Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
nguyen thi cam tu

Bình Luận của nguyen thi cam tu

cac ban oi cho minh y kien nhe. vay tom lai ho quy ly duoc xem la anh hung hay gian hung
ngo panbin

Bình Luận của ngo panbin

Khong nen binh luan danh gia cac nhan vat LSU mot cach thieu cong bang. Troi sinh ra kg ai hoan hao. trong cuoc song ban muon lam viec that hoan hao, nhung co bao gio dc kg ??? vi vay lanh dao mot dat nuoc khi hanh dong trong cong viec, cung nhu trong cuoc song doi thuong,co gi do kg hoan toan tot dep,co gi do khiem khuyet, ta cung nen luong thu ma bo qua cho ho, mien sao cai sai kg qua tram trong,cai lam duoc cho dantoc datnuoc de den hom nay chung ta va lich su thay dung dan co ich la qua tot va can ton vinh cong lao do, Cac ban co khi nao lam lanhdao va dung truoc ap luc that su lon chua ??? khi do kho tam lam ban oi !!!
Vay nen toi khuyen cac ban can co tam long bao dung hon voi nhung ai da lam tot, co loi cho datnuoc va dantoc vietnam, Du ho khac ching kien khac quan diem chinh tri voi ban, nhung chung ta la mot me auco sinh tram trung, va bo coi viet nam neu co mat vao tay ke nuoc ngoai ban chac se that su dau long. Con ben CSan hay QGia thi suy cho cung chua phai qua toi te, truoc het la cham dut chien tranh som di doi voi dong nghia su giet choc nhau giua nguoi vnam voi nhau kg con,dat nuoc ven toan mot moi, dan bot lam than kho cuc,Phia ban va phia toi, tat ca la conrongchautien,
Toi kg quan trong cai ten, CN CSan, CN MACLENIN hay chu nghia nao nao di nua, nhung dem lai dieu tot cho dongbao datnuoc vnam la dc, CN nao cung vay neu kg dclongdan, ban kg can thucday kg can dautranh ma tu no cung sup do va dongbao trong nuoc se lam viec do,
Phan Văn Hoàng

Bình Luận của Phan Văn Hoàng

Xin góp hai ý :
1- Tên tờ báo là NÔNG CỔ MÍN ĐÀM (nghĩa : uống trà nói chuyên làm nông và buôn bán). Không phải MÍM ĐÀM.
MÍNH là trà non. Cụ Huỳnh Thúc Kháng có bút hiệu MÍNH VIÊN (vườn trà non)
Người Nam Bộ phát âm -IN thành -INH, nên viết MÍNH thành MÍN.
2- Người ĐỒNG BANG là người cùng chung một nước.
Do người Nam Bộ phát âm lẫn lộn -AN và -ANG nén viết sai đồng BANG thành đồng BAN.
PVH
viet ha

Bình Luận của viet ha

bac le duan xa chung ta roi xong su can nhac trong moi tinh huong cua bon phuong bac khong qua duoc mat bac de hom naz con chau mang ra ma hoc mot so dung vi ca nhan cung dmua chuoc than bon phuong bac cung dung vi tien lam giau ca nhan con nhuoi tren the gioi naz ai cung thich hoa binh ai cung thich em am hanh phuc khong ai thich kho thich doi thich su tan nat vaz ai cung phai co hoc co nhan thuc daz du co su quan he dung dan be ban nam chau phuong bac danh ta la no khinh thuong khoi chau a khinh thuong ca the gioi con mang ba tinh thanh hoa nghe an ha tinh di lam bia la khong dung ca nuoc dung len dau tien la con em trong bo chinh tri ngaz baz gio lam guong phai ren binh luoc chi va con em can bo cua cac tinh thanh ra mat ngaz baz goi lam cho ca the goi kham phuc ai roi cung chet can thiet cho cac doi cam tu sang phuong bac cac ong ba cu ngoi len dung xuong noi qualoa len xe xuong nghua tien bac xung xinh con dan bam bien bi chung giet nguoi an cuop chung nhon mat roi truong xa hoang xa no lam het cong trinh naz den cong trinh khac
đỗ hồng quân

Bình Luận của đỗ hồng quân

Nói chung HQL đến bay giờ vẫn la bí ẩn.nhung xét cho cùng ông đê lại một sự táo bạo.giam cải cách....
Bờ

Bình Luận của Bờ

phân tích tác phẩm, nội dung chính truyện và cảm nhận của nhân dân đối với Bà Triệu
Tản Văn
Tết nhất như với những người bạn già (Khai bút năm Giáp Ngọ)

 1.

Tết đến, xuân về, ai ai cũng nói về tuổi trẻ. Tôi đón Tết, lạ lùng thay, cứ có cảm tưởng gặp lại một người bạn già. Mỗi năm một người bạn. Muôn vàn tính cách, và ngày càng già đi, ngày càng thấu hiểu cuộc đời. Gặp những người bạn như thế, quá khứ sống động trở lại, nhìn về tương lai với con mắt bình tĩnh và vấn vương tiếc nuối.
Cả năm bận rộn, quay cuồng đua chen miếng cơm manh áo, nào lợi quyền, nào danh vị, cứ mỗi khi thời gian đưa chúng ta về gần với Tết, dường như thời gian nhắc nhớ anh sắp đến một thời khắc phải ngưng đọng, phải suy ngẫm. Cho đến đêm ba mươi, trước bàn thờ tổ tiên, thổ công, quây quần với con cháu, họ hàng, dường như thời gian chậm chạp ngừng lại. Sống chậm. Sống chạm vào tâm tư, tình cảm, đụng đến nhân bản và văn hóa. Khi đó thôi nghĩ về chiều rộng, ngẫm về chiều sâu, thôi nghĩ về số nhiều, ưu tư về cái tinh túy. Đó là phẩm chất của một người già hiểu đời, hiểu người. Tết như một người bạn già một năm gặp nhau một lần vậy.
 
2.
Mấy năm nay, cứ gần Tết là nhà văn Lê Văn Thảo lại ra Bắc, bao giờ ông cũng ới tôi. Năm ngoái, hai ông Lê Văn Thảo và Nguyễn Quang Sáng, đến ngày 25 Tết, còn ngồi ở Hồ Thiền Quang, gọi tôi đến. Nguyễn Quang Sáng đã chậm chạp lắm, nhưng quả tim ông nuôi cơ thể bằng rượu Chi-vat. Ông Thảo có 6 chai nhỏ rượu du lịch, mua ở sân bay dịp đi nước ngoài về. Thế là Nguyễn Quang Sáng uống 4 chai, còn 2 chai về khách sạn uống nốt trước khi đi ngủ. Sáng hôm sau, tôi đón Lê Văn Thảo đi Bắc Cạn, ông Thảo nói: “Nhìn tao đi chơi với mày, tao thấy mắt ông Sáng buồn lắm. Ông ấy thèm đi lắm, nhưng không đi được nữa. Tao thấy ông ấy thế, nên càng muốn phải đi…”
Tôi và ông Thảo đi một mạch lên Hồ Ba Bể, đi thuyền đến một hòn đảo hoang sơ chỉ có dăm ba mái nhà, rồi ăn một bữa giữa thiên nhiên. Ông Thảo mua một chục chai vang, uống hết thì về là vừa. Khi qua các phố Hà Nội, không khí Tết chộn rộn, thế mà mình đi về nơi hoang vắng, nơi mọi nhà dân còn bận hái cây trái vườn nhà đi bán, tính đếm những đồng hào lẻ sắp Tết. Khi đó, dường như mình đi về thời gian quá khứ xa thăm thẳm. Ông Thảo rủ rỉ kể chuyện, chuyện thời trai trẻ, chuyện ở R với những ông bạn đã đi về miền siêu thoát. Không gian cổ tích, thời gian sống chậm, câu chuyện hoài cổ, tình người đậm đặc. Cứ như mình trôi về huyền thoại…
Lê Văn Thảo là một nhà văn kín đáo. Nhưng đó là một ông già cởi mở. Tuy nhiên, nhiều người nghĩ khác, họ chỉ biết ông Thảo lầm lì, khó tính và thấy lạ khi tôi hay đi với ông ấy. Tôi gặp ông Thảo không phải để bù khú, không phải để cùng tận hưởng kiểu nâng cốc “dô, dô”. Tôi đi với ông bao giờ cũng có cảm tưởng Tết đang đến gần. Mình đi bên một ông hình dáng thì già, mà tâm tư thì trẻ. Có những phút ông hát như một thời trai trẻ ôm đàn. Không gặp ông lâu lâu lại nhớ. Gặp rồi thì toàn chuyện quá khứ, có chuyện kể đi kể lại, mỗi lần một văn cảnh khác. Vẫn chuyện Lê Anh Xuân, Hồng Sến ở R, mà mỗi lần họ lại sống một cách khác. Cứ Tết về, tôi lại nhớ những người bạn già như ông nhà văn Lê Văn Thảo.
Năm nay, gần Tết, ông Thảo điện thoại ra, than một câu: Không hiểu sao năm nay không thấy khỏe như năm ngoái. Tôi chợt nhận ra, Tết năm nay cũng không vui như năm ngoái. Tuổi chúng ta cứ dầy thêm, thì nhìn cái Tết cứ khác dần, như những người bạn già dần dần xa chúng ta, cho đến khi ta đi theo họ…
 
3.
Nhà văn Tô Đức Chiêu đồng hương Hải Dương với tôi, nên các câu chuyện của ông quen thuộc như thể tôi đã nghe anh mình, bố mẹ mình kể lại. Có một Tết, tôi và ông đi ngang qua thành phố Hải Dương, nhìn những phố xá và nhà cao tầng, ông Chiêu chỉ rành mạch từng nơi, và kể ông đã từng đánh dậm ở chỗ này, móc cua đơm cá ở chỗ kia. Vào thời gian Tết nhất, người ta hay nghĩ về ông bà, tổ tiên. Khi tôi nghe ông Chiêu kể chuyện, là một lần tôi hình dung ra rõ rệt ông bà mình đã sống như thế nào. Giống như một bức ảnh thường ngày hiện ra trên màn hình máy tính mờ mờ, đến thời điểm ấy, nó “load” rõ nét, đầy đủ độ phận giải, làm bừng sáng cái nhìn của người ta.
Ông cụ thân sinh nhà văn Tô Đức Chiêu là con địa chủ, rồi đi dạy học, làm Tổng sư. Đoạn lý lịch ấy trùng lặp ngạc nhiên với ông nội tôi, cụ nội tôi từng làm Chánh tổng, địa chủ vướng vào nghĩa quân Bãi Sậy mà khánh kiệt, rồi ông nội đi dạy học, làm Tổng sư ở Kinh Môn. Câu chuyện của ông Chiêu thích nhất là nghe khi sắp Tết. Đó là giây phút chúng ta có cảm giác liên tục về giòng giống, về họ hàng, huyết mạch. Tết đến khi mùa xuân về. Hình thức của nó hớn hở và vui tươi, đó là thời tương lai vĩnh cửu. Nhưng phong vị của nó mang tính nhân văn thì gắn chặt với ký ức và hoài cổ. Đó là cái Tết đặc biệt Việt Nam. Những nhà văn già dường như có đặc điểm rất giống với cái Tết của người Việt. Thời gian vô nghĩa nếu không có tết. Văn hóa người Việt sẽ ra sao nếu không có các nhà văn già? Họ ở cái tuổi thấu hiểu trời và người, và tâm hồn họ trong một góc thẳm sâu là sức trẻ. Nếu không có cái góc thăm thẳm ấy, thì sao ra văn ra thơ được.
Năm đó gần Tết rồi, mà tôi gặp chuyện chẳng ra sao. Tôi có mâu thuẫn với một nhà văn trẻ, cãi nhau trên báo chí. Rồi có những cái tin nhắn nặc danh cứ chĩa vào chị ta. Một nhà văn nữ khác thì thào với tôi, đại ý thằng ấy thằng nọ nghi là cậu nhắn những cái nặc danh ấy. Thằng nghi tôi lại ở báo ngành công an, thế thì sự truyền tụng nguy hiểm thế nào? Phải nói là bực bõ lắm. Cái báo công an ấy, có anh Phó tổng biên tập thó gần y sì bài thuyết minh phim của tôi đăng vào sách mang tên ông ta, khi phát hiện ra, ông phó tổng này chỉ gọi điện xin lỗi. Tôi bảo ông hãy xin lỗi công khai bạn đọc ấy… Đại khái cuộc đời cứ có những cái tréo nghoe. Ông Tô Đức Chiêu bảo: “Chúng ta sống trên đời thật, chứ không phải ở thiên đường. Có tai ương, nhưng vẫn có Tết đến xuân về. Ai cũng sống đủ một cuộc đời mà. Cậu có tớ hiểu cậu, còn chúng nó không biết cậu thế nào là thường thôi”. Ông ấy là một ông già trải đời, nói một câu khiến mình thấy những tai ương mình thấy chỉ còn bé xíu. Có những người bạn già, cũng như thời gian có Tết.
 
4.
Tôi đến thăm nhà văn Ma Văn Kháng khi mới tập tọng viết văn. Đó là một lão nông giữa lòng thành phố. Hình thức biểu hiện như cây cỏ, mà tâm tư như cổ thụ giữ rừng già. Lao động nhà văn của ông Ma Văn Kháng cũng như lao động nhà nông. Cần mẫn đến ngạc nhiên. Người trồng lúa có suy nghĩ gì khác khi họ làm viêc không? Đó là công việc truyền đời từ tổ tông đến họ. Nhà văn Ma Văn Kháng có thể viết tiểu thuyết, truyện ngắn, tạp bút… Bất cứ cái gì động bút đến đều thành văn. Đó là một tấm gương lao động phi thường. 
Hồi mới quen, tôi hay đến chơi khi sắp Tết. Nhưng không phải đến lúc Tết, mà ngày thường, trong tâm khảm thì tôi vẫn thấy bình yên mỗi khi nhớ đến ông. Gặp gỡ một nhà văn già như Ma Văn Kháng, thời gian sống dường như không bình thường, nó ngưng đọng đặc biệt. Vào dịp Tết, các phong tục tổ tiên sống lại, dường như nó đã được thanh lọc qua thời gian vô tận đến nay. Tiếp xúc với Ma Văn Kháng, dường như tôi thấy câu chuyện của ông cũng đã được chiêm nghiệm kỹ càng rồi, đã lọc qua con mắt nhà văn của ông mà thành chuyện kể đến tôi.
Ngày Tết người ta thường chúc nhau những lời hay ý đẹp, cố tránh những điều không tốt. Đó là cách diễn đạt hy vọng tương lai, đúc kết vào hành vi sống. Gặp một nhà văn già như Ma Văn Kháng, có thể nhìn thấy những hy vọng thông qua cách nói, cách viết và các câu chuyện của ông. 
Có một năm, tôi đến ông, than thở rằng, tại sao thời nay các nhà văn nổi sóng truyền thông lại thường không phải là nhà văn hay nhất, và tại sao những nhà văn hay nhất lại thường âm thầm ít người biết đến? Ông Ma Văn Kháng nói: Ai cũng biết là mùa xuân về, ai cũng sắm Tết. Nhưng mà những cái Tết vui tươi nhất lại là trong lòng người thì mấy ai hiểu nổi. 
Ông Ma Văn Kháng kể, thời ông còn ở Ban Chấp hành Hội Nhà văn, có người đã đến quỳ xuống trước mặt ông xin một phiếu. Đó là cách mà con người sống với dã thú. Nó coi mình như dã thú. Có khi mình viết ra những dòng nhân văn, người ta lại “phiên dịch” thành ý này ý nọ, cũng là bởi vì họ đọc văn bằng mắt người mà lòng không phải của con người… 
 
5.
Những nhà văn tôi quen biết đều hơn tuổi tôi rất nhiều. Những Hoàng Minh Tường, Nguyễn Khắc Trường, Bắc Sơn, Hà Phạm Phú, Hà Đình Cẩn, Đỗ Trung Lai, Chu Lai, Nguyễn Hữu Hà, Trần Quốc Toàn… và nhiều nhà văn khác. Có lẽ vì mình vốn tính tình khó chịu, già lão. Cũng có lẽ mình vốn chọn chỗ lành, thôi thì cứ nên im lặng mà nghe. Nên tôi ít có bạn trẻ hơn. Hoặc là các ông nhà văn già thường nhìn thấy tôi sự yên ổn? Tôi thường không cắt nghĩa nổi. Cho đến mấy năm gần đây, hay đi với ông Lê Văn Thảo dịp gần Tết. Tôi mới vỡ lẽ, hóa ra mình nhìn các ông ấy với tâm trạng người đời đến Tết. Nên mới ra như thế. Đón Tết thì vừa vui vừa lo, vừa mừng vừa sợ. Cũng như mình đứng trước các bậc trưởng lão cây đa đại thụ. Đón Tết thì vừa hoài cổ vừa hy vọng mùa xuân, trí thì già mà tình thì trẻ, cũng như những ông già nhà văn thâm trầm mà lãng mạn.
Các bạn già nhà văn cũng như Tết vậy, mỗi năm chắc sẽ già dặn hơn, rồi đến khi mình cũng thành nhà văn già, thì mình cũng hòa vào Tết. Để đến khi con cháu nhớ đến mình mỗi khi Tết đến xuân về. Hạnh phúc của một đời viết văn, kể như khuôn lại bấy nhiêu cũng là nhiều.
 
 
Mồng Một Tết Giáp Ngọ
Chưa có bình luận nào !
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : tlrbrj
Bài viết khác