Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Duy Minh

Bình Luận của Duy Minh

Nhiều lần đọc những bài viết của nhà văn, biết bác người xứ Đông cháu cũng cảm thấy đồng cảm như người đồng hương. Liệu có một ngày nào đó, Hải Dương và Hải Phòng có thể nhập lại làm một, cái tên Hải Đông có lẽ thích hợp hơn cả. Thật buồn là đến giờ nhiều người ở VN (bao gồm không ít người có uy tín trong các ngành văn hóa, giáo dục, sử học) và cả những người Việt sống ở hải ngoại vẫn cho rằng nhà Mạc ra đời là một sai lầm của lịch sử VN và Mạc Đăng Dung cắt đất cho ngoại bang! Hành động hạ mình có vẻ thái quá của Thái thượng hoàng nhà Mạc (lúc này ông không còn làm vua nhưng nhiều người không quan tâm chi tiết lịch sử này) sau này vua nhà Lê trung hưng lặp lại thì lại được sử quan triều Lê-Trịnh cho qua! Giờ đang sống trên mảnh đất Nam bộ vốn là đất cũ của Chân Lạp, cháu tự hỏi không có thế kỷ 16 với những biến động lớn thì liệu dân Bắc Hà chúng ta chỉ có mỗi cái chốn Hà Thành để tranh giành quyền cai trị lẫn nhau hết đời này qua đời khác thôi sao?
Nguyễn Việt Long

Bình Luận của Nguyễn Việt Long

Chi tiết "lãnh tụ cực tả của QDĐ Lão Trung Kha" viết sai tên. Chả có ai là Lão Trung Kha cả, đó là Liêu Trọng Khải.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Tôi không rành về Lào cho lắm, nên không hiểu chế độ hiện nay như thế nào? Nhiều khi thấy thế giới phân loại các quốc gia cộng sản gồm 5 nước thì có Lào. Nhưng đọc một văn bản của Cộng đồng Châu Âu xếp loại 4 nước cộng sản trên thế giới thì không có Lào. Nghe nói, họ còn bảo VN sang mà đưa tượng ông cụ về đi.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Tản Văn
Thuần Việt?

Gần đây, một bà nghị nói trong Quốc hội rằng cần đề ra luật mọi người phải đặt tên “Thuần Việt”. Thế là mạng xã hội dậy sóng. Nhưng tôi không bàn khía cạnh luật pháp của vấn đề “đặt tên thuần Việt”, mà băn khoăn về cái gọi là “Thuần Việt”.

Hồi mấy tháng trước, khi có một nhóm phát động vấn đề “Thoát Trung”, thì có một ông được cho là dư luận viên, chuyên chửi bới các nhà dân chủ, hung hăng lập luận rằng: Tiếng Việt có đến ba phần tư là từ Hán Việt, thì tức là người Việt chúng ta dính với Trung đến ¾, nếu thoát Trung thì người Việt sẽ ú ớ như câm.

Đó là cách hiểu của một ông cực đoan kiểu Hồng vệ binh, đã tự tin với tín điều của mình đến nỗi quay video clip phát trên Youtube.

Nhưng lạ lùng là sau khi có bà Nghị đề xuất phải đặt tên thuần Việt, thì có một nhà văn (có Facebook hàng nghìn bạn theo dõi) lại chế diễu bà nghị kia bằng lập luận: tên người Việt vốn phần lớn không thuần Việt, vì các mỹ từ đều dùng từ Hán Việt. Lại còn ví dụ như Cẩm Tú, Quang Vinh… vân vân, đều không thuần Việt cả.

Tôi không sao diễn tả được nỗi ngạc nhiên. Đến như một người cầm bút viết văn còn hiểu như vậy, nói gì cái ông cựu chiến binh dư luận viên.

Từ lâu, từ Hán Việt vốn là một bộ phận quan trọng trong từ ngữ Việt. Tôi không phải học giả chuyên về từ ngữ, mà chỉ cảm nhận được thông qua phân tích lịch sử ngôn ngữ, sự thực hành ngôn ngữ mà nói, thì khẳng định ngay, các vị phạm vào một sai lầm nghiêm trọng về tiếng Việt.

Từ Hán Việt là kho tàng từ ngữ hình thành trong quá trình tiếp nhận giao lưu với văn tự Hán và tiếng Hán. Khi người Trung Quốc mang chữ xuống nước ta, thì người Việt xưa chắc là chỉ chấp nhận cái chữ tượng hình, chứ không chấp nhận tiếng của họ. Chém cha không bằng pha tiếng. Giữ tiếng là giữ hồn dân tộc. Chữ là chữ Hán, nhưng phần lớn quan lại đô hộ là xuất phát từ khu vực Nam Trung Hoa, tức nước Ngô, bộ phận cư dân Bách Việt, lấy tiếng Quảng Đông là ngôn ngữ chính. Từ Hán Việt chắc là hình thành từ cách Việt hóa những âm Quảng Đông. Một khi chữ Hán đọc bằng âm Hán Việt, thì đó là thứ từ của người Việt, “lấy” của người Hán từ cái chữ và có thể khẳng định đó là tiếng của người Việt, phát âm của người Việt, chứ người Hoa không hề biết thứ ngôn ngữ đó. Ví dụ, chữ 光明, người Trung Quốc nay phiên âm “Guangming”, còn Việt Nam nói “Quang Minh”, rành rọt “quờ oang quang, mờ inh minh” chứ không phải phát âm “Guangming”. Những ai học qua một chút Hán Nôm, nếu có chút phân tích, thì biết âm Hán Việt chính là thứ âm của người Việt chứ không của ai khác. Khi có từ Hán Việt, thì kho tàng từ ngữ Việt càng phong phú thêm ra. Đó chính là từ thuần Việt, chứ quyết không phải loại gì vướng vất đến sở hữu của Trung Hoa.

Số phận của từ Hán Việt, theo tôi hệt như câu ca dao: Thực vàng chẳng phải thau đâu, mà mang thử lửa cho đau lòng vàng. “Vàng” Hán Việt này ngày nay bị một số người cư xử kiểu như: “Mang vàng đi đổ sông Ngô, đêm nằm tơ tưởng đi mò sông Tương”

Thứ kho tàng quý báu của ta, mà cứ chối bảo là nó là của Trung Quốc. Cho nên bây giờ mới có tình trạng dùng từ Hán Việt vô tội vạ, ngô nghê đến buồn cười. Đó xuất phát từ cách hiểu sai lầm kho tàng từ Hán Việt.

Tôi cho rằng, đã đến lúc phải có hội thảo của các nhà ngôn ngữ, đặt lại tên cho kho tàng từ Hán Việt. Ngày xưa, chữ Hán Việt để chỉ từ ngữ Hán Việt, chắc là Việt là danh từ, Hán là tính từ. Từ Việt Nam có tính chất/nguồn gốc từ chữ Hán. Ngày nay, ngôn ngữ Việt nói danh từ trước, tính từ sau, nên nhiều người lầm lẫn, cho rằng từ Hán Việt là không phải Việt. Nên đặt lại tên cho kho tàng từ ngữ này, gọi nó là từ “Việt cổ”, hoặc “Việt trung cổ”, hoặc từ Việt Bắc thuộc…. vân vân, tránh chữ Hán Việt đi.

Quan niệm về từ Hán Việt đến như ngày nay, khiến cho nó ảnh hưởng đến cả địa hạt chính trị, luật pháp, thật là không phải là vấn đề nhỏ nữa. 

hoak20bkhn Gửi lúc : (08/11/2014 | 01:27:00)
Thực ra điều Trần Hải Yến quan tâm thời xa xưa,các cụ đã chất vấn trên văn đàn:Sao không từ tích Việt ,lại dùng Đoạn trường Tân thanh của TQ?Ngay TK viết bằng chữ Nôm,song có ai biết chữ Nôm lại khó hơn chữ Hán nhiều?Dù sao cho đến nay,người ta mới tạm chấp nhận 1-2 bản dịch Truyện Kiều từ chữ Nôm.Thuần Việt làm sao được,khi mà Nguyễn Du sử dụng hầu hết là điển tích Tàu?Thuộc Kiều,bói Kiều ,lảy Kiều...thì nhiều người biết.Song hiểu hết ý tứ từng câu Kiều được mấy người.Nhưng Tố Như thực là vĩ đại ,thời đó ông hiểu tích Tàu còn hơn người có học bên Trung hoa.Truyện Kiều long lanh là vì thế,chứ không phải thuần Việt?Gốc Việt càng không phải?
Trần Hải Yến Gửi lúc : (31/10/2014 | 08:54:00)
Em liên tưởng đến viên ngọc long lanh trong kho tàng văn học đân tộc - "Truyện Kiều" - của cụ Nguyễn Tiên Điền.
Cốt truyện từ văn học TQ, nên tất nhiên rồi, nhân vật, địa danh, sự kiện ... ở TQ.
Nhưng vẫn được coi là văn học VN bởi được kể bằng chữ Nôm, bằng thơ lục bát, và phản ánh hình bõng lịch sử, xã hội VN cuối Lê đầu Nguyễn.
Rồi cả chữ Nôm nữa - Quốc âm, quốc ngữ ngày xưa ... cũng là mượn chữ tượng hình của người Hán và có thêm bộ phận ghi âm Việt.
v ... v...
Những cái đó, có coi là "Thuần Việt" không nhỉ?
Đinh Khắc Bình Gửi lúc : (30/10/2014 | 02:02:00)
Thuần Việt bản thân cũng là gốc Hán(Thuần túy,thuần chủng…),thì sao phải mất công tranh luận cái đề nghị này?Thưc ra bà nghị muốn cấm đặt tên Tây,tên dài ,tên khó đọc ,tên xấu….(Nhưng như thế cũng đủ để khối chuyện nói).Nếu có chữ Việt ,thì bà muốn nói đến gốc Việt chăng?Sinh thời Bác Hồ nhiều trường hợp dùng từ gốc Việt mà qua đó một thời nhân dân dùng theo: Đàn ông ,đàn bà.Ba sẵn sàng,ba đảm đang(đầu là ba đảm nhiệm).Học sinh đại học.(Chứ không phải học trò đại học mới thật gốc Việt)…Nay thì trở lại cách nói thông thường,một vài trường hợp vẫn dùng đàn ông ,bà thay cho nam giới ,phụ nữ,nữ giới…Thế nào là gốc Việt?Vẫn còn nhiều cái khó giải thích ,song phải dễ hơn thuần Việt?Truyền thống ở ta,gọi người gốc Việt là bố Việt,mẹ Tây.Nhưng bây giờ mẹ Việt ,bố Tây cũng coi là gốc Việt.Tôi cũng đã hỏi những người giỏi về Hán học:Xa xưa các cụ đi xứ có cần thông ngôn?Được trả lời, biết chữ Hán thì giao tiếp cũng lơ lớ nghe hiểu được?Trường hợp này là người Tàu nói lơ lớ tiếng Việt,không thể với chữ Hán?Nó cũng là cách lí giải như ý nhà văn?
Trở lại nhiều chuyện để nói:Cấm đặt tên Tây?Mẹ Việt ,bố Tây quốc tịch Viêt sao không có quyền đặt họ ,tên con Tây?Luật quốc tịch có bắt buộc thay tên đổi họ theo Việt?Con tôi đẻ bên tây,đặt tên con là kỉ niệm Tây ,sao lại cấm?TV sáng nay đưa ra hai cái tên của ông bố họ Nguyễn đặt tên con:Nguyễn La Tô,Nguyễn Lê Na ai dám bảo nó không thuần Việt,là tên Tây?Hỡi ôi,cái chuyện Ô Lê Duẩn là em Ô Lê Nin đây mà.
Một cái tên thuần Việt hay gốc Việt là đảm bảo 54 dân tộc trên đất nước này đặt ,gọi.Nhiều tên đồng bào dân tộc dài và khó đọc hơn tiếng Tây nhiều.Ở vùng Tây nguyên thổ ngữ na ná như In do,malayxia với người kinh là khó đọc khó viết .Không mấy khi gọi đúng ,nói đúng theo phát âm của họ?Thế còn tên xấu?Xấu đẹp, hay, tục là theo âm thanh nhiều khi lại do tiếng của dân tộc đó quyết định?Lí Thị Lìn chắc phải thuận với đồng bào Tày,khó thuận với người Kinh .
Quyền khai sinh là của trẻ em & phụ huynh?Quyền đặt tên chỉ có ở phụ huynh và tổ chức khi làm GKS.Không thể tước quyền này.Nói như TV,tên là do XH đặt ,PL không can thiệp.
Cũng vì cái tên mà phải sinh ra hội thảo nọ kia là không cần thiết?Hơn nữa nếu luật căn cước thông qua.Mọi công dân đã có số định danh suốt đời.SĐD luôn dùng trong pháp lí,thủ tục.Cái tên chỉ là để gọi ,xưng hô thôi.Nhiều phiên họp QH vị chủ tọa liên tục đòi cắt bớt phát biểu?Bỏ ,không bỏ GKS & cấp căn cước thì bà Nghị ,Ô nghị nên tập trung vào điều đó.Đề nghị thêm cái này bớt cái kia mà làm gì?Cái chuyện mả cụ phải đặt chỗ này là muôn thủa?
Gửi ý kiến cho bài này
Tên (*):
Email (*):
Nội dung :
Mã xác nhận : 1jeq5r
Bài viết khác