Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Nguyễn Việt Long

Bình Luận của Nguyễn Việt Long

Chi tiết "lãnh tụ cực tả của QDĐ Lão Trung Kha" viết sai tên. Chả có ai là Lão Trung Kha cả, đó là Liêu Trọng Khải.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Tôi không rành về Lào cho lắm, nên không hiểu chế độ hiện nay như thế nào? Nhiều khi thấy thế giới phân loại các quốc gia cộng sản gồm 5 nước thì có Lào. Nhưng đọc một văn bản của Cộng đồng Châu Âu xếp loại 4 nước cộng sản trên thế giới thì không có Lào. Nghe nói, họ còn bảo VN sang mà đưa tượng ông cụ về đi.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
nguyen thi cam tu

Bình Luận của nguyen thi cam tu

cac ban oi cho minh y kien nhe. vay tom lai ho quy ly duoc xem la anh hung hay gian hung
Bút Ký
Nghiên cứu ông Cụ (bài 2)
VII. Sau năm 1941.
 
1. Tóm tắt s10: Ông cụ từ Nga về Trung Quốc mùa đông năm 1938, khi trở thành Thiếu tá Hồ Quang trong Bát Lộ quân Trung Quốc. Tình hình chung khi đó là QTCS sau đại hội lần thứ 7, có điều chỉnh chiến lược. Chính sách của QTCS kêu gọi thành lập mặt trận thống nhất chống phát xit. Những tư tưởng hướng đến giải phóng dân tộc của Ông cụ trở nên hợp thời hơn lúc nào hết. Khi đó ở trong quân của các đầu lĩnh Hồng quân, có một ông kễnh to tướng người Việt là Nguyễn Sơn. Nếu năm 1927, Quốc- Cộng bắn nhau, ông Cụ rút theo phái đoàn Chu Ân Lai,rồi tham gia Vạn lý trường chinh, có lẽ Ông cụ sẽ trở thành tướng nhiều sao hơn Nguyễn Sơn. Nhưng cái chính là Ông cụ rút theo Borodin, mối quan tâm của Ông cụ khác, chứ không phải thành tướng của Hồng quân Trung Quốc.(Nguyễn Sơn được liệt vào 100 vị khai quốc công thần của cách mạng TQ, được phong thiếu tướng cấp quân đoàn).
Khởi nghĩa Nam kỳ là một thất bại của Đảng, song cũng như mọi thất bại khác, ít được mổ xẻ rõ ràng, phân định trách nhiệm cá nhân. Từ khi Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ bị bắt (tháng 8/1940) thì tình hình lãnh đạo Nam Bộ lâm vào khủng hoảng. Người có cương vị lớn nhất là Nguyễn Thị Minh Khai dường như bị cô lập. Các chủ trương đường lối chiến lược của Đại hội 7 QTCS chậm triển khai, bị nhóm đảng viên cấp tiến Nam kỳ theo đường lối cũ từ hồi Hà Huy Tập, không tiếp thu, dường như người lãnh đạo thực tế của Xứ uỷ là Tạ Uyên hoạch định chuẩn bị khởi nghĩa. Theo các tài liệu để lại, Nguyễn Thị Minh Khai đã hối thúc các lãnh đạo đón một người có uy tín cao, viết tắt là L (chắc là Lin), về Việt Nam và rất nặng lời với các đồng chí không chịu chuyển hướng theo tình hình mới. Khi đó, tình hình Nam Bộ đang sôi sục muốn nổi dậy. Kết quả khởi nghĩa Nam Kỳ thì các tài liệu nói rõ rồi, chỉ có điều những dích dắc dẫn đến điều đó hậu thế vẫn còn chưa chắc biết hết. Điều đáng tiếc là bà Minh Khai, dường như không dính líu gì đến kế hoạch khời nghĩa, nhưng do bà quá nổi tiếng, nên quân Pháp có dịp là trừ khử luôn.
2. Như vậy là, sau khởi nghĩa Nam kỳ, lãnh đạo cấp cao của Đảng Cộng sản Đông Dương trong nước hầu như bị quét sạch. Cho nên Xứ ủy Bắc kỳ mới có dịp tự chuyển thành Thường vụ Trung ương. Thời thế tạo anh hùng. Những người như Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt chắc cũng như bà Minh Khai ở Nam Bộ, lại có hy vọng đón Ông cụ về. Người được phân công lo chuyện này là Hoàng Văn Thụ. Tại sao lại là ông Thụ? Bởi vì ông Thụ là người Tày xứ Lạng, đã xây dựng cơ sở vững chắc ở các tỉnh biên giới, từ Lạng Sơn đến Cao Bằng. Khi tìm hiểu con đường để Ông cụ về Pac Bó năm 1941, thấy hiện ra hình bóng lừng lững của ông Hoàng Văn Thụ ở đầu Việt Nam, còn phía kia ở Côn Minh là ông Phùng Chí Kiên.
3. Ông cụ đến Côn Minh vào năm 1939, bắt liên lạc với Ban Hải ngoại của Đảng cộng sản Đông Dương. Ban này do Lê Hồng Phong lập ra nhiều năm trước, nó là một đầu cầu nối với Long Châu cách Lạng Sơn 60 km. Khi đó, Ban công tác Hải ngoại, người có cương vị cao nhất là Phùng Chí Kiên. Ông Kiên đã từng học trường quân sự Hoàng Phố, trực tiếp tham gia khởi nghĩa Quảng Châu, chỉ huy đại đội trong Hồng quân Trung Quốc, tại đại hội 1 năm 1935, ông được bầu vào Thường vụ Ban chấp hành Trung ương và phụ trách Ban Hải ngoại. Ban Hải ngoại của ông Kiên có quan hệ mật thiết với nhóm cách mạng tập hợp quanh ông Hồ Học Lãm. Ông Lãm là sĩ quan thuộc Bộ tổng tham mưu của Quân đội Trung Quốc quốc dân đảng. Ông Hồ Học Lãm cùng Nguyễn Hải Thần thành lập một tổ chức là Việt Nam độc lập đồng minh hội, gọi tắt là Việt Minh để tập hợp người Việt yêu nước ở mấy tỉnh Nam Trung Quốc. Cái tên Việt Minh này sau năm 1941, Ông cụ làm thành nổi tiếng, sau này ở Việt Nam, không nhiều người biết nó là tên ban đầu cái hội của cụ Lãm. Cần thấy rõ là khi đó, ở Trung Quốc, đang thời kỳ hợp tác Quốc – Cộng lần thứ 2, cộng sản có mấy năm (cho đến hết chiến tranh) công khai hợp pháp cùng chính quyền Quốc dân đảng, sát cánh làm mặt trận chống Nhật. Việt Minh hội lập ra, sau đó Nguyễn Hải Thần mâu thuẩn với Hồ Học Lãm về đường lối, thành lập tổ chức riêng, thành ra Việt Minh hội của riêng cụ Lãm và mấy đồ đệ mà cụ biết rõ là cộng sản. 
4. Khi chắp mối liên lạc trở lại với Đảng Cộng sản Đông Dương, cũng như Ông cụ làm hồi thành lập VNTNCMĐCH, nhóm đồng hương thân cận là hạt nhân trung kiên, từ đó mở rộng ra. Hồi năm 1925 là Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn, lúc đó 1939 là Phùng Chí Kiên, Hoàng Văn Hoan. Kiên người Diễn Châu, còn Hồ Học Lãm, Hoàng Văn Hoan ở Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu. (Họ Hồ của ông Hồ Sĩ Tạo, người được cho là cha ruột ông Nguyễn Sinh Sắc, cũng có gốc tổ ở đó). Phùng Chí Kiên và Ông cụ khảo sát tìm đường về nước, lúc đầu tính về theo ngả Lạng Sơn, nhưng người ảnh hưởng đến quyết định cuối cùng về Pác Bó chính là Hoàng Văn Thụ.
5. Hoàng Văn Thụ là một người kiệt xuất dân tộc Tày. Trong các tiểu sử chính thức của ông Thụ không thấy nói ông Thụ từng làm sĩ quan cho cả hai phía quân đội Trung Quốc. Ông Thụ là một trường hợp đặc biệt, cũng như Trường Chinh, lúc đó không qua trường Đại học cộng sản Phương Đông ở Liên Xô. Với Ông cụ, chắc là điều còn thiếu ấy của Thụ lại là điểmmạnh, không phải qua các giai đoạn đấu tranh chuyển hướng chiến lược của QTCS, không ảnh hưởng kinh viện của những người Stalinit. Ông Thụ người Tày, suốt dải biên giới và trong các làng Tày, Nùng là cơ sở của ông Thụ. Thụ thuyết phục Ông cụ về Cao Bằng. Ông Thụ vào hụt trường Bách Nghệ, tự học nhưng có thể nói văn võ toàn tài,một trí thức tài năng, như ngày nay có thể nói vừa có lý luận, lại là người hành động thực tiễn năng động, vì dân vì nước.
6. Trước đó, khi còn phải tìm kiếm manh mối Ông cụ, ông Thụ đã cử 2 người đi Côn Minh là Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng. Ông ĐỒng thì không biết vì sao, nhưng ông Giáp chắc là có lý do. Các tài liệu chính thức thì không thấy nhắc đến, chắc là chỉ những người trong cuộc là biết. Hậu thế chỉ có thể đoán. Ông Giáp có vợ là bà Minh Thái, em ruột bà Minh Khai. Lãnh đạo Đảng như Hà Huy Tập còn viết thư cho QTCS,gọi bà Minh Khai là “vợ Quốc”, thì ông Hoàng Văn Thụ chắc biết rõ. Theo truyền thống thì ông Giáp là cọc chèo với Ông cụ đang tìm, cử ông này tìm ông kia là tốt nhất. Truyền thống Nho giáo hồi ấy ở VN còn rất sâu đậm,một ngày nên ngãi, ở với nhau 1 ngày cũng là vợ chồng, đừng có lơ mơ. 
Sau này, ông Giáp kể lại việc gặp ông cụ ở Thúy Hồ Côn Minh, chắc cũng tước hết riêng tư đi rồi. 
Có giai thoại là, ông Giáp giữ lễ, từ ngày gặp Ông cụ ở Thúy Hồ, một điều Bác- em, hai điều Bác- Em. Đó là quy tắc xưng hô truyền thống trong họ, gọi thay con, xưng vai mình. Ông Giáp gọi Bác xưng em, Ông cụ gọi “Chú” xưng tôi. Từ đó, người ta bắt chước ông Giáp, xưng hô Bác- cháu, vì Bác dần già đi, chỉ có các chú hàng ông Giáp xưng em thôi. Đó là một giai thoại, mà cũng có thể là thật như thế.
7. Đến đây, tôi không kể lể dài dòng những chuyện ai cũng biết. Nhóm 43 người của Hoàng Sâm, Lê Quảng Ba gặp Ông cụ,trở thành các hạt nhân của khu Cao Bắc Lạng sau này. Rồi về Pác Bó ra sao… vân vân. Còn một chuyện này về ông Kiên và ông Thụ. Chuyện về người con trai thất lạc của ông Phùng Chí Kiên, báo mạng đã kể rồi. Té ra là một người tôi đã quen biết từ lâu… Các ông đi hoạt động cách mạng ngày xưa gian khổ nhưng cũng là những ngày hội (lãnh tụ nào nói quên rồi) từ đó các ông ấy có các mối tình, rồi con rơi con vãi. Đó là hạnh phúc nhỏ nhoi, cũng là hy sinh của họ cho sự nghiệp lớn….
 
VIII: Thành công lớn, thất bại không nhỏ
1. Khi xem xét các sự kiện năm 1941 liên quan đến Ông cụ, vừa dễ lại vừa khó. Tư liệu cực nhiều, tuyên truyền khoa giáo cực nhiều. Nhưng đó cũng là một cái khó, những cái gì mọi người cùng biết về Ông cụ như một lãnh tụ thông thái, sẽ là làn sương mờ ảo che mắt những người muốn dựng một chân dung văn học, nghĩa là tìm hiểu con người nhân vật trong một thời điểm quan trọng nhất. Năm 1941, Tết âm lịch thì Ông cụ cùng mấy đồ đệ đi bộ từ Tĩnh Tây về Pác Bó. Thành phần ông cụ chọn, cho thấy một người có kinh nghiệm thực tiễn: Phùng Chí Kiên là cánh tay phải của Ông cụ về các vấn đề lớn và biết bắn nhau, Lê Quảng Ba là người địa phương, cầm đầu nhóm thanh niên hăng hái bỏ Trương Bội Công theo Ông cụ, cũng máu bắn súng. Thực tế nhóm đó có 2 thủ lĩnh: QUảng Ba và Hoàng Sâm. Sâm là người Nghệ, tiểu đồng của ông cụ thời ở Xiêm, nhưng khi về nước, Ông cụ chọn Ba vì Ba là thổ dân. Trong đoàn còn có ông Đặng Văn Cáp, một người ít hơn Ông cụ mấy tuổi, biết làm thuốc, có chữ nghĩa một chút, nếu ai đau ốm cụ Cáp hái lá nhì nhằng chữa được. Ngoài ra có 2 người khác là Lộc và An là hậu cần, Osin gánh gồng. Thực tế lúc đó, nhóm đi về của Ông cụ đơn giản là về nước bí mật, tá túc ít ngày, rồi bàn soạn mọi việc sau, chứ không đao to búa lớn như hậu thế thêu dệt. Chuyện hôn nắm đất cũng là hình tượng văn học, chứ thực tế Ông cụ đâu có mất vệ sinh thế.
2. Hội nghị Trung ương 8 họp ở Khuổi Nậm là một thắng lợi rất lớn của Ông cụ. Lần đầu tiên, Ông cụ đưa tư tưởng của mình thành chiến lược của một tập thể lãnh đạo cách mạng. Tư duy Luận cương năm 1930 coi như tạm cất vào một xó. Nhóm theo Trần Phú chả phải phê bình cảnh cáo, ai cũng biết họ thất bại và hi sinh hết rồi. Nay là lúc tập trung giải phóng dân tộc, đoàn kết toàn dân để hướng đến mục tiêu đó. Theo dõi diễn biến tư tưởng Ông cụ từ năm 1919 đến 1941, thấy rõ sự nhất quán. (Sau này, cứ khi nào Ông cụ điều chỉnh để thỏa hiệp là thất bại)
Tại Hội nghị, còn có người chất vấn Ông cụ: Thế thì những nguyên tắc cộng sản, việc chuyên chính vô sản và đấu tranh giai cấp bỏ đi, là phản bội chủ nghĩa cộng sản à? Ngay từ hồi đó, việc chuyển biến tư duy đã thấy cực khó, nên mới thấy hết sự thắng lợi của Hội nghị trung ương 8. Tại hội nghị này, dĩ nhiên các đệ tử đều muốn Ông cụ đứng đầu Đảng, nhưng Ông cụ khéo từ chối, và chỉ làm Chủ tịch mặt trận thôi. Cho đến năm 1945, khi giải tán Đảng cộng sản Đông Dương công khai, tôi ngờ rằng, Ông cụ muốn làm đồ đệ Tôn Trung Sơn, chứ không muốn là đệ của Sit, Mao. Chết nỗi số phận dân tộc này còn nhiều bi phẫn. Ngày nay, khối người không hình dung được cái gọi là Hội nghị Trung ương, mà sách báo quảng bá rõ hoành tráng, nó diễn ra như thế nào. Chín ông ngồi quanh một cái chõng tre, trong một cái lều bé tí xíu ở gần rừng hoang suối vắng. Thế thôi. Sau này, cờ quạt um sùm, kèn trống inh ỏi, chưa ra được cái gì có tầm chiến lược bước ngoặt như Ông cụ bảo 8 ông còn lại ở túp lều tạm.
Tại Hội nghị, ông Phùng Chí Kiên được chỉ định là người phụ trách quân sự. Sau đó đi nắm đội du kích Bắc Sơn. Như lịch sử công khai, ông Kiên sau đó gặp thất bại lớn. Du kích Bắc Sơn tan rã, ông Kiên hy sinh. Nói công bằng thì Bắc Sơn cũng ấp nở ra một số chỉ huy quân đội sau này. Nhưng Bắc SƠn –Cứu quốc quân vẫn là một thất bại. Đó cũng là thất bại của Ông cụ. Xem xét sự kiện khách quan, thì thấy Ông cụ cùng các đệ muốn áp dụng kinh nghiệm TQ vào ta. Đó là quân đội công nông của họ hình thành từ một cuộc khởi nghĩa, rồi xây dựng dần lên, là tích Bát Nhất. Ông Kiên vào sinh ra tử ở khởi nghĩa Quảng Châu, chỉ huy đại đội của Hồng quân Tàu, rất thích hợp với vai trò người cầm chịch quân đội. Nhưng ông ấy thất bại. Nước ta không thể như nước Tàu. Đó là một cú chắc hẳn là cũng sốc với ông cụ chứ. Hồi ký các ông cốp đều nói, nghe tin ông Kiên hy sinh, ông cụ lặng đi hồi lâu.
3. Lại nói đến ông Kiên, tôi định lướt qua chuyện con rơi của ông ấy, vì báo mạng và báo chính thống đã nói, nhưng nhiều người hỏi quá, nên nói đôi chút. Ông Kiên hy sinh, thì sau này vai trò của ông ấy mới vào ông Giáp. Thế mà vào khoảng sau năm 2000, gia đình chật vật mới xin được cái công nhận liệt sĩ. Khi ông Giáp đã già lắm, gần đất xa trời, mới gọi con cháu đến bảo quyết tìm đứa con trai thất lạc của ông Kiên.Cũng viện đến ngoại cảm, rồi chỉ thẳng vào ông Trường Thanh ở Lạng Sơn. Đó là nhà văn Trường Thanh. Tôi quen biết ông Trường Thanh nhiều năm trước. Ông Thanh say sưa viết về mảng các cán bộ cách mạng tiền khởi nghĩa, về Hoàng Văn Thụ, Phùng chí Kiên. Có một lý do chính đáng, vợ ông Thanh là con ông Hoàng Văn Hán, chỉ huy du kích Bắc Sơn (đã hy sinh hồi đó), có họ với Hoàng Văn Thụ. Khi tôi tìm hiểu về thời kỳ 41-45, ông Thanh tâm sự: Thấy tớ bỏ công khảo cứu các cụ, nhiều người không thích, bảo cái đảng này hỏng rồi, ông lại là người đi tù thời cộng sản, đào làm gì. Tớ bảo: Ngày xưa ông Lê Lợi lập quốc, rồi con cháu rập khuôn lề lối Tàu, đưa Nho giáo vào làm chủ đạo, đời sau đẻ ra rặt một phường Uy Mục, Tương Dực,thì thôi không tôn kính cụ Lê Lợi nữa à? Những vị tiền bối hồi đó là anh hùng, họ thực sự hy sinh vì dân vì nước, tôi là con cháu họ, nên tôi phải viết… Khi nghe tin người ta tìm ra ông ấy là con Phùng Chí Kiên, cũng có nhiều điều tiếng, có người bảo ông Thanh nhận để cho oai. Tôi biết ông Thanh,và tôi tin câu chuyện là thật. Bao nhiêu năm, từ hồi còn sống, ông Trường Chinh là người quan tâm đến gia đình ông Thanh nhất, rồi ông Giáp cũng qua lại thân tình. Tức là họ biết, mà vì gì đó không nói thẳng ra… Nói có linh hồn ông Thanh chứng giám, ông Thanh nói với tôi, biết vì sao ông Giáp phải mượn đến ngoại cảm để chỉ ra ông. Ông Thanh cũng bảo, theo tư liệu của ông, cái ông bóng mượt đồn đại là con Ông cụ là sai toét, mà là con một ông có tên đàng hoàng trong hồi ký ông Giáp, hy sinh thời đen tối của du kích Cao Bắc Lạng. Ông Trường Thanh gây cảm hứng cho tôi đào bới thời kỳ 1941-1945, những tiền bối hồi đó đúng là các anh hùng hảo hán, họ đã vì lý tưởng độc lập dân tộc mà không quản hy sinh xương máu. Sau này thằng nào làm láo đứa ấy chịu, sao lại bảo họ chịu trách nhiệm mấy đời sau? 
4. Sau này, ông Hoàng Văn Thụ chết, lại một đòn nữa đánh vào “công tác cán bộ” của ông Cụ. Rõ ràng, 2 người đồ đệ đầy hy vọng của Ông cụ đều không thành. Ông Thụ là tướng rừng xanh, về thành phố, thì thành con hổ rời rừng xanh. Nhiều người cứ thổi lên Ông cụ biết Nho nhe, biết tướng số, biết xem người. Có thể cũng biết, nhưng trường hợp ông Thụ và ông Kiên là một thất bại, nếu biết số phận con người như thánh thì chả thế. Đặc biệt là trường hợp ông Kiên hy sinh, chính sách mô phỏng chiến đấu của Tàu bị vỡ tan tành. Từ đây, Ông cụ phải tìm cách khác, mà từ đó bật ra ông Giáp. Đó là chính trị giành dân đi trước một bước, chứ không du kích chiến. Vấn đề này đến nay, còn khối bạn nói về vai trò ông Giáp, ông Tấn, rồi này nọ khác kia. Nếu xem xét nghiêm túc khách quan giai đoạn này, không có thắc mắc như vậy.
5. Hội nghị trung ương 8 có 9 ông dự. Bây giờ cái tranh ở bảo tàng Pác Bó vẽ có 8 ông. Đó là một bí ẩn, mà gần đây mới được bạch hóa. Phía bắc có Ông cụ và 5 ông: Thụ, Kiên, Khu, Vũ Anh, Việt. Phía Nam cử ra 3 ông: Bùi San, Trần Quốc Thảo (tên sau này là thế) và Nguyễn Thành Diên. Khi 3 ông trở về Nam, thì đi đến gần Hà Nội đã bị tóm. Sau đó Nguyễn Thành Diên khai tuốt tuột. Như vậy, nghị quyết trung ương chua triển khai, mật thám Pháp đã biết rõ hết. Việc Pháp tập trung quân đánh Bắc Sơn chắc chắn cũng có lý do chính yếu của nó, còn Pác Bó vì sao Pháp không làm gì đươc? Một là, các cụ nhanh chóng bỏ Pác Bó, phân tán đến vùng núi Lam Sơn của mấy huyện lân cận Hà Quảng. Hai là, rừng núi âm u, sức đâu mà càn. Nhưng cái chính là các ông ấy theo lý thuyết của Ông cụ mà thực hành, đó là lấy lòng dân. Cứ được dân thì được cả. Lòng dân thiên la địa võng, núp đâu chả được. Dân miền núi chân chất, được lòng cũng không khó, còn dân miền xuôi hơi khó hơn, đến mức phải đồng ý cử chú Thụ đầu lĩnh đi, thì biết Ông cụ tin cẩn ai. Đó cũng là một điều dở của Ông cụ, khi nghiên cứu việc bài binh bố trận thời kỳ trứng nước. Tôi tự hỏi, tại sao người ta phải xóa cái lịch sử 9 người, sao không để đủ như thế, bảo với hậu thế đàng hoàng là ông Diên đầu hàng. Từ đó, việc xem xét tình hình thời đó có dữ kiện quan trọng nhất là mọi thứ bị lộ, thì lại giấu biến đi. Sợ bảo đảng ta kém ư? Thật là một kiểu tư duy dở. Tôi tự trả lời: Bởi vì bảo tàng và tuyên truyền người ta làm trên cơ sở “Đảng ta”, “Bác của chúng ta”, chứ không dạy lịch sử, không làm lịch sử. Đảng ta thì không có sai, Bác của chúng ta thì vĩ đại. Bao giờ được là Đảng của Đảng, Bác của Bác thì có khi lịch sử mới thiêng được.
 
IX- Ba lần đi tìm …Mỹ
Hồi tôi làm kịch bản phim “Ý chí độc lập”, cố ý bỏ qua đoạn Ông cụ bị bắt giam ở Tàu. Là vì cái đoạn ấy xương xẩu với dạng tiểu thuyết, càng xương với phim ảnh. Tài liệu đầy rẫy, mà kim chỉ nam là Nhật ký trong tù. Cụ bị giải đi loanh quanh, rồi cảm phục được các sĩ quan Trung Quốc quốc dân đảng, họ chả có bằng chứng gì kết tội Ông cụ mà thả. Hồi xưa được giảng giải thế. (Nhưng rồi hội đồng duyệt hình như đọc được điều đó, yêu cầu viết thêm 1 tập đoạn thời gian này)
Từ trước đến nay, ai cũng biết Ông cụ đi Tàu, bắt liên lạc với các tổchức chống Nhật để tìm kiếm sự ủng hộ Việt Minh. Tìm ai? 
Có tài liệu bảo Ông cụ đi Diên An tìm cách bắt liên lạc với Cộng sản Tàu. Ngày nay những người chống đối Hà Nội cũng thêu dệt thế. Vô lý. Người ta cố tình quên thực tế ngày đó, là Quốc –Cộng TQ hợp tác chống Nhật, phái đoàn của Đảng Cộng sản TQ diễu dợt giữa Nam Kinh, họ có thế đứng hợp pháp. Cộng sản Tàu còn thế, cộng sản Việt Nam thì quân của Trương Phát Khuê coi ra gì? Đọc sách báo một thời, cứ quy kết nhóm cách mạng hải ngoại mật báo với bọn Tàu đang giữ Ông cụ, rằng Ông cụ là Nguyễn Ái Quốc, để họ trừ khử Ông cụ. Cũng có thể như thế. Nhưng không có lẽ có bọn ngu như vậy. Nếu Ông cụ đi gặp Chu hay Mao, Ông cụ cứ đàng hoàng mà đi qua mấy tỉnh, đố thằng nào làm gì được?
Khi Ông cụ bị bắt, có giấy tờ chứng nhận là Phóng viên, lại có thẻ Ông cụ là đại diện Phân hội Việt Nam của một hội do bà Tống Khánh Linh làm chủ tịch, Ông cụ khai là đi gặp Tôn phu nhân. Đối với sĩ quan thường, danh tiếng Tôn Phu nhân như sấm bên tai. Nhưng rắc rối là họ khám thấy nhiều đô-la, yên Nhật Ông cụ mang theo. Sau tra xét các giấy tờ, đều hết hạn xử dụng. Có lẽ Ông cụ khai đi gặp Tôn Phu nhân để dọa bọn sĩ quan lèng tèng, nào ngờ chính chuyện to tầy đình thế khiến họ buộc phải nghi Ông cụ là gián điệp, là Hán gian. Thời chiến mà bị nghi ngờ thế thì cứ xích, hậu xét. Nội vụ đại để được kể lại như mọi người đã biết.
Nếu quả thật Ông cụ đi gặp Tống Khánh Linh thật, thì sao sau khi được giải đến nhà giam Cục Chính trị Quân khu 4 (là quân khu quản các tỉnh Nam Trung Quốc), gặp Tư lệnh Trương Phát Khuê rồi, sao Ông cụ không tiếp tục đòi gặp bà Tống? Gặp bà Tống mang ngoại tệ phòng thân làm gì?
Ông cụ không gặp cả hai phía chống Nhật ở TQ, vậy đi đâu? Bảo là đi gặp các tổ chức yêu nước Việt Nam tại Tàu để hô hào cùng chống Pháp giải phóng dân tộc thì mơ hồ, nhưng có lẽ là cái lý chính thức để Ông cụ nói chuyện với các lãnh đạo Quân khu 4. Thế là Trương Tư lệnh phóng thích Ông cụ, rồi đưa vào làm Ủy viên Trung ương Việt Nam Cách mạng đồng minh hội, đúng ý đôi bên. Chuyện này cũng mãi sau này thông tin thuận tiện nhiều người mới biết. Làm sao lại từ trên trời rơi xuống ông Nguyễn Hải Thần làm Phó chủ tịch nước năm 1946, rồi hơn 70 ghế quốc hội cho nhóm người Việt theo chân quân Tàu vào Việt nam. Oan có đầu, nợ có chủ cả. Không hề như trước đây, hồi kháng chiến chống Mỹ báo chí cứ tuyên truyền họ vào theo quân Tưởng, Ông cụ và các lãnh đạo rộng lượng, nhân ái muốn hòa hợp mà cho họ này kia. Người dàn xếp vụ Ông cụ ra tù đưa Ông cụ vào lãnh đạo Việt cách đến Hà Nội, đó là Tiêu Văn, một trong mấy đầu lĩnh quân Tàu ở VN. Cái lý diễn nôm na mách qué là: Ủy viên Trung ương làm Chủ tịch nước,Chủ tịch Việt cách chỉ làm Phó, thì hơi khiêm tốn. Nhưng đó là chuyện sau này.
Hồi đó Côn Minh (trước khi bị Nhật tiến đánh) là thủ đô tiền tuyến phía Nam của Trung Quốc chống Nhật. Quân khu 4 thực ra chữ Tàu dùng chữ “Chiến khu”. Chính quyền của Tưởng nằm trong khối đồng minh chống phát xit. Ở Côn Minh có Không đoàn 18 của Mỹ, tư lệnh Chenault, đồng thời là tư lệnh quân đội Mỹ ở Trung Quốc. Lúc đó,chắc các chiến hữu mà không thân thiết,cũng chả biết Ông cụ đi đâu. Chỉ sau khi Ông cụ được thả, thêm 2 chuyến đi nữa, thì mới có câu trả lời rõ ràng. Ông cụ muốn đến bản doanh quân đội Mỹ ở Côn Minh. Đến đó mà nhờ các ông Tàu quốc dân lẫn Tàu cộng sản đều không ổn. Trong sách “Tại sao Việt Nam” và “OSS với Hồ Chí Minh”, người ta có thể đọc thấy đằng sau những tiếp xúc cấp điệp viên của hai phía, là một nỗ lực chuẩn bị cho các cuộc gặp “cấp cao”.
Thế là Ông cụ bị hỏng chuyến đi thứ nhất.
Chuyến đi thứ hai là chuyện áp tải viên phi công Show. Chuyện này ông Phùng Thế Tài kể chi tiết trong hồi ký của ông ấy. Việc gì phải cần đến Chủ tịch Việt Minh áp tải một anh phi công về Không đoàn 18. Ẩn ý đến nay đã rõ, mà có thể bọn Trần Bảo Xương cũng đoán được, nên khi đến Tĩnh Tây, trụ sở của quân đoàn Nam Ninh do Trần Bảo Xương làm tư lệnh, Ông cụ xin phép đi qua, Xương bèn hớt tay trên, bảo để bọn hắn dẫn tiếp, Ông cụ không phải vất vả. Ông Phùng Thế Tài kể bọn Xương còn bàn chuyện cắt tiết “hai bố con” Ông cụ. Cứ khách quan mà phân tích,chắc ông Tài thần hồn nát thần tính, hoặc giả hồi ký ra trong thời làm bạn với Tàu Mao, cứ nói xấu Tàu Tưởng một tý… Trần Bảo Xương là người Việt, làm thiếu tướng trong quân đội TQ. Hồi ấy nhiều người Việt làm đến đại hiệu (đại tá), tướng trong quân đội TQ (Trương Bội Công, người thu nhận nhóm Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm để huấn luyện, cũng là môt người Việt. Nhóm 43 người của Lê Quảng Ba sau đó theo Ông cụ về Cao Bằng cả). Bảo Xương chơi cho Ông cụ một vố đau. Người Mỹ ở gần mà khó đến nơi thế nhỉ.
Lần thứ 3 Ông cụ đi Côn Minh, đến ở nhà Tống Minh Phương, rồi thông qua Saclo Fenn,một điệp viên Mỹ, đến được bản doanh của Chenault. Câu chuyện đội Con Nai bắt đầu từ đó. Nhóm 6 người chuyên gia Mỹ đến Tân Trào huấn luyện Việt Minh. Trước đó, 2 ông Tan và Shin, 2 người Mỹ gốc Hoa, đã cùng Ông cụ về Pac Bó, rồi lại cùng đi bộ về Tân Trào…
Sau này, các ông Con Nai viết lại, kể lại đầy tiếc rẻ. Người Mỹ bỏ qua một cơ hội mà nếu có thì lịch sử Việt Nam sẽ khác. Nghĩ lại, cái áo cộng sản của Ông cụ được nhiều việc cho mục tiêu của Ông cụ, nhưng có một lần hỏng chuyện,hỏng đau đớn, đó chính là hỏng cơ hội hướng đến nước Mỹ. Nước Mỹ chuyên nghiệp hóa, hiện đại hóa, án tại hồ sơ, không thích tìm hiểu con người, họ không biết người Việt nói vậy mà không phải vậy, mới ra nông nỗi ấy. Hậu quả của chuyện này còn chưa bao giờ tính hết…
Nhóm Con Nai sát cánh cùng quân ông Giáp đánh Thái Nguyên, tiến về Hà Nội tháng 8/1945. Khi duyệt binh ngày 2/9/1945, đại diện thương mại của nước Nga Xô viết ở Hà Nội (tình báo của họ) quan sát thấy bộ đội Việt Minh đi cùng sĩ quan Mỹ duyệt binh. Nói chung là quê hương cách mạng tháng 10 lúc đó lãnh đạm nhìn Mỹ Việt chơi với nhau, xét đoán chắc bọn Việt Nam dân chủ cộng hòa đích thị là dân tộc, chứ chẳng cộng sản cộng siếc gì. Mà Ông cụ cũng chả mặn mà gì liên lạc với họ. Kết quả vài năm sau thấy rõ. Liên Xô công nhận chính phủ Indonesia năm 1947, nhưng không đặt quan hệ ngoại giao với chính phủ Ông cụ đến 1951. Từ đó bắt đầu một đoạn mà tôi không có hứng tìm hiểu nữa.
 
X. Vô đề
1. Trước khi vào stt cuối (chỉ trong loạt lên FB này), tôi xin cám ơn những bạn đã khen chê, trao đổi, tự thấy cần làm rõ một số vấn các bạn trao đổi, tôi ngẫu hứng biên mấy việc sau:
a. Về một số nhân vật xuất hiện xung quanh Ông cụ: Giai đoạn 1911-1923 Ông cụ ở Pháp, gần đây có anh Quốc Phong kể vụ bóc băng ông Vũ Kỳ, có nhắc đến bà Rose nào đó, thành thật là tôi không tìm được tài liệu gì. Quyển sách của Trần Dân Tiên kể mùa đông Ông cụ phải hơ nóng viên gạch để ủ ấm. Đó có thể là sự thật, mà cũng có thể là chi tiết văn học. Sau này, tôi không thấy ở đâu nói đến việc các viên gạch của Ông cụ lên tiếng. Lạ. Hoặc là họ không biết cái ông ủ ấm ngày nào bây giờ là ai, nên họ không xuất hiện chăng?
b. Ân nhân trong đời Ông cụ cực nhiều, ngoài những người nổi tiếng đã biết, như Lodoby, Tống Khánh Linh, Vaillant Cuturier, bà Vera Vasilieva… hàng bè bạn, còn các đệ tử thì cũng khá nhiều. Ở đây tạm kể mấy người mà tôi đã khảo cứu (họ xuất hiện trong giai đoạn tôi quan tâm)
i. Dương Đào. Đây là người nông dân Tĩnh Tây, đã dẫn Ông cụ định theo đường dây liên lạc đến CÔn Minh, nào ngờ bị bắt, 2 người trải qua 14 tháng bị bôn ba qua các trại giam. Sau đó Dương Đào bị bệnh lao và mất. Hình như khoảng năm sáu mươi, Ông cụ có mời gia đình Dương Đào đến Hà Nội chơi.
ii. Hầu Chí Minh. Vừa qua, có bạn comment cho tôi, hỏi có phải ông này là tình báo hy sinh cứu ông cụ thời bị giam, rồi Ông cụ lấy tên ông ấy làm kỷ niệm. Hồi còn đi học khoảng trước 1975, tôi cũng nghe các bậc đàn anh có chức sắc hẳn hoi nói như thế. Nhưng đến nay thông tin mở rộng rồi, nào ngờ câu chuyện ấy vẫn tồn tại. Thực ra Hầu Chí Minh là Thiếu tướng Phó chủ nhiệm chính trị Quân khu 4 (Tư lệnh là Trương Phát Khuê), khi Ông cụ đến phòng giam của Cục Chính trị Quân khu 4, Chủ nhiệm Chính trị là Trung tướng Lương Hoa Thịnh. Trong Nhật ký trong tù, có một bài tặng Lương Chủ nhiệm (tặng Lương Hoa Thịnh), một bài tặng Hầu Chủ nhiệm (tặng Hầu CHí Minh). Trong thời gian Ông cụ làm khách của họ, Lương Hoa Thịnh được cử đi chiến trường Miama, Hầu Chí Minh lên làm Chủ nhiệm Chính trị. Theo diễn biến sự việc, thì Hầu Chí Minh chịu trách nhiệm tra xét vụ Hồ Chí Minh rồi báo ok hay không cho Trương Tư lệnh, sau đó Tiêu Văn chịu trách nhiệm xử lý, dụ Ông cụ tham gia cải tổ Việt Cách, làm Trung ủy của Việt Cách. Tuy nhiên, có lẽ Ông cụ không khoái Tiêu Văn, mà rất tình nghĩa với Hầu. Chính Hầu Chí Minh là người dạy Ông cụ Thái cực quyền. Sau này thấy Ông cụ múa quyền, là ôn bài Hầu Chí Minh truyền cho. Theo Hồi ký Trương Phát Khuê, Hầu Chí Minh bị Ông cụ mê hoặc, khi gặp Ông cụ, Trương cự nự về chuyện cộng sản (biết quá rõ là Nguyễn Ái Quốc), thì Ông cụ nói: Tôi đảm bảo với ngài, 50 năm nữa không có chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam. Trương thừa biết, nếu Tưởng không thất bại, thì lời Ông cụ sẽ đúng. Như vậy, tên Chí Minh là tình cờ trùng nhau mà thôi.
iii. Tống Minh Phương. Trong các hồi ký về cuộc đi Côn Minh gặp Chennault của Ông cụ, gia đình Tống Minh Phương là bản doanh của Ông cụ ở Côn Minh. Gia đình này còn quyên góp vũ khí gửi về cho Việt Minh. Những người tư sản dân tộc đóng góp tinh thần, tấm lòng và của cải cho công cuộc giải phóng dân tộc chắc chắn còn rất nhiều. Sau này, giành độc lập, không mấy ai đòi chức quyền hay lợi lộc gì. Tôi tìm tư liệu ảnh về ông Tống Minh Phương mà không thấy. 
2. Thời kỳ Việt Minh là một thời kỳ thú vị của lịch sử Việt Nam, cũng là một thời kỳ thăng hoa thỏa chí của Ông cụ. Tài liệu còn lại cực nhiều, nhưng nhiều khi ta chỉ lướt qua. Hồi đó, về tổ chức cơ cấu của khu vực Việt Minh, trên có Tổng bộ, dưới có Tỉnh bộ, huyện bộ (không thấy nói xã bộ). Chính quyền thuộc Pháp tồn tại vẫn vững mạnh bề nổi, các tổ chức Việt Minh dần dần chiếm hết phần chìm, tức là phần lòng dân. Tới khi Ông cụ đi TQ gặp Mỹ sắp về, các anh ở trong nước bàn tính thành lập các chiến khu, nhưng thực ra chiến khu Cao Bắc Lạng của Việt Minh đã tồn tại lâu rồi. Song song với bộ máy Việt Minh, còn có liên tỉnh ủy, huyện ủy. Nhưng quyền hành thật sự là ở các Tổng bộ, tỉnh huyện bộ. Liên tỉnh ủy được ông Hoàng Văn Thụ thành lập từ các cán bộ địa phương, trình độ có hạn, sau khi nhóm của Ông cụ về nước, bổ sung nhiều anh tài vào các tỉnh ủy, huyện ủy. Cỡ ông Giáp, ông Đồng khi theo Ông cụ về Cao Bằng, chỉ là đảng viên thường, công tác ở Tổng bộ, thì mới bổ sung vào tỉnh ủy, do ông Lã Minh Giang làm bí thư. Ông Lã Minh Giang là một trong 43 người nhóm Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm từ TQ kéo về với Ông cụ. Nhìn nhân sự thế thì biết các ông tỉnh ủy làm gì so với các ông bên Tổng bộ, tỉnh bộ Việt Minh. Để hiểu rõ điều này, có một dẫn chứng. Hồi Ông cụ đi TQ bị bắt, các anh ở nhà định khởi nghĩa. Tổng bộ và tỉnh ủy đã ra nghị quyết rồi. Ông cụ về ách lại, không cho khởi nghĩa nữa. Trung ương đảng ở dưới xuôi không thấy ý kiến gì. CÓ thể hình dung bộ máy Việt Minh như là một loại chính quyền đa thành phần, Ông cụ là Tổng thống, hành pháp kiêm lập pháp
3. Sinh hoạt thời tiền khởi nghĩa ở Cao Bằng thật sự là cuộc sống của “nghĩa quân” quy tụ quanh một chủ tướng. Thật sự là giai đoạn tướng sĩ hòa nước sông chén rượu ngọt. Quan hệ với ông cụ và mọi người là cha con, huynh đệ. Sau này kháng chiến chống Pháp, có chính phủ thật sự cũng đa đảng phái, đại đoàn kết, nhưng khi đó đường đường Ông cụ là nguyên thủ quốc gia, sinh hoạt mọi mặt thuận lợi nhưng lại có khuôn phép nhất định. Thời trước năm 1945, ở Cao Bằng sinh hoạt khem khổ, Ông cụ chỉ là một loại thủ lĩnh du kích, mọi sinh hoạt theo nguyên tắc bí mật, ngoài vòng pháp luật nên đều sơ sài, ở nhà dân di chuyển luôn, ở rừng, ở hang, không cố định. Có những lần Cụ đi từ huyện nọ đến huyện kia, đường rừng mà đi một mình. Chính đời sống như vậy, mà Ông cụ lúc nào cũng nhấn mạnh công tác chính trị. Chính trị là được lòng dân. Khi xây dựng các đội du kích, phần nhiều người trẻ, lúc nào cũng máu mê muốn đánh lại Pháp và lính dõng, còn Ông cụ thì ra sức ngăn cản, bắt phải giấu súng, tránh đụng độ. Khi đi TQ,rồi bị bắt, Ông cụ giao nhiệm vụ cho Tỉnh ủy cụ thể hóa bằng nghị quyết, mở rộng căn cứ bằng cách lập những đường dây chính trị, để cho cán bộ Việt Minh có thể đi lại thông suốt. Về phía Nam (Nam tiến) thì giao cho ông Giáp, về phía đông (đông tiến) giao cho Hoàng Văn Hoan, về phía Tây (tây tiến) thì giao cho ông Chu Văn Tấn. Sau khi ông cụ thoát tù về nước, kiểm điểm lại, chỉ có mũi Nam tiến của ông Giáp là hoàn thành nhiệm vụ mỹ mãn. CÒn 2 mũi kia thì thất bại, chả mở rộng được gì. Các ông kia nhận thức viêc mở rộng lãnh thổ là phải đánh chác, là thất bại. Kết quả là đến cuối năm 1944, dưới tay ông Giáp có một hệ thống nhiều đội du kích, có du kích bản và du kích tập trung ở các châu huyện, lại có con đường chính trị để Việt Minh tự do đi đến Bắc Cạn, đi đến tận Tuyên Quang. Khi đó đặt vấn đề xây dựng quân đội thống nhất, là phải rút ra các hạt nhân từ các đội du kích (trong đó có cả đội của ông Chu Văn Tấn) là hợp lý. Có nhiều ý kiến sau này nghi ngờ quân đội nhân dân phải là tiền thân từ Cứu quốc quân của Chu Văn Tấn, có lẽ chỉ hậu thế nói vậy, chứ chính các ông trong cuộc tự hiểu là không ổn. Nếu nói Cứu Quốc quân đầu tiên phải là đội Bắc Sơn của ông Kiên. Sau khi ông Kiên thất bại, thì đội du kích của ông Chu Văn Tấn mới chuyển thành Cứu quốc quân 2. Và đội du kích ấy vẫn chỉ là một đội du kích trong hàng trăm đội, giữ vững địa bàn là may lắm. Quan điểm và thực tiễn hình thành quân đội, lấy các đội du kích của ông Giáp theo đường dây Nam tiến làm cơ sở là một việc phù hợp. Và thực tế đã chứng minh, nếu đội 1 thất bại, lại lấy đội 2 làm lại là không ổn. Cách của Trung Quốc, hình thành quân đội từ một đội du kích, rồi đảng nắm lấy chỉ đạo, trở thành quân đội của Đảng, là không phù hợp. Ngày nay, nhiều người không hiểu rõ câu “quân đội nhân dân” có ý nghĩa sâu sắc như thế nào. Nó hình thành từ đội quân du kích của Việt Minh, của nhân dân, không phải quân đội công nông ban đầu của Đảng.
4. Lời nói thêm: Tôi đã chọn đưa lên FB một số đoạn trong những khảo sát của tôi về một nhân vật khổng lồ của Việt Nam. Chắc các bạn đã biết, tôi muốn dựng chân dung Ông cụ, chứ không phải “Bác Hồ của chúng ta”. Ông cụ này đã từng bôn ba, đã làm những việc kinh thiên động địa, đã là một con người, có những láu cá của người Việt truyền thống, có uyên thâm và có sai lầm và không phải người khuyết tật. Tôi biết nhiều bạn đã sốc khi đọc những dòng viết của tôi. Nhưng tôi xin nói thẳng kinh nghiệm của mình: nghiên cứu Ông cụ, khiến tôi tất yếu nghiên cứu lại mình. Đó là một quá trình tự nhận thức, và nói thật, những gì người ta nói về sự sáng suốt của Ông cụ, thì mình chọn ra, có cái mình thấy Ông cụ sáng suốt hơn là người ta bình phẩm, nhưng có cái cũng bật ra sự dở dở, bi phẫn của một con người. Phân tích ra những cái dở của Ông cụ, quái lạ, lại thấy kính phục và thương mến Ông cụ hơn. Gột rửa một hình ảnh thánh, thì mới có thể học tập, soi vào tấm gương của người đó được. Tôi đã gặp không ít người cuồng Ông cụ. Có lần, một người biết tin tôi đi khảo sát Cao Bằng, tìm hiểu thời kỳ tiền khởi nghĩa, đã bảo tôi: Hiện nay đã có một nhà “Bác Hồ học” cày nát khu vực đó rồi, đó là lĩnh vực của ông ấy, đừng nhảy vào. Ôi. Chỉ biết kêu một tiếng ôi.
Ở Trung Quốc, một nhân vật lịch sử như Tào Tháo, người ta làm đến gần 80 phim. Hàng trăm năm bàn luận không dứt. Ngay Tôn Trung Sơn, cũng có hàng chục người viết, rất nhiều phim. Nước ta không thể có những tác phẩm hay về nhân vật lịch sử, về lịch sử vì trước hết không giải phóng nhân vật, không nghiêm túc xem xét hoàn cảnh lịch sử. Nhân vật của riêng tác giả, yêu quý như tiên thánh, hoặc ghét như ma quỷ, thì còn viết gì nữa. Tôi tin rằng, thời gian càng lùi xa, người ta sẽ bàn luận về Ông cụ này nữa. 
5. Ngày vui nào cũng có chia tay, ngày buồn nào cũng có kết thúc. Loạt bài này xin tạm dừng ở đây.
 
 
XI. thêm
Sau khi loạt bài “Nghiên cứu Ông cụ” của tôi đăng trên FB này, rất nhiều bạn comm, inbox và điện thoại trao đổi. Tôi đã chuẩn bị tâm lý đón nhận mọi mức độ khen chê. Nhưng không khỏi bất ngờ về một số vấn đề các bạn đặt ra. Đúng là còn rất nhiều chi tiết thú vị mà tôi chưa bàn luận đến. Giai đoạn Tân Trào và những ngày đầu chính quyền DCCH ở Hà Nội tôi cũng chưa nói đến. Hy vọng sẽ có dịp khác tôi sẽ post. Ở stt này, tôi xin “tái bút” chỉ 3 vấn đề sau: 
1- Nhiều bạn “kêu ca” tôi đánh giá ông Hoàng Văn Thụ quá cao?. 
2- Về những người ân nhân của Ông cụ, sao không thấy nói đến cụ lang chữa cho Ông cụ khỏi ốm ở Tân Trào?
3- Quan hệ với Pháp trong thời kỳ Tân Trào?
Sau đây là ý kiến của tôi:
1. Ông Hoàng Văn Thụ sau khởi nghĩa Nam kỳ, là 1 trong 3 người Thường trực Trung ương (2 ông kia là Đặng Xuân Khu, Hoàng Quốc Việt). Ông Thụ là người tích cực tìm Ông cụ về nước. Trong hồi ký Ông Giáp kể lại, có một chi tiết tưởng như thoáng qua,ít ai để ý. Đó là khi căn dặn ông Giáp đi Tàu tìm Ông cụ, ông Thụ dặn: Khi gặp ông Nguyễn Ái Quốc, hỏi ông ấy cái “Hội các dân tộc bị áp bức châu Á” bây giờ ra sao rồi. Như phần S5, tôi đã nói, đây là một hội do Ông cụ cùng Lão Trung Kha, lãnh đạo cánh tả của Quốc dân đảng TQ và Roy, lãnh đạo đảng cộng sản Ấn Độ thành lập năm 1927, hoạt động theo đường lối cách mạng dân tộc. Như vậy là vào năm 1940, Hoàng Văn Thụ cũng nghĩ đến con đường cách mạng dân tộc, chứ không chú ý hỏi ông Nguyễn Ái Quốc về các vấn đề của chủ nghĩa cộng sản. Sau khi gặp Ông cụ ở Tĩnh Tây, chắc chắn Thụ và Ông cụ đồng điệu về tư tưởng, tâm đầu ý hợp.
Về Hội nghị Trung ương 8, như đã nói, đó là hội nghị lịch sử, là bước ngoặt chuyển chiến lược, từ bỏ phương pháp cách mạng của chủ nghĩa cộng sản, tập trung giải phóng dân tộc. Cụ Hồ chân ướt chân ráo mới từ TQ về, chọn hướng về theo lời khuyên của ông Thụ, đứng chân trên địa bàn Cao Bằng, là vùng cơ sở của ông Thụ xây dựng từ những năm ba mươi. Đó khác nào dọn chỗ sẵn mời Ông cụ. Ngoài ra, chính Hoàng Văn Thụ là người trực tiếp dẫn đoàn các lãnh đạo cao nhất của Đảng từ miền xuôi lên Pac Bó. Ông Thụ dẫn Hoàng QUốc Việt, Đặng Xuân Khu, Trần Đăng Ninh đi từ Bắc Giang lên Lạng Sơn, từ đó đón thêm Chu Văn Tấn,đi ngược lên Long Châu, rồi về Tĩnh Tây, từ đó đi về Pac Bó theo đường Ông cụ về hồi đầu năm. Đó là con đường qua các cơ sở của chính ông Thụ đã xây dựng trong nhiều năm. Có thể nói, Hội nghị trung ương 8 là hội nghị mà ông THụ là người tổ chức toàn diện, còn Ông cụ chuẩn bị “văn kiện”, thổi nội dung vào.
Trong các tài liệu công khai về tiểu sử Hoàng Văn Thụ, không thấy nói đến đoạn đời rất quan trọng của Ông Thụ hoạt động ở Long Châu. Thời kỳ này Thụ vào làm trung úy quân khí cho một sư đoàn TQ quốc dân đảng đóng ở Nam Ninh. Chính Thụ với vai sĩ quan TQ đã đảm bảo cho đường dây đi và đến Long Châu an toàn suốt thời kỳ loạn lạc. Theo tài liệu của ông Trường Thanh, khoảng từ 1936-1937, khi một sư đoàn của Tập đoàn quân 18 của Trung hoa Quốc dân hoạt động ở Quảng Tây, thời kỳ này QUốc cộng hợp tác, có 1 sư đoàn quân của Đảng cộng sản TQ, họ đã thu nhận Hoàng Văn Thụ làm sĩ quan thông tin, đặc trách tờ báo sư đoàn. Như vậy, Thụ là người làm sĩ quan cho cả 2 phía của TQ. Sau Hội nghị TƯ 8, ông được phân công công tác địch vận. Có thể suy đoán Ông cụ muốn ông Thụ nắm công tác an ninh và ngoại giao của Đảng. Nếu ông Thụ còn,có lẽ vai trò Thủ tướng không cần đến ông Đồng.
Ông Thụ không chỉ am hiểu miền núi, ông có thời gian hoạt động ở HẢi Phòng, Hà Nội. Chính tại đây, ông Thụ đã đính hôn với bà Vân, người Hải Phòng, sau này lấy tên Hoàng Ngân, trong kháng chiến chống Pháp là người đứng đầu Hội liên hiệp phụ nữ đầu tiên.
Có một câu chuyện, những người già còn kể, đã đọc thấy ở đâu đó, những năm sáu mươi. Đó là dường như có 1 kế hoạch cướp tù, để giải cứu ông Thụ. Nhưng ông Thụ đã báo tin ra, đừng làm thế, sẽ hy sinh vô ích mà khó đạt mục đích, ông nguyện đón nhận cái chết, cho nên mới làm bài thơ gửi ra (ai chưa biết bài “Việc nước xưa nay có bại thành…” thì google đi). Cũng có lời đồn, kế hoạch không thực hiện được là vì ông A, ông B không tích cực quyết đoán… Việc đó cần các nhà làm sử khảo cứu.
Ngày nay, cái tên Hoàng Văn Thụ được đặt tên đường, bên cạnh những vị tiền bố khác: Trần Phú, Hà Huy Tập, Ngô Gia Tự, Phan Đăng Lưu, Lê Hồng Phong… vân vân. Nhưng thực ra, ông Thụ là một trường hợp đặc biệt, một nhân vật lớn (có thể nói lớn hơn các ông khác)
2. Về những sự kiện ở Tân Trào, sẽ có dịp bàn kỹ. Gần 4 tháng Ông cụ ở đó, sự kiện như 4 năm. Có chuyện Ông cụ ốm. Đọc Hồi ký ông Giáp, sẽ biết rất rõ nhiều chi tiết. Ông cụ gần như trối trăng, đại khái đốt cháy dãy Trường sơn gì đó. Theo ông Giáp, có ông cụ lang đến chữa cho Ông cụ khỏi. Hồi ký của các ông Mỹ thì nói quả quyết rằng, họ thấy Ông cụ ốm, phải gọi ngay y sĩ của đội người Mỹ đến, chuẩn bệnh Cụ viêm đại tràng, kiết lị, suy nhược cơ thể, bèn tiêm kháng sinh và thuốc bổ cho Ông cụ, bệnh liền lui. Gần đây, trên báo chính thống, có một số bài nói về sự kiện Ông cụ bị ốm, có bà lang đến chữa cho Ông cụ, có tên tuổi địa chỉ đàng hoàng. Lại có bài báo kể có người mang cho Ông cụ mấy đồng cân sâm… Có thể suy đoán, thời kỳ Ông cụ ốm, chữa theo truyền thống có các ông bà lang chữa cho Ông cụ, và không chỉ 1 người chữa. Nhưng chuẩn bệnh của các anh Mỹ có vẻ đúng. Ông cụ ăn uống khem khổ một thời gian dài, ăn kiểu nhà nghèo, làm việc trí óc nặng nhọc, sinh hoạt ngủ nghỉ vô tổ chức,nên viêm đại tràng cấp rồi suy nhược là phải. Nghe ông cụ ngăn ông Tiến Sự thịt gà: cần gì thịt gà, cứ nước chè tương chan vào là canh rồi, ăn uống thế viêm đại tràng, kiết lị, táo bón là phải. Chuyện những người Mỹ cứu cụ có thể là thật, sau này Ông Giáp viết hồi ký thời chống Mỹ không dám nói ra mà thôi. Tôi làm kịch bản cho một bộ phim dựng lại chuyện này, để cả các bạn Mỹ tiêm và cả bà lang chữa cho Ông cụ. 
3. Về quan hệ với Pháp. Vấn đề này hơi lằng nhằng. Cần phải biết rằng, thời kỳ đầu chiến tranh thì không sao, nhưng cho đến Pari thất thủ, nước Pháp có chính phủ lưu vong của Đờ Gôn (cứ mạo muội viết phiên âm cho nhanh) ở Anh. Chính phủ này thamgia khổi Đồng minh chống phát xít, có đại diện ở Côn Minh. Như vậy, trong bộ máy cai trị của Pháp ở Đông Dương cũng có một số “hai mang”, hoạt động ngầm cho chính phủ Đờ Gôn. Tuy nhiên, người Pháp dù Đờ Gôn hay không Đờ, thì họ nhất trí với nhau thái độ đối với Việt Minh, nói nôm na là chả coi đám ở rừng ra gì. Bởi vì họ kiên trì một chính sách bảo vệ vị thế nước Mẹ của Pháp ở Đông Dương. Theo sách của các ông Mỹ, thì không chỉ người Việt bắt mối, mà chính người Mỹ, người Anh muốn thuyết phục đám Pháp ở Côn Minh bắt tay với Việt Minh chống Nhật, chúng cũng không đồng ý. Theo lý mà nói, người Pháp ở Côn Minh, ở trên đất TQ, nhưng cũng hằm hè với chính người TQ (quốc dân đảng), vì người TQ chuẩn bị hậu chiến “Hoa quân nhập Việt”, người Pháp thấy thế là ngứa tai ngứa mắt. Việt là của Pháp, chứ của Hoa đâu mà nhập. Kết quả là không chỉ Việt Minh cộng sản không bắt tay được với Pháp Đờ Gôn, mà Việt lưu vong đủ loại quốc gia, quốc dân cũng ghét Pháp.
Trong bối cảnh đó, nhóm Con Nai ban đầu cho nhảy dù xuống Tân Trào, ngoài mấy ông Mỹ xịn, thì có một anh người Pháp Montfort và 2 phụ tá người Việt. Văn phòng OSS ở Côn Minh của người Mỹ chỉ biết cử người của họ. Khi xuất hiện ở Tân Trào, thì xảy ra việc trục trặc quan hệ giữa Việt Minh và Montfort. Mâu thuẫn không dàn xếp được, cuối cùng Montfort phải rời khỏi Tân Trào.
Sau này xem xét các sự kiện, thú thực, đoạn này không khỏi chê trách Ông cụ. Nhóm OSS xét cho cùng là các sĩ quan tình báo chuyên nghiệp, trong trường hợp này, họ là quân báo chiến thuật. Người Pháp trong OSS làm việc cho Mỹ, nhưng như nhiều sĩ quan trong ngành này, họ cũng làm việc cho Pháp, nhưng không giữ được Montfort nên mối giao thiệp với Pháp càng ngày càng khó. Lịch sử đã chứng minh điều đó.
Ngày 17/7/1945, Ông cụ thông qua Tomas, chỉ huy nhóm Con Nai, gửi cho phía Pháp ở Côn Minh một thông điệp 5 điểm:
1. Một quốc hội sẽ được lựa chọn bằng phổ thông đầu phiếu. Đó sẽ là cơ quan lập pháp của đất nước. 
2. Một thống đốc người Pháp sẽ thực hiện trách nhiệm của tổng thống cho tới khi nền độc lập của chúng tôi được bảo đảm. Vị tổng thống này này sẽ lựa chọn nội các hoặc một nhóm cố vấn được quốc hội chấp thuận. Quyền lực rõ ràng của tất cả những cơ quan này có thể được định rõ trong tương lai.
3. Độc lập sẽ được trao cho đất nước trong thời gian tối thiểu là 5 năm và tối đa là 10 năm. Những nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước sẽ được trả lại cho nhân dân sau khi bồi thường sòng phẳng cho những người hiện đang sở hữu chúng. Nưóc Pháp sẽ có lợí từ đặc quyền kinh tế.
4. Tất cả những quyền do Liên Hợp Quốc đã công bố sẽ được bảo đảm tại Đông Dương.
5. Cấm buôn bán thuốc phiện.
Đây thực chất là thông điệp cầu hòa của Việt Minh. Việt Minh đòi độc lập có thời gian chuyển tiếp 5-10 năm. Bây giờ đọc lại, thấy tiếc cho lịch sử. Đến 17/7 mà Ông cụ còn nghĩ đến cầu hòa. Nhưng người Pháp kiêu ngạo đã không đáp lại, hoặc là họ còn chần chừ theo thói quan liêu vốn có. Nào ngờ những sự kiện xảy ra quá nhanh. Theo hồi ký của các ông Mỹ, người Pháp đã chuẩn bị trả lời hoà giải, dù là lấp lửng, nhưng lại không chuyển nó qua các kênh của OSS rõ ràng là để Sainteny đích thân trao cho Hồ Chí Minh. Nhưng thời gian dành cho hoà giải thời chiến đang nhanh chóng kết thúc. Ngày 6 tháng 8, (…) đã bị đổ vỡ bởi trái bom nguyên tử tàn phá Hiroshima.
Rõ ràng, để lịch sử Việt Nam có Điện Biên, người Pháp cũng có trách nhiệm không nhỏ. Nhiều khi sự kiện lớn chỉ phụ thuộc một cá nhân, ví dụ, nếu Fenn không có cảm tính với Ông cụ, thúc đẩy quá trính gặp Chennault, thì không có đội Con Nai đến Tân Trào. Giả sử Ông cụ không phạm sai lầm (hoặc lịch sử sai) đuổi Montfort đi khỏi Tân Trào, có thể những liên lạc với phía Pháp không chậm trễ như đã xảy ra. Và như vậy, có thể lịch sử nước VNDCCH rất khác. Ngày nay, khi nghiên cứu các sự kiện Cách mạng tháng Tám, rất dễ bỏ qua một vài sự kiện nhỏ như sự kiện trên đây.
 
Vũ Xuân Tửu Gửi lúc : (30/07/2017 | 01:03:00)
Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : 671h72
Bài viết khác