Liên kết website
Sách bạn Văn
Phản hồi mới
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Mạn phép hóng hớt đôi điều:
Chữa bệnh kiết lỵ cho Bác ở Tân Trào có 3 người, gồm: y (bác) sỹ Paul Hauland (Mỹ), y tá Việt Cường và 1 bà lang người thiểu số do ông Chu Văn Tấn đón về.
Chăm sóc hằng đêm ở lán Nà Lừa do ông Võ Nguyên Giáp và Lê Giản (Tô Gĩ) thay phiên nhau.
Vũ Xuân Tửu

Bình Luận của Vũ Xuân Tửu

Bài hay, nhiều tình tiết hấo dẫn. Cám ơn tác giả. Đề nghị tham khảo thên 2 vấn đề sau:
Mục lV.1 a. Sau khi thống nhất 3 đảng, thì ông Trịnh Đình Cửu phụ trách BCH lâm thời.
Đoạn cuôi, ông Lê Hồng Phong học lý thuyết bay và thợ máy, chứ không phải là phi công.
Quang

Bình Luận của Quang

Thì ngay bây giờ người Việt vẫn chỉ là tiểu nhân: "Đi tắt đón đầu" chẳng qua là thích làm con buôn kiếm lời thay cho nhà sản xuất. Thế nên VN vẫn chưa sản xuất được máy móc thiết bị công nghệ cao mà chỉ biết nai lưng làm nông hay khai thác tài nguyên hay đi vay tiền để mua máy móc của nước ngoài. Hãy nhìn sang TQ xuất phát điểm không hơn ta nhiều mà nay hãy xem họ đang làm được gì: Tàu vũ trụ, máy bay, ô tô, xe máy, tàu cao tốc, tên lửa, máy siêu tính Tianhe nhanh nhất thế giới. Còn VN đang sản xuất cái gì?
Trần Minh Vũ

Bình Luận của Trần Minh Vũ

"Thị phi, phó dữ, thiên thu luận"
Thanh Minh

Bình Luận của Thanh Minh

Còn một điều mà tác giả chưa kể hết tội của cha con Hồ Quý Ly đó là tội làm chó săn cho giặc. Hai vua hậu Trần khi khởi nghĩa đều bị thất bại nguyên nhân chính là do cha con Hồ Quý Ly luôn dò xét tin tức rồi báo cho quân xâm lược. Súng thần cơ quân Trung Quốc đúc ra cũng để bắn vào quân dân Đại Việt. Tôi nghĩ phải xem lại những con đường mang tên Hồ Quý Ly. Có người còn dám so sánh Hồ Quý Ly với Trần Thủ Độ, theo tôi Trần Thủ Độ chỉ nói một câu " đầu thần chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo" thì ông đã là người anh Hùng rồi. Sư so sánh đó quá khập khiễng.
Hồ thị quế

Bình Luận của Hồ thị quế

Mình Là Con Cháu Họ Hồ. CỤ Tổ Là Hồ Quý Tâm, Anh EM Hồ Quý Ly nhưng tài liệu trên mạng thì mình không rõ lắm. Mình Muốn biết Hồ Quý Ly có bao nhiêu người Anh em
ngân

Bình Luận của ngân

Rất chính xác rất có ích .
ngân

Bình Luận của ngân

Rất hay rất có ích ngày mai con có thể đến lớp và vượt qua môn lịch sử 1 cách dễ dàng con rất thích và rất cảm ơn nhà văn nguyễn xuân hương
Vũ Hoàng Hữu

Bình Luận của Vũ Hoàng Hữu

Gửi tác giả bài viết:
Dù lịch sử diễn ra theo chiếu hướng nào nhưng tôi nhận thấy vấn đề rằng: " Không ai có quyền phán xét công, tội của người khác". Mọi thứ chúng ta hiểu biết về Hồ Quý Ly chỉ là dựa trên những sử sách còn ghi lại ( mà cái này thì lại do ai đó ghi chép lại), nó không thực sự chính xác 100%. Vì theo tôi được biết thì sau khi nhà Minh xâm lược thì đã cho đốt, phá toàn bộ sách vở, ghi chép... vậy thì lấy gì ra để mà xác nhận những gì đã diễn ra trong thời đại trước đó là đúng. Còn về công hay tội của Hồ Quý Ly thì chúng ta cũng chỉ nên đưa ra " nhận xét của cá nhân" chứng đừng hùng hồn tuyên bố vậy. Tác giả có tài năng như Hồ Quý Ly không mà có quyền phán xét? Tác giả có chắc chắn rằng những gì tác giả đọc được, biết được là đúng với lịch sử không mà cho rằng những điều mình nói là đúng?
xuân phượng

Bình Luận của xuân phượng

Khoái đoạn bác viết về VCH quá đi. nhà cháu cũng mê VCH lắm ạ.
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Gửi trang những bài thơ của cụ Lê Quát do Lê Hải dịch
THƠ VĂN CỤ LÊ QUÁT

Ông Lê Quát, tự Bá Quát, hiệu Mai Phong, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, nay là làng Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông sinh năm Kỷ Mùi – 1319 và mất ngày 25 tháng 3 năm Bính Dần – 1386, thọ 67 tuổi. Ông là con trai thứ hai của Tể tướng, Luật Quốc Công Lê Thân. Trước khi mất ông giữ chức vụ Thượng thư hữu bật, nhập nội hành khiển ( Hữu Thừa tướng). Ông cùng với Phạm Sư Mạnh là những học trò giỏi của Vạn thế sư biểu Chu Văn An.
Đương thời, ông sáng tác nhiều thơ văn, nhưng đến nay đã thất lạc nhiều, chỉ còn lại 7 bài. Ngoài bài văn bia khắc ở chùa Thiệu Phúc, Bắc Giang, nay xin giới thiệu 6 bài thơ của ông :


1- ĐỒNG HỔ

Nhất song đồng hổ cứ thành ngu ( ngung)
Thủ hộ thiên hôn kỷ độ thu
Tinh dựng thú sơn kinh bách luyện
Uy phân nham điện thước song mâu
Thanh dương quái đản chung hề tín
Kim mã khoa trương khởi tức mâu
Cáp tự trung thần tâm thiết thạch
Uy thanh lẫm lẫm ngọa biên đầu.

Dịch nghĩa:

ĐÔI HỔ BẰNG ĐỒNG

Một đôi hổ đồng ngồi ở góc thành
Canh gác cung điện đã mấy thu
Chất đồng kết tụ ở núi Thú Sơn đã qua trăm lần luyện
Oai phong được chia sẻ từ chốn Nham Điện, sáng quắc đôi ngươi
Dê đá kỳ quái rốt cục tin làm sao được
Ngựa vàng khoa trương nào có gì đáng sánh đâu
Hổ hệt như kẻ trung thành, lòng sắt đá
Uy danh lừng lẫy nằm trấn ở chốn biên thùy.

Dịch thơ:

Đôi hổ bằng đồng gác cổng thành
Mấy thu cung điện nhuốm rêu xanh
Thú Sơn kết tụ trăm lần luyện
Nham Điện oai phong mắt sắc vành
Dê đá dị hình tin chẳng được
Ngựa vàng khoe mẽ sánh sao bằng
Hổ lòng sắt đá người trung nghĩa
Trấn giữ biên thùy lừng lẫy danh.

Lê Hải ( dịch)


2- ĐĂNG CAO

Lão khứ kinh trần lưỡng nhãn hôn
Đăng cao đốn giác sảng linh hồn
Mang mang đại dã khai lăng ấp
Lịch lịch quần phong biểu quốc môn
Diên vĩ bắc hồi thiên trụ trạng
Vân trung nam ủng đế cung tôn
Bảo nguyên tằng dự tùng triều tuyển
Lạc dục ân thâm khắc cốt tồn.

Dịch nghĩa:

LÊN CAO

Già rồi, hai mái tóc phủ mờ bụi kinh thành
Lên cao, bỗng thấy tâm thần sảng khoái
Đồng nội mênh mông, trải ra những gò ấp
Núi non lớp lớp phô lên cửa trước
Diên vĩ xoay về phương Bắc, trụ trời thêm oai vệ
Vân trung ôm lấy phía Nam, đế đô càng tôn nghiêm
Từng được triều đình tuyển dự vào Bảo Nguyên
Ơn sâu đào tạo còn khắc mãi trong xương cốt.


Dịch thơ:

Mái đầu mờ phủ bụi đời
Tâm thần sảng khoái níu trời lên cao
Mênh mông đồng ruộng, đầm ao
Núi non lớp lớp dựng cao trước thành
Diên Vĩ hướng Bắc oai danh
Đế đô tôn quý mây lành phương Nam
Bảo Nguyên từng được dự bàn
Ơn sâu đào tạo chan chan ghi lòng.

Lê Hải (dịch)



3- CƯU TRƯỢNG

Quân ân ưu lão lễ vưu thù
Khắc trượng vi cưu đại lực phù
Tước xuất hoa ưng toàn thể hoạt
Uyển thành cẩm dực nhất chi cô
Quá mi hạc tất cương tài thiểu
Tại thủ long hình vãn tiết vô
Chế thử khởi duy cầu bất ế
Phù nguy cấp cấp thị lương đồ.

Dịch nghĩa:

GẬY CHIM CƯU

Ơn vua ưu đãi người già, ban cho đồ vật rất đặc biệt
Gậy khắc hình chim cưu, sức đã lớn
Trổ nên ngực hoa, toàn thân sinh động
Uốn thành cánh gấm, đậu một cành lẻ loi
Gối hạc quá mày, sức lực trẻ nay đã giảm sút
Hình rồng ở đầu, không còn tiết lúc tuổi già
Làm chiếc gậy này há chỉ cầu ăn không nghẹn
Đỡ lúc nguy, giúp lúc gấp đó mới là ý tốt.

Dịch thơ:

Ơn vua ưu đãi tặng người già
Chiếc gậy chim cưu sức vượt xa
Cánh gấm uốn hình cành lẻ biếc
Toàn thân sinh động trổ đầy hoa
Gối chùng, chân mỏi không còn trẻ
Rồng khắc đầu cây lúc đã già
Gậy quý há cầu đừng mắc nghẹn
Đỡ đần nguy cấp ý sâu xa.

Lê Hải ( dịch)



4- NHẠN TÚC ĐĂNG

Thượng Lâm đăng chế dị tầm thường
Nhạn túc tài thành thất xích trường
Bàn để cao ngâm nghi hệ bạch
Song gian cước ảnh nhận bài hàng
Y hy hạc diễm lãnh đinh nguyệt
Ẩn ánh nga phi phiên tái sương
Kham tiểu tần cung thượng kỳ xảo
Bàn ly phi giáp chiếu Hàm Dương.

Dịch nghĩa:

ĐÈN CHÂN NHẠN

Đèn ở Thượng Lâm chế ra khác loại đèn bình thường
Chân nhạn làm dài đến bảy xích
Ngấn mỡ dưới đáy đèn nom ngỡ buộc dải lụa
Bóng chân trên cửa sổ, trông như xếp hàng
Lửa hạc cháy phảng phất như trăng lạnh trên bãi sông
Đàn ngài bay mờ tỏ như sương quay lượn nơi biên ải
Đáng cười cho cung nhà Tần thích sự kỳ xảo
Đèn ly được trong cung Hàm Dương mà thôi.


Dịch thơ:

Thượng Lâm chế tạo chiếc đèn hoa
Chân nhạn cao vời đã khác xa
Ngấn mỡ đáy đèn như dải lụa
Bóng soi cửa sổ dưới hiên nhà
Lửa mờ phảng phất trăng sông lạnh
Lũ bướm vần quay sương ải xa
Kỳ xảo cung Tần xem chẳng đáng
Hàm Dương leo lói ánh đèn nhòa.

Lê Hải ( dịch)




5- TỐNG PHẠM CÔNG SƯ MẠNH BẮC SỨ


Phiên âm:

Dịch lộ tam thiên quân cứ an
Hải môn thập nhị ngã hoàn san ( sơn)
Trung triều sứ giả yên ba khách
Quân đắc công danh ngã đắc nhàn.

Dịch nghĩa:

TIỄN PHẠM SƯ MẠNH ĐI SỨ

Anh lên ngựa qua ba ngàn dặm đường dịch trạm
Tôi trở về nơi núi non ở mười hai cửa biền
Anh đi sứ Trung triều, tôi là khách của mây nước
Công danh anh hưởng, tôi thì được nhàn nhã.


Dịch thơ:

Bài dịch I

Bác lên yên ngựa ba ngàn dặm
Mười hai cửa bể tôi về ngàn
Người đi sứ giả, người mây nước
Bác được công danh, tớ được nhàn.

Bài dịch II

Ba ngàn dặm trạm đường trường
Anh lên yên ngựa, tôi nương biển trời
Bước đường sứ giả dập dồi
Công danh bạn hưởng, còn tôi được nhàn.

Lê Hải ( dịch)




6- THƯ HOÀI ( Nhị kỳ)

( kỳ nhất)

Sự vụ như mao bệnh phục nhàn
Càn khôn vạn biến tĩnh trung khan
Song mai kiều bạn thu phong lão
Vô số hoàng hoa ánh dược lan.

( kỳ nhị)

Niên lai thế sự dữ tâm vi
Nhật vọng gia sơn phú thức vi
Thủy quốc thiên hàn kinh tuế mộ
Mộc lan hoa lão vũ phi phi.

Dịch thơ:

NỖI LÒNG

( bài một)

Việc đời tơ rối bệnh nằm nhàn
Thế sự vần xoay gương mắt khan
Đôi gốc mai già bầu bạn gió
Muôn cánh dược lan óng ánh vàng.

( bài hai)

Năm qua thế sự vẫn lánh xa
Ngày buồn diệu vợi ngóng quê nhà
E sợ cuối năm trời giá lạnh
Mưa chan, gió dội gốc lan già.

Lê Hải (dịch)
Lê Hải

Bình Luận của Lê Hải

Cụ Lê Quát, quê làng Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa - nay là xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa. Cụ là con trai thứ hai của Cụ tổ nhà tôi. Cụ Tổ tên Lê Thân ( 1282 - 1367), đậu Bảng nhãn khoa thi Giáp thìn - 1304, đứng sau Mạc Đỉnh Chi ( Trạng Nguyên), làm quan trải 4 đời vua Trần : Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Chức vụ trước khi nghỉ hưu ( 70 tuổi): Nhập nội hành khiển khu mật viện đô kỵ sự - Tể tướng.
Cụ Lê Quát sinh năm 1319, mất năm 1386 ( thọ 67 tuổi). Mẹ của cụ là bà Đặng Thị Lý, quê làng Phủ Lý, Đông Sơn - nay là xã Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa. Cụ Lê Quát đậu Thái học sinh ( tiến sĩ) khoa thi 1340. Trong số 7 bài thơ của cụ còn lại đến giờ ( Lê Hải đã dịch), bài: Tống Phạm công Sư Mạnh Bắc xứ, cụ làm trước khi thi đậu.
Cụ Lê Quát có người con trai là Lê Giốc, cũng đậu Tiến sĩ. Năm 1373, khi giặc Chiêm thành đánh vào Thăng Long, Cụ Lê Giốc đang giữ chức An phủ sứ Thăng Long đem quân chống cự. Không may cụ bị giặc bắt được. Giặc bắt phải lạy, cụ không lạy còn chửi giặc luôn miệng nên bị giặc giết chết. Sau khi vua Trần Nghệ tông lên ngôi truy tặng cụ Lê Giốc tước hiệc: " Mạ trặc trung vũ hầu"...
Hưng Giảng

Bình Luận của Hưng Giảng

Tôi, năm nay đã 73 tuổi, nhớ hồi còn học cấp 1, 2 gì đó, học lịch sử thời chế độ miền Nam, có nói về Hồ Quí Ly, khi thua trận, 2 cha con đến Ải Nam Quan (tên gọi thời xưa, người Việt gọi là Ải Bắc quan mới đúng), quì xin nhà Minh tha tội, để xưng thần, lại có cả ảnh minh họa trong tập sách, rất ấn tượng. Gây cho tôi nỗi căm hận. Xin cao nhân cho ý kiến, có xác thực ko? Theo ý kiến riêng: một người tài giỏi gian hùng, vong quốc, trở thành anh hùng lưu danh cho dân tộc há để làm gương cho hậu thế ư!? Hiện ny tại Tp. Hồ chí Minh, có đường Hồ Quí Ly!
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
ngoclan

Bình Luận của ngoclan

bay gio co lay dan lam goc dau
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
Hồ Quý Cáp

Bình Luận của Hồ Quý Cáp

Gửi Nguyễn Thế Chiến, với trình độ lớp 1 trường làng đọc chữ ko chạy thì bạn nên nhờ người nào có học đọc lại bài viết trên cho bạn nghe nhe. Cám ơn tác giả Nguyễn Xuân Hưng đã kỳ công mang đến cho đọc giả một bài viết rất hay về lịch sủ
nguyen thi cam tu

Bình Luận của nguyen thi cam tu

cac ban oi cho minh y kien nhe. vay tom lai ho quy ly duoc xem la anh hung hay gian hung
ngo panbin

Bình Luận của ngo panbin

Khong nen binh luan danh gia cac nhan vat LSU mot cach thieu cong bang. Troi sinh ra kg ai hoan hao. trong cuoc song ban muon lam viec that hoan hao, nhung co bao gio dc kg ??? vi vay lanh dao mot dat nuoc khi hanh dong trong cong viec, cung nhu trong cuoc song doi thuong,co gi do kg hoan toan tot dep,co gi do khiem khuyet, ta cung nen luong thu ma bo qua cho ho, mien sao cai sai kg qua tram trong,cai lam duoc cho dantoc datnuoc de den hom nay chung ta va lich su thay dung dan co ich la qua tot va can ton vinh cong lao do, Cac ban co khi nao lam lanhdao va dung truoc ap luc that su lon chua ??? khi do kho tam lam ban oi !!!
Vay nen toi khuyen cac ban can co tam long bao dung hon voi nhung ai da lam tot, co loi cho datnuoc va dantoc vietnam, Du ho khac ching kien khac quan diem chinh tri voi ban, nhung chung ta la mot me auco sinh tram trung, va bo coi viet nam neu co mat vao tay ke nuoc ngoai ban chac se that su dau long. Con ben CSan hay QGia thi suy cho cung chua phai qua toi te, truoc het la cham dut chien tranh som di doi voi dong nghia su giet choc nhau giua nguoi vnam voi nhau kg con,dat nuoc ven toan mot moi, dan bot lam than kho cuc,Phia ban va phia toi, tat ca la conrongchautien,
Toi kg quan trong cai ten, CN CSan, CN MACLENIN hay chu nghia nao nao di nua, nhung dem lai dieu tot cho dongbao datnuoc vnam la dc, CN nao cung vay neu kg dclongdan, ban kg can thucday kg can dautranh ma tu no cung sup do va dongbao trong nuoc se lam viec do,
Phan Văn Hoàng

Bình Luận của Phan Văn Hoàng

Xin góp hai ý :
1- Tên tờ báo là NÔNG CỔ MÍN ĐÀM (nghĩa : uống trà nói chuyên làm nông và buôn bán). Không phải MÍM ĐÀM.
MÍNH là trà non. Cụ Huỳnh Thúc Kháng có bút hiệu MÍNH VIÊN (vườn trà non)
Người Nam Bộ phát âm -IN thành -INH, nên viết MÍNH thành MÍN.
2- Người ĐỒNG BANG là người cùng chung một nước.
Do người Nam Bộ phát âm lẫn lộn -AN và -ANG nén viết sai đồng BANG thành đồng BAN.
PVH
Bút Ký

 (Bài 3) Vì sao Kim Dung trở thành một nhà văn vĩ đại, chỉ nhờ vào những chuyện chưởng tưởng như vô thưởng vô phạt. Đó là vì ông ta miêu tả thực chất nhất xã hội và con người Trung Quốc. Một xã hội điên đảo, cuối cùng chỉ có võ công kiệt xuất mới chiếm được quyền tự do làm người. Một xã hội mà con người không biết thực giả thế nào. 


 (Bài 2) Ông Trần Đình Hiến nói: Trung Quốc hiện nay có phương châm “8 chữ” chắc nhiều người không biết. Đó là “Nam dụ, bắc bình, đông lấn, tây an”. Việt Nam lọt vào khu vực vừa “nam dụ”, vừa “đông lấn”.


 (Bài 1) Ông Trần Đình Hiến và Hà Phạm Phú quá nổi tiếng, hai nhà văn am hiểu Trung Quốc rất sâu sắc. Tôi ghi lại các ý kiến trao đổi theo cảm nhận cá nhân mình. (Trước kia có post 2 bài, nay post lại toàn bộ 7 bài)

Nếu theo dõi cái Nho giáo Trung Hoa, thì thấy nó đi liền với tư tưởng Đại Hán. Chính nó góp phần quan trọng cho việc hình thành nền văn hóa Hán. Nếu nghiên cứu Khổng tử mà không có phản biện, thì vô tình đi vào con đường xuất khẩu tư tưởng Đại Hán một cách tinh vi.


Đoản khúc Dương Kinh bi tráng (14/08/2012 | 03:27:00)

 Bút ký về Dương Kinh và triều nhà Mạc, đăng báo Văn Nghệ cuối tháng 7/2012. Tuy nhiên do quá dài mà Tòa soạn cắt mất một số chỗ. Những đoạn chữ đỏ là đoạn đã bị Tòa soạn cắt, bây giờ lấy lại.

..."Tôi viết một khúc về Dương Kinh bi tráng, nén nhang tưởng nhớ một thời đại đã tàn. Dù sao mặc lòng, các vua Mạc hay vua Lê, vua Nguyễn… họ đã làm nên đất nước. Đương thời các cụ coi nhau là chính là ngụy, nhưng các cụ làm nên lịch sử đất nước, thì con cháu nên tôn thờ các cụ như nhau, công bằng nhìn nhận lịch sử và học bài học của các cụ để canh tân đất nước hôm nay...


Biển thì thầm (27/10/2011 | 10:06:00)

...Nhưng liệu có phải tất cả chúng ta đều nghe thấy tiếng thầm thì của biển kể câu chuyện của nó từ muôn đời trước, đến ngày nay và sẽ đến muôn đời sau nữa. Trong câu chuyện phong hoá từ khai thiên lập địa, có những cổ tích mới một ngàn năm từ thời Đinh Lê, thời Nguyên Phong hay Trùng Hưng, một trăm năm hay năm mươi năm của đoàn tàu không số. Những chuyện một đời người còn nghe thấy từ nhân chứng sống...

(Viết cho báo ông Đào Quang Thép, 10/2011)


Như vậy, người Việt Nam hoàn toàn có quyền và tự hào rằng, thuỷ tổ của chúng ta khởi phát từ Lĩnh Nam, ngày nay nằm trong lãnh thổ Trung Quốc, qua biến chuyển của thời gian dằng dặc mấy nghìn năm, chúng ta vẫn giữ được bản sắc Việt và là dân tộc duy nhất trong đại gia đình Bách Việt không bị Hán hoá. Chúng ta không có tham vọng đòi lại lãnh thổ của tổ tiên, nhưng chúng ta ghi nhớ rằng, Nam Ngũ Lĩnh thời xa xưa trong truyền thuýết và Lưỡng Quảng “gần đây” theo lịch sử thành văn, vốn là một phần lãnh thổ của người Việt chúng ta.


 Tôi cho rằng, nguyên nhân sâu xa của tình hình học sinh không muốn học lịch sử, hay học sử phổ thông yếu kém, là do cách dạy sử. Cách dạy sử này do hai yếu tố rất quan trọng là kiến thức của người thày và giáo trình lịch sử. Hai thực ra là một, đó phải chỉ thẳng ra rằng, khoa học lịch sử ở nước ta đang bế tắc.


Viên Chăn -thời gian hai chiều (15/06/2011 | 01:20:00)

Nước Lào vào mùa mưa… Nước trên trời rơi xuống được coi như điềm lành đối với người Lào. Sau nhiều tháng mùa khô, cây cỏ bắt đầu tái sinh, vạn vật tươi mới. Tết trồng cây của Lào bắt đầu vào ngày đầu tháng sáu. Dịp này, người Lào cũng có tục kiêng đánh cá, vì vào mùa cá đẻ trứng.


Cha, con và đất nước... (21/03/2011 | 03:56:00)
(Bút ký tặng quê hương tôi- Đã đăng báo Văn Nghệ) Không ở đâu trên đất nước như miền Đông Bắc, di tích về thời đại nhà Trần dày đặc, chiều sâu tâm linh Việt được gìn giữ lưu truyền hầu như nguyên vẹn. Dường như ký ức dân tộc qua bảy trăm năm vẫn còn như tươi mới trên dải đất miền duyên hải này. Một vùng non nước quy tụ quanh hai đỉnh cao thắng địa là Yên Tử và Yên Phụ đã là mảnh đất hùng phát của họ Đông A, làm cho dân tộc quật khởi, chung đúc nên khí phách, cũng là mảnh đất đau thương chiến địa chống ngoại xâm và nội loạn khi vương triều tàn lụi.

Gần đây, việc làm phim lịch sử bắt đầu ồn ào, mới thấy tất cả chúng ta đều thiếu hiểu biết về lịch sử dân tộc. Thiếu do chính điều kiện khách quan của lịch sử, các văn vật bị tàn phá, thiếu do chính chúng ta tự làm ngu nhau, đập phá di sản của cha ông, không giáo dục truyền thống văn hoá một cách căn cơ. Thiếu chính cái mà cha ông ta đã hành xử nhiều thế hệ, đó là cái tinh thần Việt bất khuất, ứng xử linh hoạt, “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.


Phim truyện lịch sử- Vì sao? (19/09/2010 | 10:33:00)

Bộ phim “Thái tổ Lý Công Uẩn- đường tới Thăng Long” của Công ty Trường Thành vừa ra đời, lập tức đã có nhiều tranh cãi gay gắt. Là một nhà làm phim, tôi đã xem xét rất kỹ nhiều ý kiến đăng tải trên các báo, website, blog về vấn đề này, quả thật buồn nhiều hơn vui. Chê hay khen, ủng hộ hay công kích, không bằng chia sẻ chân thực những ý nghĩ và việc làm của chính mình, của đơn vị tôi phụ trách là Hãng phim Hội Nhà văn, một Hãng phim có kinh nghiệm hợp tác làm phim với Trung Quốc.


(Sau mấy bài quá nghiêm túc, tôi xin cung hiến 1 vài câu chuyện vui để các bạn thư giãn)

Một người thợ săn rất giỏi đã tàn sát hầu như tất cả loài cáo trên trái đất. Cho đến khi chỉ còn một đôi cáo còn rất trẻ sót lại. Con cáo đực nhát trốn trong rừng, còn con cáo cái quyết tâm báo thù.

Cáo theo dõi người thợ săn, nhưng dường như càng theo dõi thì càng không hiểu anh thợ săn nên chưa dám xuất chiêu và thận trọng tính toán. Nó bèn rình ở bến nước, nơi vợ của người thợ săn vẫn thường đến tắm táp, giặt rũ. Một hôm, cáo xông đến chồm lên, vồ lấy cô vợ anh thợ săn. Cô vợ quay đầu bỏ chạy. Cáo chỉ vồ được sau gáy, tóc cô ta lại dày, nên cáo không làm gì được, mà cô này lại nhất định không quay mặt lại để cáo ngoạm.


Ai đẹp hơn ai? (26/08/2010 | 08:37:00)

Câu chuyện sau đây viết trong sách “Chiến quốc sách”, cổ văn Trung Quốc.

Tướng quốc nước Tề là Trâu Kị là người đàn ông uy dũng, khôi ngô, nhưng cũng không đẹp trai được như Từ Công, người đàn ông đẹp nổi tiếng nước Tề. Nhưng khi Trâu Kị hỏi: “Ta và Từ Công, ai đẹp hơn ai?” thì vợ cả, vợ lẽ của Trâu Kị đều nói, đương nhiên là Trâu Kị đẹp hơn. Lại có người khách đến nhà, Trâu Kị cũng hỏi ông khách câu hỏi ấy, ông khách cũng nói, Trâu Kị đẹp hơn.  (Theo Hải quan Chủ nhật)


Đoàn làm phim “Vượt qua bến Thượng Hải” đến Hoành Điếm, lập tức được dẫn đến Công viên Minh –Thanh, một trường quay cung đình chuyên làm phim về thời kỳ Minh –Thanh của Trung Quốc. Từ xa cách khoảng 2km đã nhìn thấy mái cong lô xô kiểu cung đình. Cao vượt lên là 4 “lầu quan sát” ở 4 góc Trường quay. Toàn bộ diện tích 30 ha được bao bởi tường thành thời trung cổ. Trong đó, đoạn thành cổng hậu hoá ra lại chính là một khách sạn dành cho các đoàn làm phim. Bên ngoài chỉ nhìn thấy các cửa sổ như lỗ châu mai, nhưng thực ra là những cửa sổ của hành lang khách sạn. Toàn bộ khu vực chỉ được ra vào bằng cổng chính, có người gác.

Kinh Môn nơi đâu? (03/07/2010 | 10:43:00)
Kinh Môn ngày nay là một huyện của tỉnh Hải Dương, một huyện tương đối đặc biệt so với các huyện khác của tỉnh vốn được mệnh danh là tỉnh nông nghiệp. Một dãy núi đất trong hệ thống núi vòng cung Đông Triều...

Hải phòng trong lòng tôi (09/07/2010 | 08:45:00)
Lịch sử Hải Phòng nếu lần ngược về trước mấy trăm năm cũng đều nhất quán là vùng đất năng động, luôn luôn đi đầu với những biến cố đổi mới lay trời chuyển đất. Thời Trần, hầu hết lãnh thổ Hải Phòng lệ vào phủ Kinh Môn, dân cư thưa thớt. Cho đến cuối thế kỷ 19, miền đất duyên hải này là sào huyệt lý tưởng của những cuộc dấy binh chống đối. Vô cớ gì Dương Kinh của nhà Mạc ở đây, rồi căn cứ của Nguyễn Hữu Cầu ở Đồ Sơn…