với Borodin, các công việc phong trào cũng đang tốt, thì Quốc –Cộng bắn nhau, chấm dứt thời kỳ hợp tác. Những người gốc cộng sản chạy trốn, Ông cụ chạy về Mat, đi qua mấy nước châu Âu rồi về Thái Lan. Trước sự kiện tan đàn xẻ nghé năm 1927, có một câu chuyện đến nay vẫn là chủ đề nhạy cảm: Ông cụ lấy vợ. Việc này mỗi một tác giả có một kiến giải khác nhau. Ông Duiker thì tin tưởng và cho sự kiện đó vào cuốn tiểu sử của ông, chính điều đó gây nên sự “chủng chẳng” khi xuất bản sách ở Việt Nam. Còn bà Sophie Quinn thì nghi vấn và cho từ “cưới vợ” vào trong ngoặc kép. Khi trả lời BBC về việc này, bà cũng vẫn dùng từ “có lẽ” chỉ sự việc Lý Thụy lấy vợ. Tôi cũng có một sự lý giải riêng….

 

Nghiên cứu Ông Cụ
(s5.2. Những sự kiện đáng chú ý ở TQ 1925-1927)
1. Chuyện Ông cụ có vợ bắt đầu từ năm 2001 (tháng 11), trên Tạp chí “Đông Nam Á tung hoành” có đăng bài “Người vợ Trung Quốc của Hồ Chí Minh” của tác giả Hoàng Tranh. Ông Hoàng Tranh là nhà nghiên cứu sử học, nhà Việt Nam học người Quảng Tây.
Lược thuật bài báo của Hoàng Tranh: Năm 1926, khi Lý Thụy làm phiên dịch cho Borodin, đã làm quen với cô Tăng Tuyết Minh, nữ hộ lý người Quảng Châu, do giới thiệu mai mối của vợ chồng Lâm Đức Thụ. Gia đình họ Tăng ở Quảng Châu là gia đình Cơ Đốc giáo, ban đầu không đồng ý, nhưng người anh Tăng Cẩm Tương sau khi gặp Lý Thụy thì mê Thụy nên quay ra vận đồng gia đình ok. Lễ cưới của Lý Thụy và Tăng Tuyết Minh tại nhà hàng Thái Bình đối diện Ty Tài chính, nơi mà 1 năm trước đã tổ chức lễ cưới Chu Ân Lai- Đặng Dĩnh Siêu. Tại lễ cưới, có những cán bộ cộng sản TQ như vợ chồng Chu Ân Lai, Đặng Dĩnh Siêu, Sái Sướng, Lý Phú Xuân… và vợ chồng Borodin cùng các nhân viên trong phái đoàn Liên Xô ở Quảng Châu. Vợ chồng Lý Thụy sống hạnh phúc được 6 tháng, họ ở ngay trụ sở phái đoàn Borodin. Bất ngờ xảy ra sự kiện Quốc –Cộng bắn nhau, chính quyền săn đuổi cộng sản, phái đoàn Borodin là phái đoàn ngoại giao cũng phải rút đi. Lý Thụy gấp rút phải ra đi, hẹn vợ sẽ có tin rất sớm. Sau khi đến Thượng Hải, Lý có gửi cho Tăng Tuyết Minh hai lần thư hẹn lên Thượng Hải để cùng đi ra nước ngoài, nhưng thư không đến tay cô. Sau khi Lý Thụy đến Thái Lan, năm 1928, ông có gửi cho vợ 1 lá thư nữa, nhưng thư này cũng không đến tay bà Tăng, mà lọt vào nơi lưu trữ của mật thám Pháp. Năm 1931, bà Tăng Tuyết Minh cũng có dịp nhìn thấy Lý Thụy nhưng không dám nhận, vì đó là ở tòa án Hồng Công. Chiến tranh trắc trở, cô Tăng bị mất liên lạc, sau năm 1949, cô làm hộ lý ở một trạm y tế. Sau năm 1950, biết chồng mình là ai, cô Tăng đã gặp Sái Sướng, khi đó là Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ TQ, và Đặng Dĩnh Siêu, lại còn gửi thư liên lạc qua sứ quán Việt Nam khi đó đại sứ là Hoàng Văn Hoan, nhưng đều không có hồi âm. Bà Tăng mất năm 1991, thọ 86 tuổi. 
2. Thư gửi Tăng Tuyết Minh bị Mật thám Đông Dương chặn được ngày 14/8/1928, hiện tàng trữ tại C.A.O.M. (Aix en Provence). Xuất xứ: Daniel Hémery, HO CHI MINH De L’Indochine au Vietnam, Gallimard, Paris 1990, tr.145.
PHIÊN ÂM: Dữ muội tương biệt, chuyển thuấn niên dư, hoài niệm tình thâm, bất ngôn tự hiểu. Tư nhân hồng tiện, Dao ký thốn tiên, Tỷ muội an tâm, Thị ngã ngưỡng/sở vọng. Tinh thỉnh Nhạc mẫu vạn phúc. Chuyết huynh Thuỵ.
DỊCH: Cùng em xa cách. Đã hơn một năm. Thương nhớ tình thâm. Không nói cũng rõ. Cánh hồng thuận gió. Vắn tắt vài dòng. Để em an lòng. Ấy anh ngưỡng vọng. Và xin kính chúc. Nhạc mẫu vạn phúc. Anh ngu vụng: Thuỵ
3. Khi bắt gặp thông tin này, những người đọc sách thận trọng đều phải phân tích mức độ tin cậy của nó. Tôi không thể tìm thấy nguyên tác của bài báo, không biết Hoàng Tranh có trưng ra tư liệu gì không, ngoài bản chụp nét chữ lá thư Lý Thụy gửi vợ. Trong điều kiện hoạt động bí mật, sẽ có nhiều cách giải thích văn phong của loại thư tín liên lạc gửi cho nhau dưới thể thức như thế. Người ta cần thêm chí ít một vài tư liệu, ví dụ sổ hôn thú, vật chứng hoặc nhân chứng. Nhưng tuyệt nhiên không thấy nói đến các vật chứng, nhân chứng. Những người biết chuyện, và dự hôn lễ ngày đó đều đã qua đời. Hoặc giả những người biết chuyện như Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, Lê Thiết Hùng, Lâm Đức Thụ… vân vân có bao giờ kể lại chuyện đó cho những người thân khác hay không. Hoàng Văn Hoan khi lưu vong, cũng không mảy may nói đến chuyện này. Dường như không bao giờ có một chút tin tức dù mơ hồ, dù nhỏ nhất, cho đến khi xuất hiện bài báo của Hoàng Tranh. Có lẽ vì vậy mà những người nghiên cứu thận trọng như bà Sophie Quinn-Judge cũng không tin chắc 100% sự kiện này, còn đánh một dấu nghi vấn. 
Về phần tác giả Hoàng Tranh, đã một lần khoảng trước khi bình thường hóa quan hệ Việt- Trung, ông Hoàng Tranh có viết một bài báo ca ngợi Mã Viện là chính nghĩa, phỉ báng Hai Bà Trưng. Cần biết rằng, tại Quảng Tây, đền thờ Vua Bà, Hai Vua Bà rất nhiều, bài báo của ông Hoàng Tranh chắc chắn bị phản ứng chính tại đó. Sau khi bình thường hóa quan hệ 2 nước, ông lại phải đăng đàn cải chính về mặt học thuật và đến Việt Nam, vào đền thờ Hai Bà Trưng tạ lỗi. Do vấn đề nhân cách tác giả Hoàng Tranh, nên sự chân xác của bài báo về Tăng Tuyết Minh và bà vợ người Trung Quốc của Hồ Chí Minh cũng nên đặt vấn đề ngờ vực.
4. Qua bài báo của Hoàng Tranh, có 2 sự thật rõ ràng: tồn tại bức thư gửi vợ của Lý Thụy, và có một người tên là Tăng Tuyết Minh, có lý lịch sống rõ ràng. Ngoài ra, đều là câu chuyện mà một người viết văn có thể viết ra được. Nguyên nhân mọi nghi ngờ là có cơ sở.
5. Trong quá trình hậu làm phim “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Công” và đến Quảng Châu một số lần, tôi có gặp ông Lý MH, người này quan hệ nhiều với Nhà văn Hà Phạm Phú. Ông Lý nói, ông đã đến nhà bà Tăng Tuyết Minh khi xưa, nói chuyện với người cháu của bà Tăng, bà Tăng kể chi tiết buổi gặp đầu tiên với ông Lý Thụy như thế nào, và cả quyết rằng, bà gặp Lý Thụy do tình cờ chứ không ai giới thiệu, sau đó bà báo cáo với Đặng Dĩnh Siêu, và bà Đặng hoàn toàn khuyến khích mối quan hệ đó. Gần đây tôi có đọc thấy bài báo của ông Nguyễn Duy Chính, dẫn lại bài báo của tác giả Từ Song Minh trong Tạp chí Võ Hán Văn Sử liệu số 99, tháng 1/2001. Chú ý: Tức là bài này ra đời trước bài của Hoàng Tranh đến 10 tháng. Nội dung cơ bản như Hoàng Tranh kể lại trong bài báo của ông, tuy nhiên có một số chi tiết đáng giá. Vợ của Từ Song Minh chính là cháu nội Tăng Cẩm Tương, tức vợ Từ phải gọi bà Tăng Tuyết Minh là bà cô. Chi tiết về họ hàng, tên người rất rõ ràng. Trong bài báo của Từ, nói rõ rằng, sau khi Lý Thụy ra đi, Tăng Tuyết Minh có thai, nhưng bà mẹ họ Lương ép bà Tăng phải phá thai, vì bà Lương cho rằng Lý Thụy đã chết, cô Tăng không thể nuôi con côi cút. Tăng Tuyết Minh vốn có hiếu phải ép lòng nghe mẹ, rồi ân hận suốt đời. Còn một chi tiết nữa: “Hiện nay trong tay vợ chồng Từ Song Minh còn giữ được chiếc nhẫn đính hôn bằng hồng bảo thạch mà năm xưa Lý Thụy tặng cho Tăng Tuyết Minh và tấm rèm cửa do cố vấn Liên Xô Bào La Đình (Borodin) mừng 2 người ngày cưới. Hai món kỷ niệm này sẽ mãi mãi là gia bảo để lại cho con cháu họ”
6. Như vậy đã rõ, có một bà Tăng Tuyết Minh trên đời thật, có kỷ niệm về cuộc hôn nhân ngắn ngủi, có vật chứng rõ ràng. Chỉ còn 1/10 phần trăm nghi ngờ, đó là, có thể bà Tăng và gia đình nhầm lẫn một ông Lý Thụy nào khác, không phải Ông cụ vào năm 1926. Và còn một câu hỏi: Về thời điểm bộc lộ chuyện hôn nhân của Lý Thụy. Tại sao lại dồn dập xảy ra vào năm 2001, mà không phải thời điểm khác. Trong này có một âm mưu, một toan tính nào khác hay chỉ là số phận đã sắp đặt nó phải như vậy?

 

 

IV.  Một vài chuyện 1930-1931) 
1. Như đã kể ở phần đầu (s1), do trước đây nhiều năm, tiếp quản vụ kiện về phim “Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Công”, tôi đã phải tự lực tìm kiếm các tư liệu, thực sự nghiền ngẫm về Ông Cụ trước và sau khi Ông cụ vướng vào vụ án năm 1931 ở Hồng Công. Câu chuyện liên quan đến vụ án của chính Ông cụ, và vụ án “của tôi”, tôi sẽ kể sơ qua ở những phần sau.
2. Sự kiện rất nhạy cảm giai đoạn này là vai trò của Ông cụ trong sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương. Trước đây, người ta thường chính thức tuyên truyền Ông cụ là người thống nhất các tổ chức cộng sản 3 miền, là người sáng lập Đảng. Qua rồi thời kỳ đảng viên nói gì cũng nghe. Nhiều câu hỏi xoay quanh chuyện tại sao Ông cụ không có cương vị lãnh đạo gì trong đảng ngay sau khi thành lập. Ngày nay, nếu theo dõi tra cứu các tài liệu, có thể có lời giải đáp cho vấn đề này. Nói chung là vấn đề này tương đối phức tạp. Các nhà nghiên cứu độc lập, căn cứ vào tài liệu bằng chứng, cũng phải diễn giải rất dài dòng, về những thay đổi từ trung tâm quyền lực của phong trào cộng sản là QTCS, đến những rạn nứt, bè phái giữa các đồng chí với nhau. Phong trào cộng sản ngày đó khác xa hình dung của những người bây giờ, khi nói đến vai trò của QTCS, của Liên Xô hay ĐCS Trung Quốc, dễ dần đến ngộ nhận, cho nên để theo dõi sự phân hóa nội bộ, người ta còn phải xem xét sự liên quan của các đại diện QTCS, đại diện đảng CS TQ, lại có các trung tâm chỉ đạo ở Sing, ở Mã Lai và Indonesia… vân vân. Lằng văn nhằng. Vì để nói một cách hệ thống, tôi chỉ tóm tắt như sau:
a. Ông cụ có chuẩn bị văn kiện để thành lập một đảng thống nhất mang tên Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông cụ có dự hội nghị thành lập ngày 6/1 (sau này cải chính là 3/2), nhưng thực ra là một chuỗi nhiều buổi hội họp trong khoảng 2 tuần. Kết quả hội nghị như mọi người đã biết, quyền lãnh đạo rơi vào tay Trần Phú, cương lĩnh của Ông cụ bị xếp xó, tên đảng cũng không phải do Ông cụ đặt. Như vậy, không chỉ Ông cụ chuẩn bị về khâu tổ chức cho việc thống nhất thành lập Đảng.
b. Tháng 10/1930, Trần Phú ra đời bản Luận cương theo đúng các hướng dẫn của QTCS, bác bỏ và phê phán tư tưởng của Ông cụ trong cương lĩnh Ông cụ soạn theo quan điểm của Đại hội QTCS 6 nhấn mạnh tầm quan trọng của mặt trận thống nhất và cách mạng dân tộc. Chắc chắn là nhóm Trần Phú cho rằng, Ông cụ lạc hậu với tình hình cách mạng, trong khi nhóm Trần Phú mới chân ướt chân ráo từ Mat trở về, mang theo một quan điểm mới sặc mùi Staninit, đấu tranh giai cấp hăng say, coi các thành phần khác trong xã hội là kẻ thù, chứ không mặt trận mặt chiếc gì hết để đi đến xã hội cộng sản tươi sáng. Ý định của Ông cụ duy trì Đảng Thanh niên (VN Thanh niên cách mạng đồng chí hội), sau khi thành lập đảng cộng sản, như một hội đoàn mặt trận bên cạnh Đảng cộng sản, cũng tiêu tan.
c. Tóm lại: Vai trò của Ông cụ vẫn là người đại diện của QTCS, thông qua một Văn phòng Thượng Hải, để chứng kiến sự việc thành lập Đảng. Nói Ông cụ là người sáng lập Đảng Cộng sản Đông Dương cũng đúng, còn đúng hơn rất nhiều lần khi nói Ông cụ là người tham gia sáng lập Đảng CS Pháp. Nhưng bảo là các đồng chí 3 miền thống nhất với nhau vì uy tín của Ông cụ thì quyết không phải. Thuở hàn vi của Đảng, nhóm lãnh đạo cùng lắm coi cụ là tiên chỉ, “cụ cứ ngồi để các em làm”, đại khái thế. Thực tế là, họ- những người từ Mat trở về ấy, cũng là “từ tay áo” Ông cụ mà ra, chính họ được Ông cụ giới thiệu đi học trên danh nghĩa người liên lạc của QTCS, chứ không ai khác.
3. Nhưng ở stt này, sự kiện quan trọng mà tôi nói đến không phải việc thành lập Đảng, mà là sự kiện mùa đông năm 1930, Ông cụ có đơn gửi đại diện QTCS xin phép cưới vợ. Đây là tài liệu chính thức duy nhất ngày nay người ta khẳng định về chuyện vợ con của Ông cụ. Đại diện QTCS là Noulen trả lời phải cho biết ngày cưới trước 2 tháng. Một số tác giả thì cho biết ông N này dường như không đồng ý mối quan hệ này. Người được Ông cụ báo cáo sẽ lấy làm vợ là Nguyễn Thị Minh Khai. Các tài liệu cũng cho thấy họ đã sống chung với nhau như vợ chồng. Tháng 4/1931, Minh Khai bị bắt dưới tên một người Hoa là Trần Thái Lai. Vào năm 1934, Minh Khai đi dự đại hội QTCS, khai chồng mình là Lin, bí danh của Ông cụ. Nhưng các tiểu sử chính thức thì nói bà kết hôn với Lê Hồng Phong vào năm 1935. Có mấy chuyện phải bàn:
a. Chuyện xin phép cưới vợ vào năm 1931 là có thực, vậy thì năm 1926, nếu Ông cụ cưới Tăng Tuyết Minh thật, thì sao không tìm thấy tài liệu nói đến việc xin phép cưới. Kỷ luật cộng sản, nhất là “cán bộ do Mat quản lý” không cho phép Ông cụ tự do hành động. Cho nên, việc cưới Tăng Tuyết Minh vẫn là một nghi vấn lớn, nếu là chuyện người TQ dựng lên thì do động cơ gì?
b. Hiện nay, sục sạo các tài liệu cũ, người ta không thấy bằng cứ về việc hôn nhân Lê Hồng Phong- Nguyễn Thị Minh Khai, mà lại thấy vết tích về nhiều mối quan hệ của Minh Khai. Đây chắc chắn là một người nữ tài giỏi và đầy sức quyến rũ.
c. Nếu chuyện cưới vợ ở Quảng Châu năm 1926 là thật, đám cưới long trọng, mối tình đẹp, sống hạnh phúc… vân vân. Vậy năm 1930-1931, Ông cụ về Hồng Công, bận mọn gì đến mức quên béng người vợ chính thức, mà xin cưới cô Minh Khai? Thật là mâu thuẫn rất lớn. Bởi vì nhóm chiến hữu năm 1926 vẫn còn đấy, sao lại coi như không có gì năm 1926? Đó cũng là nghi vấn rất lớn, càng củng cố chuyện cưới Tăng Tuyết Minh là câu chuyện dựng lên của người Tàu, động cơ gì chưa rõ.
4. Ngày 6/6/1931, Ông cụ bị bắt ở Hồng Công, trong một căn hộ trên tầng 2, Ông cụ xưng là Tống Văn Sơ, ở cùng một người đàn bà tên là Lý Sâm….

Top of Form

 

Bottom of Form

 

V.  Cái khăn mặt của Tống Văn Sơ
1. Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Công năm 1931 đã rất nổi tiếng. Chỉ cần lục xem lại báo chí Hồng Công hồi đó, xem những tài liệu đã giải mật, người ta có thể dựng lại chi tiết vụ án này. Thực tế cho đến nay, tình tiết vụ án cũng đã công khai đến mức chỉ cần gõ tìm trên Google, có thể đọc được cơ bản nội dung vụ án, diễn biến 9 phiên tòa, sự giải cứu của ông Lodobi với Ông cụ... 
Tôi không muốn nhắc lại vụ án này mà muốn bàn về một số chuyện có liên quan.
2. bộ phim "NAQ ở HK" được Hãng phim Hội Nhà văn VN bắt tay sản xuất năm 2001, sau khi công chiếu có một số ý kiến góp ý, tranh luận và thậm chí có người kiện Hãng phim. Thời gian đầu, Nhà văn Nguyễn Khắc Phục, phó gđ là người tiếp thu, bàn bạc với những người có ý kiến. Chung quy, sự quy kết nặng nề nhất là: các anh làm phim tài liệu về Bác, có nhiều chi tiết xuyên tạc không đúng sự thật (nhầm lẫn một bộ phim điện ảnh, thể loại nghệ thuật hư cấu, nhầm với phim tài liệu, thể loại phi hư cấu). Lại có người cán bộ có chức quyền, đến tận Hãng phim nói như chửi: các anh là ai mà dám làm phim về Bác? Các anh có hiểu mình không, mà đòi hiểu Bác của chúng ta. 
Sự việc chán nhất là tôi được bàn giao phần việc kế tiếp của Nhà văn Nguyễn Khắc Phục sau khi anh Phục về hưu là đại diện pháp lý cho Hãng phim bên bị, hầu vụ kiện trong khoảng 10 năm, chỉ mới kết thúc năm 2016.
3. Bên nguyên là một nhà sử học, có biên soạn một quyển sách nhan đề: "Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Công năm 1931" kiện Hãng phim vì đã sử dụng kịch bản có chi tiết vi phạm bản quyền. Cụ thể là, tác giả kịch bản đã lấy chi tiết "cái khăn mặt" trong quyển sách "Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Công" (gọi tắt là Sách vụ án) của ông ấy. 
Trong quyển Sách vụ án nói: trước nhà số 9 phố Tam Lung, nơi ông Tống Văn Sơ ở, có treo cái khăn mặt làm ám hiệu, khi ngay ngắn là yên ổn, khi vắt lệch thì bị động. 
Trong phim NAQ ở Hồng Công, quả thật có đoạn, khi ông TVS bị bắt, ông có quay lại rút cái khăn mặt vắt vào vai như là mang khăn đi theo. 
Cuộc kiện tụng không phải chỉ nói đôi ba câu, kéo dài đằng đẵng gần 10 năm. Tựu trung lại chỉ vì một cái khăn mặt của ông Tống Văn Sơ. Những chuyện tày đình thì qua, ví dụ có người bảo kịch bản xuyên tạc người bị bắt cùng Ông cụ là người phụ nữ TQ, thì ra TQ mới là người nuôi dưỡng bảo vệ Ông cụ, phủ nhận công lao của các lãnh đạo tiền bối chúng ta, trong đó thực sự người bị bắt là Lý Sâm tức Lý Phương Thuận, vợ ông Hồ Tùng Mậu. Chị Lý khai với cảnh sát là cháu Tống Văn Sơ... Đại loại những quy kết như vậy rất nhiều, rồi cũng thôi, hai bên cho qua, chỉ còn... cái khăn mặt.
4. Tôi không có cố vấn pháp lý, không thuê luật sư (bên nguyên thì thuê ls). Tôi nghĩ rằng, nếu Sách vụ án của bên nguyên là một loại sách khảo cứu thì sao tác giả lại nhận bản quyền về một chi tiết. Đấy là chưa kể tính chân thực của sự kiện ấy, tài liệu nào ghi lại, ai kể lại? Còn nếu Sách vụ án là tác phẩm hư cấu, thì mới bàn xem 2 chi tiết ấy giống nhau hay không? 
Thực tế là, nhà văn Hữu Mai khi viết kịch bản, cũng tiếp cận nguồn tài liệu gần giống với người viết sách khảo cứu. Chắc chắn Nhà văn có quyền nghi ngờ một tình tiết không tin cậy. Ở đây là tình tiết do người khác kể lại, có thể tam sao thất bản, hoặc nghe không hết. Ví dụ, người biết sự thật chỉ nói đơn giản "dùng khăn mặt làm ám hiệu" không nói chi tiết như nào. Nhà văn Hữu Mai đã không tin chi tiết làm lệch khăn là báo động. Vậy một cơn gió cũng khiến một tình huống thành báo động giả. Một người lão luyện về hoạt động bí mật không hành động tầm thường thế. Ông đã cho tình huống báo động/ báo yên là không /có khăn. Khi ông Tống bị bắt, từ tầng 2 bị áp tải vài bước, ông còn quay lại rút vội cái khăn mang theo. Hành động đó có thể gây nguy hại cho chính ông ta, có thể bị lầm tưởng chạy trốn mà ăn một phát đòm. Rõ ràng, cũng là cái khăn, nhưng cái khăn của nhân vật trong phim của Hữu Mai khác hẳn cái khăn trong quyển Sách vụ án. 
5. Tôi không có ý kể lại vụ án kiện Hãng phim, vì vụ này xử công khai có pv tham dự. Mà muốn nói một vấn đề khác: sự thật trong lịch sử và sự kiện trong tác phẩm văn học, hay cụ thể hơn, tiểu sử con người lịch sử và hình tượng nhân vật văn học nghệ thuật. 
Trong ví dụ cái khăn mặt trên đây, quả là một trường hợp điển hình. Khi nhà nghiên cứu lịch sử viết lại tiểu sử hay sự kiện, anh làm công việc nghiên cứu, dựng lại sự việc xảy ra thực tế. Còn nhà văn, anh ta hư cấu để xây dựng tính cách nhân vật, sắp đặt chi tiết sự kiện có ý đồ. Có rất nhiều cách kể lại một sự kiện lịch sử, nhiều người chọn cách giống như ghép hình. Cái gì đã có tư liệu tin cậy thì nếu nói đến nó phải nói không khác. Cái gì không có tài liệu tin cậy, thì hư cấu thoải mái. Như vậy, trong sách "Vụ án Nguyễn Ái Quốc Ở Hồng Công năm 1931", ông Tống văn Sơ được nói đến là con người lịch sử, là tên gọi khác của Chủ tịch Hồ chí Minh. Còn ông Tống Văn Sơ trong phim NAQ ở HK là nhân vật (lịch sử) Tống Văn Sơ. Người viết sử có thể chép ngày X ông Y rửa mặt bằng khăn. Nhà văn không nên cho nhân vật Y trong ngày X không rửa mặt bằng khăn. Ngày X+t, không có tài liệu nào nói ông Y làm gì, thế thì nhà văn cho Y hội họp hoặc tán gái. Trong trường hợp tài liệu là người nào đó kể lại, người viết sử cẩn trọng phải dẫn nguồn hoặc ghi rõ ông nào bà nào nói, đằng này nhà viết sử tin chắc ngay, và coi đó là phát kiến của mình thì không ổn. 
6. Chuyện trên đây tôi kể đúng là đáng chán. Nhưng tôi nghĩ không thừa. Ở nước ta bấy lâu nay, đã không ít người tin rằng bà thái hậu vợ vua Đinh, sau là vợ vua Lê, tên là Dương Vân Nga, hay là tin rằng Ông cụ về đến biên giới Pac Bó năm 1941 đã hôn một nắm đất. Lại có thày giáo dạy sử dạy học trò, rằng Nguyễn Huệ sai người mang cành đào phi ngựa vào Huế tặng Ngọc Hân. Với nhà nghiên cứu lịch sử chân chính, những chi tiết ấy đúng là "bốc phét", ngày nay lịch sự gọi là chém gió. Nhưng nhà văn thì chém như vậy. Tôi sực nhớ vừa đọc được một bài trên mạng, web của cơ quan đảng đàng hoàng, nói chuyện Bác Hồ của chúng ta năm ấy sau khi thoát ngục Hồng Công, đi qua Thượng Hải, đã thuê xe đến đưa thư vào phủ Tống Khánh Linh, bị cảnh sát theo dõi, ông cụ đi xe ô tô đánh lạc hướng cảnh sát thế nào bla blo... Nghĩa là tả lại cái cảnh trong bộ phim "Vượt qua bến Thượng Hải" mà chúng tôi sản xuất năm 2010. Dĩ nhiên đó là phim ảnh. Nhưng người ta cho vào bài báo viết về lịch sử rất nghiêm túc. 
7. Kết quả của vụ kiện kéo dài 10 năm là bất đắc dĩ tôi phải đào bới về Ông cụ. Sau đó, tôi đến TQ làm phim Vượt qua bến Thượng hải. Trường hợp Tống Văn Sơ cũng không đơn giản chút nào. Ở đây gặp phải một chuyện nhạy cảm của Trung Quốc, đó là có nguy cơ động đến Tống Khánh Linh. Bà này là quốc mẫu của họ, nhưng nhạy cảm hơn là sau năm 1949,Mao mấy lần cầu hôn bà không được. Nhạy cảm hơn nữa là Ông cụ rất thân thiết với bà Tống. Thân đến mức nào thì có lẽ ở TQ người ta biết. Một bạn FB có comment cho tôi, Tống Văn Sơ là nói lái "tớ vẫn sống", có lẽ thế. Cũng có lẽ là một kiểu chơi chữ, là người sơ giao của họ Tống. Nhưng chắc là nói ngược mà thôi. 
Trước khi nói đến những sự kiện năm 1941, phần sau tôi sẽ chỉ nói sơ qua vài nghi vấn đã được chỉ ra trong thời gian "điền dã" làm phim ở TQ.

Top of Form

 

VI- nỗi niềm Tống Văn Sơ
Vào khoảng năm 2007- 2008,tôi chuẩn bị sản xuất bộ phim Vượt qua bến Thượng hải, lúc đầu định quay ở Quảng Châu như NAQ ở HK. Nội dung phim nói về sự kiện Ông cụ thoát vụ án 1931, năm 1933 bị trục xuất, bí mật đến Hạ môn, rồi đi Thượng hải, được Tống Khánh Linh giúp gặp Vai-ang Cutuere rồi đi Nga qua ngả Vladivostoc. 
Tôi được giới thiệu với một ông nghiên cứu ở Quảng Châu (ông Quảng) vốn là người Hoa ở VN về năm 1978, ông dẫn vào Phủ Tống, gặp một vài ông già khác biết chuyện tôi quan tâm. Chuyện liên quan đến phim phò thì ít ỏi, toàn những chuyện văn chương là nhiều. Sau mấy ngày tạm gọi vui là ra tuyên bố chung.
1. Ai là người thuê ông Luật sư Lodobi bào chữa cho Ông cụ. Tài liệu trong nước có nhiều người nói rất sai là ông Hồ Tùng Mậu làm việc đó. Sai, vì khi đó ông Mậu đang ở trong tù. Ông Q và mấy ông già nói, hồi Ông cụ mất, báo chí TQ có bài nói việc thuê ông Lodobi là do người của phủ Tống thuê, sau đó và có thời gian trước đó nữa, Ông cụ ở ngay trong phủ Tống, nên mới có tên Tống Văn Sơ. 
Tôi rất muốn nhìn thấy tư liệu, nhưng bấy giờ chỉ còn người nhớ lại. Một người hai người thì bảo nhầm, nhiều người cùng nói thế, tức là có thời báo chí TQ người ta viết thế, lại có nhiều nhân chứng khi đó còn sống nói lại. Tuy vậy, trong quá trình thẩm định kịch bản ở TQ (chuyện này bác Hà Phạm Phú phát ngôn chính thức hơn) thì phía chức sắc TQ nói không thấy tài liệu nào nói đến quan hệ HCM và Tống Khánh Linh. 
Tài liệu chính thức nói, Lodobi là do Quốc tế Cứu tế Đỏ thuê. Hội này tên đầy đủ là Quốc tế Cứu trợ các chiến sĩ cách mạng, hoạt động theo đường lối của Quốc tế cộng sản. Bất ngờ là Ông cụ tham gia đại hội lần thứ nhất thành lập tổ chức này, năm 1923.Trong tác phẩm Đường cách mệnh viết huấn luyện cán bộ Thanh niên cm đồng chí hội có 1 bài giảng về Quốc tế cứu tế đỏ, nhưng tổ chức này không có hội viên người Việt. 
Nhưng vì sao lại có chuyện liên quan đến phủ Tống? 
Năm 1927 -1928, sau khi chạy khỏi Quảng Châu vụ Quốc cộng bắn nhau cùng với Borodin, Ông cụ về Pháp và qua Áo, khi đó Tống Khánh Linh đang ở Vien để vận động thành lập một tổ chức mặt trận quốc tế chống đế quốc. Nói chung bà Tống là người say mê con người Tôn Trung Sơn, ra sức tiếp nối con đường của ông ấy, nhưng con đường ấy cứ trắc trở rồi cuối cùng dính vào cộng sản. Ông cụ rõ ràng là người mê tư tưởng Tôn, biến nó thành dòng văn tự quốc túy "độc lập- tự do -hạnh phúc". Ông cụ gặp bà Tống năm 1928 ở Viên, khi đó bà Tống 35 tuổi vừa góa chồng được 3 năm. Chính sách thân cộng của Tôn Trung Sơn vừa mới bị QDđ TQ xé bỏ. Bà Tống cả đời hoạt động mặt trận không mệt mỏi, muốn vận động đâu thì cũng sẽ gặp Ông cụ, người chính thức tham gia mấy hội đoàn bên cạnh QTCS. Như vậy, cái Quốc tế cứu tế đỏ, hay cả Quốc tế nông dân, cũng là dưới cờ của bà Tống. Năm 1934, nguy cơ chiến tranh thế giới kề cận, bà Tống triệu tập hội nghị quốc tế chống chiến tranh ở Thượng hải, nên Ông cụ được bà Tống cứu một lần nữa. 
Bỏ qua mọi suy diễn về quan hệ cá nhân, việc bà Tống cứu giúp người sáng lập tổ chức Quốc tế cứu tế đỏ là hợp lý. Ngoài ra, với tình thân hữu, thì mới ra được những giúp đỡ từ giới thượng lưu Hồng Công. Phó thống đốc HK và một người là nhà tư sản họ Long đã cải trang Ông cụ thành đại gia để đi Hạ Môn. Từ trước, cứ nói do đạo đức và uy tín Ông cụ mà người ta ngưỡng mộ abc xyz. Nhưng những câu hỏi cứ nảy ra. Tài của Ông cụ là khiến bà Tống hết lòng giúp đỡ, thế không tôn thêm ông cụ, hơn những kiểu nói vì đạo đức mà cảm hóa nọ kia. Vào năm bà Tống sang thăm VN, có chuyện Ông cụ lấy mũ mình đang đội chuyển sang đầu bà Tống, bà ấy là Phó chủ tịch nước TQ, nhưng Ông cụ trong một giây ngẫu hứng, biến bà ấy thành em Tống. 
2. Ông Quảng Châu tôi nói ở trên không coi ông Hoàng Tranh ra gì. Ông Q nói với tôi: những điều về Tăng Tuyết Minh mà HT kể ra, có 3 phần thật, 7 phần ảo. Tôi hỏi: chỗ nào ảo? Ông Q: nó ở ngay câu chuyện đó. 
Ông Q đã gặp bà Tăng và không có cảm tình với bà già đó. Ông nói bà Tăng có phần hơi hoang tưởng, con cá mất hoặc bỏ đi là con cá to. 
Ông Q bảo tôi: một thời tôi là người cuồng cụ Hồ, nhưng sau này tôi nghiệm ra, nghề nghiệp viết lách, nghiên cứu, chỉ có xem Ông cụ là của chính ông cụ, thì mới thấy hết nhiều điều, ví dụ Ông cụ đã thất tình, đã bị đá, bị phụ tình, chứ không phải như sau này, ai cũng nói yêu Ông cụ, rốt cuộc chả ai yêu. 
Trong những phần trước, tôi đã cố ý gợi ý, gợi mở bạn đọc bằng những câu hỏi, bằng cách đặt nghi vấn. Nếu bảo Ông cụ sống hạnh phúc với bà Tăng, hôn nhân tuyệt vời, sao lúc rút đi, bà Tăng không đi ngay theo đoàn Borodin với ông cụ, câu chuyện thư không đến tay, bị đốt nói vạy thì biết vậy, có thai sao lại phải phá, mặc dù là người công giáo? Đầy mâu thuẫn. 
Có một tình tiết trong sách tiểu sử mà bà Sophie Quinn lướt qua, đó là Lâm Đức Thụ báo cáo với mật thám Pháp là Tăng Tuyết Minh chê Ông cụ là già, đại ý kết hôn chưa suy nghĩ nên bỏ. Chỉ có thể dựng lại một mắt xích thiếu trong bức tranh sự kiện hôn nhân của Ông cụ. Đó là cuộc hôn nhân này tan vỡ và bà Tăng bỏ Ông cụ không thương tiếc vào năm 1927. Có thể cuộc hôn nhân này do sắp đặt, hay nói đúng hơn là do yêu cầu nhiệm vụ, là hôn nhân giả. Trong đời cách mạng, nhiều người đã làm thế. Bối cảnh hồi đó, cả cộng sản lẫn quốc dân đảng đều cần có tay trong trong phái đoàn Borodin, việc giao nhiệm vụ có thể có. 
Nhưng có thể với Ông cụ, cũng có tình cảm thật, còn bà Tăng thì chưa chắc, nên năm 1930,ông cụ về lại Hồng Công, không liên hệ với bà Tăng nữa. Chuyện sau này những người cao cấp ở TQ biết chuyện đã ngăn cản bà Tăng tìm lại Ông cụ, chỉ khi ghép giả thiết trên đây vào, nó trở nên hợp lý. Có gì thật mà tìm? Bỏ rồi thì thôi đi. 
Người ta cứ cho Ông cụ cái áo không phải người, nên không nghĩ đến Ông cụ cũng thất tình, cũng bị bỏ rơi. Có thể không chỉ một lần. Sau này, bà Minh Khai vào thời điểm Ông cụ khó khăn ở LX, thì lấy Lê HP đang ở cương vị cao chót vót, hotboy lái máy bay, trong khi ở An Nam ít người nhìn thấy cái ô tô. 
Thời kỳ Tống Văn Sơ, là thời kỳ nhân vật đầy nỗi niềm. 
Vì sao chuyện vợ con của ông cụ năm 2001 mới được bộc lộ ra? Đó cũng có thể là một bí ẩn.

Nguyễn Việt Long Gửi lúc : (14/08/2017 | 05:39:00)
Chi tiết "lãnh tụ cực tả của QDĐ Lão Trung Kha" viết sai tên. Chả có ai là Lão Trung Kha cả, đó là Liêu Trọng Khải.
Vũ Xuân Tửu Gửi lúc : (30/07/2017 | 12:14:00)
Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : a1l8u1
Bài viết khác